2022 - Q1 | NHỮNG NGÀY SAU RỐT: SỨ ĐIỆP SÁCH HÊ-BƠ-RƠ

Bài Học 13, 19 — 25 Tháng 3, 2022

Hằng Có Tình Yêu Thương Anh Em

CÂU GỐC: “Hãy hằng có tình yêu thương anh em” (Hê-bơ-rơ 13:1).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 13, Rô-ma 12:13, Ê-phê-sô 5:3–5, 1 Phi-e-rơ 5:1–4, Hê-bơ-rơ 2:9, Hê-bơ-rơ 4:16, Ga-la-ti 2:20.

Hê-bơ-rơ 13 trình bày lời khuyên cuối cùng của sứ đồ: “Hãy hằng có tình yêu thương anh em” (Hê-bơ-rơ 13:1). Ông đã khẳng định trong toàn thư rằng chúng ta là cùng gia đình của Vua — Thầy Tế lễ Thượng phẩm là Đức Chúa Giê-su, và các anh chị em của Ngài. Tác giả không quan niệm khán giả chỉ là một nhóm các cá nhân hoạt động vì sự cứu rỗi của họ trong mối quan hệ một đối một với Đức Chúa Giê-su, mà là một gia đình, hoặc một đại gia đình, cùng nhau được cứu. Phao-lô đã mô tả công việc của Chúa đối với chúng ta là “tình yêu thương anh em”: Ngài “không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em” (Hê-bơ-rơ 2:11). Vì vậy, các tín hữu nên làm cho nhau những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho họ.

Qua toàn bức thư, tình yêu thương anh em bao gồm việc “khuyên bảo nhau” để không ai thiếu ân điển của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 3:13; 10:24, 25; 12:15–17). Trong đoạn 13, nó liên quan đến nhiều yếu tố: lòng hiếu khách (câu 2), thăm viếng và hỗ trợ những người trong vòng tù tội và những người bị ngược đãi (câu 3), tôn trọng hôn nhân (câu 4), tránh tham lam (câu 5, 6), nhớ đến cũng như vâng lời các người lãnh đạo hội thánh (câu 7–17), và cầu nguyện cho chính tác giả (câu 18, 19).

Đọc Hê-bơ-rơ 13:1, 2; Rô-ma 12:13; 1 Ti-mô-thê 3:2; Tít 1:8; và 1 Phi-e-rơ 4:9. Vai trò của lòng hiếu khách trong hội thánh thuở ban đầu là gì?

Lúc ban đầu, Cơ Đốc giáo hoạt động bằng những sinh hoạt di chuyển thường trực, vì thế phải nhờ vào sự tiếp đãi và lòng hiếu khách của cả người theo đạo Chúa lẫn người ngoại đạo. Lời căn dặn “chớ quên” bày tỏ lòng hiếu khách có lẽ không chỉ đơn giản là nói đến việc không để tâm đến việc tiếp đãi một người nào đó mà là do cố tình làm ngơ.

Phao-lô không nghĩ đến lòng hiếu khách chỉ dành cho anh em đồng đạo. Ông nhắc nhở độc giả của mình rằng bằng cách tiếp đãi những người lạ, mà có thể đấy họ đã vô tình tiếp đãi các thiên sứ (Hê-bơ-rơ 13:2). Ông có lẽ đã nhớ đến chuyến viếng thăm của ba người nam đến Áp-ra-ham và Sa-ra (Sáng thế Ký 18:2–15). Bày tỏ lòng hiếu khách ngụ ý chia xẻ những gì mình có với người khác và chia buồn sự đau khổ với người khác, đó là những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:10–18).

Tình yêu huynh đệ đối với những người trong tù không chỉ ngụ ý rằng các tín đồ ghi nhớ những người bị tù tội trong lời cầu nguyện của mình mà còn bằng cách giúp đỡ bằng hỗ trợ vật chất và tinh thần. Lúc ấy, trong vòng tín hữu có vấn đề về việc cố ý bỏ mặc các tù nhân. Một người, khi cung cấp vật chất và hỗ trợ tinh thần cho những người bị xã hội lên án thường bị xem là người ấy đã xác định họ cùng một bè với tù nhân. Và trong xã hội thời ấy, những người trợ giúp đã tự làm mình bị xã hội khinh bỉ, xem thường (Hê-bơ-rơ 10:32–34).

Lời khuyên của Phao-lô bằng hình ảnh và ngôn ngữ để khuyến khích người đọc về việc nhớ đến các người đang trong vòng tù tội. Đầu tiên, tác giả nhắc lại sự ủng hộ của chính độc giả đã đối với những người anh em bị giam giữ của họ trong quá khứ. Ông dùng chữ “đồng một cách” (hay bạn đồng thuyền) để nói họ đã từng “phần thì chịu sỉ nhục, gặp gian nan, như làm trò cho thiên hạ xem, phần thì chia khổ với những kẻ bị đối đãi đồng một cách” (Hê-bơ-rơ 10:33). Kế đến, Phao-lô dùng chữ “chịu hà hiếp” bằng cách nhắc lại gương của Môi-se, người đã chọn “đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi” (Hê-bơ-rô 11:25). Cuối cùng, Phao-lô nắm bắt được lý tưởng của tình yêu anh em. Ông nhắc nhở độc giả rằng “cũng có thân thể giống như họ” (Hê-bơ-rơ 13:3). Họ cũng cùng có bản chất con người, và họ nên đối xử với những người khác như cách họ muốn được đối xử nếu họ ở cùng hoàn cảnh; nghĩa là, trong tù. Do đó, mọi người nên hỗ trợ vật chất và tinh thần cho các tù nhân, cho họ thấy rằng họ không bị bỏ rơi.

Chúng ta có thể làm gì hơn nữa cho những người đang ở trong tù, dù họ là tín đồ của hội thánh hay không?

Đọc Hê-bơ-rơ 13:4, 5; Lu-ca 16:10–18; 1 Cô-rinh-tô 5:1; Ê-phê-sô 5:3–5; và Cô-lô-se 3:5. Hai tệ nạn nào có liên quan trong những đoạn văn này?

Phao-lô cảnh báo độc giả chống lại sự vô luân và lòng tham vì chúng là hai mối đe dọa nghiêm trọng đối với tình yêu anh em. Trên thực tế, các tác giả Tân Ước và các nhà luân lý học cổ đại đã ghi nhận mối liên hệ giữa hai điều này.

Lời kêu gọi tôn trọng hôn nhân của Phao-lô ngụ ý tránh bất cứ điều gì có thể hạ thấp và xem thường hôn nhân. Sự tránh né này bao gồm việc tránh cả việc vi phạm lời thề hôn phối và việc ly hôn không chính đáng (so sánh với Ma-thi-ơ 19:9). Lời khuyên để giữ cho chốn khuê phòng của hôn nhân không bị ô uế là đề cập đến việc tránh xúc phạm hôn nhân bằng các mối quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Danh từ “kẻ gian dâm” hay “kẻ dâm dục” trong Tân Ước dùng để chỉ mọi hình thức đồi bại tình dục (1 Cô-rinh-tô 5:9–11; 1 Cô-rinh-tô 6:9, 10; Ê-phê-sô 5:5; 1 Ti-mô-thê 1:9, 10; Khải huyền 21:8; Khải huyền 22:15). Ngoài ra, xã hội Hy Lạp – La Mã rất lỏng lẻo trong vấn đề đạo đức tình dục. Xã hội thời ấy có một tiêu chuẩn kép rất phổ biến; tiêu chuẩn ấy cho phép nam giới được quyền có mọi quan hệ tình dục miễn là họ kín đáo. Tuy nhiên, Phao-lô cảnh báo rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét những kẻ ngoại tình. Các tín đồ không nên để các quy ước xã hội thiết lập các tiêu chuẩn đạo đức của riêng mình.

“Yêu tiền” là một trong những loại tệ nạn chính trong thế giới Hy Lạp – La Mã. Trên thực tế, trong một lá thư khác, Phao-lô gọi “tham tiền” là nguồn gốc của mọi tệ nạn (1 Ti-mô-thê 6:10).

Việc chống lại tội này là một thái độ mà Phao-lô khuyến khích tín hữu trong một số các thư ông viết. Trước hết, họ nên “bằng lòng” với những gì họ có (2 Cô-rinh-tô 9:8; Phi-líp 4:11, 12). Hơn nữa, Cơ Đốc nhân nên tin và chấp nhận lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Đức Chúa Trời sẽ “chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu” (Hê-bơ-rơ 13:5). Lời hứa này đã được ban cho dân sự của Ngài tại nhiều nơi khác nhau, vào những lúc khác nhau, và vẫn còn cho chúng ta ngày nay (Sáng thế Ký 28:15; Phục truyền 31:6, 8; Giô-suê 1:5; 1 Sử ký 28:20). Những người tin Chúa được mời đáp lại lời hứa của Đức Chúa Trời bằng những lời trong Thi Thiên 118:6, “Đức Giê-hô-va bênh vực tôi, tôi chẳng sợ; Loài người sẽ làm chi tôi?” Câu nói này của Thi thiên 118 thật thích hợp vì tác giả Thi thiên đã bày tỏ trong đoạn ấy sự tin tưởng của mình nơi Đức Chúa Trời, bất chấp những đau khổ do những người không tin Chúa gây ra.

Những cách mà xã hội đương đại làm suy yếu sự thuần khiết về tình dục và đồng thời nuôi sống lòng yêu tiền của con người là gì? Bằng những cách thực tế nào, chúng ta có thể củng cố khả năng phòng thủ của mình chống lại hai tệ nạn nguy hiểm này?

Đọc Hê-bơ-rơ 13:7–17. Mối quan hệ của chúng ta với các lãnh đạo hay người dẫn dắt của chúng ta nên như thế nào?

Hê-bơ-rơ 13:7–17 chứa đựng lời khuyên hãy tôn trọng và vâng lời những người lãnh đạo hội thánh. Nó bắt đầu với một lời mời gọi “hãy nhớ đến” những người lãnh đạo trong quá khứ đã nói lời của Đức Chúa Trời với họ, và nó kết thúc bằng một lời kêu gọi “vâng lời” những người dẫn dắt trong hiện tại (Hê-bơ-rơ 13:17). Những người lãnh đạo trong quá khứ rất có thể là những người đầu tiên rao giảng lời này và thành lập hội thánh. Lời kêu gọi “hãy nhớ” họ không chỉ đơn giản đề cập đến việc kể lại kỷ niệm, ký ức hay cũng như sự vinh danh bề ngoài cho họ. Phao-lô giải thích rằng họ phải “nhớ” các người lãnh đạo bằng cách xem xét kết quả của hành vi và bắt chước đức tin của họ.

Đối với Phao-lô, hành động tưởng nhớ và khen ngợi lớn nhất là bắt chước. Bằng cách này, Phao-lô đã thêm những người lãnh đạo sáng lập hội thánh vào danh sách những anh hùng trung thành mà các tín đồ nên cẩn thận xem xét. Danh sách này bao gồm những anh hùng đức tin trong Hê-bơ-rơ 11, và Đức Chúa Giê-su, tấm gương đức tin tuyệt vời, trong Hê-bơ-rơ 12. Tác giả lưu ý thêm rằng Đức Chúa Giê-su “hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi” (Hê-bơ-rơ 13:8). Ông cho thấy sự trái ngược rõ ràng của các giáo sư giảng đạo lạ, đạo giả, là những người thay đổi theo thời gian và những lời giảng dạy của họ trở nên “khác biệt” và “kỳ lạ” (Hê-bơ-rơ 13:9).

Lời kêu gọi ghi nhớ những người lãnh đạo trong Hê-bơ-rơ 13:7 được trình bày lại bằng những thuật ngữ mạnh mẽ hơn ở phần cuối. Các tín đồ được khuyến khích vâng lời các nhà lãnh đạo, vì đó là những người được giao phó trông nom linh hồn của họ. Ở đây, những người lãnh đạo được mô tả là những mục sư chịu trách nhiệm về tình trạng thuộc linh của hội thánh, của bầy chiên họ, và là người sẽ trình báo với Đức Chúa Trời về tình trạng thuộc linh của tín đồ họ (xin xem thêm 1 Phi-e-rơ 5:1–4, 1 Cô-rinh-tô 3:10–15). Chắc chắn, ý tưởng này cũng nên áp dụng cho tất cả những người lãnh đạo hội thánh của chúng ta, cũng như cho tất cả các cấp của toàn giáo hội chúng ta ngày nay.

Những lời này được viết trong bối cảnh gợi ý rằng những người lãnh đạo này là những người chăn dắt phục vụ dưới quyền Đức Chúa Giê-su, “Đấng chăn chiên vĩ đại” (Hê-bơ-rơ 13:20). Sự kết hợp giữa lòng quan tâm và sự trung tín từ những người lãnh đạo và sự vâng lời hoặc tin tưởng từ các thuộc viên sẽ mang lại niềm vui. Điều này có thể có nghĩa là những người lãnh đạo sẽ có thể phục vụ hội thánh với “lòng vui mừng”, hoặc họ sẽ tường trình về hội thánh với Đức Chúa Trời một cách vui mừng chứ không phải đau buồn.

Bạn có thể làm gì để củng cố hoặc cải thiện mối quan hệ giữa lãnh đạo với thuộc viên trong hội thánh của mình, cũng như với các nhà lãnh đạo trên khắp thế giới?

So sánh Hê-bơ-rơ 13:9; Hê-bơ-rơ 2:9; Hê-bơ-rơ 4:16; và Hê-bơ-rơ 6:19, 20. Ân điển có được ở đâu? Làm thế nào tấm lòng chúng ta được vững vàng?

Hê-bơ-rơ 13:9 đề cập đến sự dạy dỗ sai lầm và đồ ăn. Sự liên quan giữa hai điều này có lẽ không phải là nói về sự phân biệt giữa đồ ăn thanh sạch và đồ ăn không thanh sạch. Tại sao?

Thứ nhất, trong thư này, Phao-lô dường như không quan tâm đến sự phân biệt giữa đồ ăn thanh sạch và đồ ăn ô uế. Chúng ta biết là từ Công vụ 15, hội thánh Chúa lúc ban đầu khẳng định rằng những người tin Chúa được cứu bởi ân điển (Công vụ 15:7–11) và họ nên tiếp tục tuân theo một số quy định về thức ăn (Công vụ 15:19, 20). Sự phân biệt giữa đồ ăn thanh sạch và đồ ăn không thanh sạch và các quy định khác trong Kinh Thánh không phải là trái ngược với ân điển. Trên thực tế, Phao-lô lập luận rằng giao ước mới đã đặt luật pháp vào trong lòng (Hê-bơ-rơ 8:10–12). Tuy nhiên, điều mà tác giả làm rất rõ ràng là việc hy sinh con vật và sự trung gian của thầy tế lễ Lê-vi trong đền thánh đã được thay thế bằng sự hy sinh cao siêu và chức tế lễ trung gian của Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 8:4, 5; Hê-bơ-rơ 10:1–18).

Thứ hai, bối cảnh các lời này gợi ý rằng Phao-lô đang chỉ trích khán giả rằng không phải việc họ kiêng một số loại đồ ăn mà là việc họ tham gia ăn chúng với hy vọng rằng qua việc ấy họ nhận được ân điển bởi công đức của họ (Hê-bơ-rơ 13:9). Có lẽ ông đang cảnh cáo họ không nên tham gia vào các bữa ăn nghi lễ hoặc hủ lậu của người Do Thái vốn được cử hành như một cách xem việc dâng con vật sinh tế trong đền thờ mà được họ cho là mang lại lợi ích thuộc linh hoặc ân điển. Nhưng ân điển không có bởi sự trung gian qua những bữa ăn này; ân điển chỉ đến qua sự hy sinh và vai trò tế lễ trung gian của Đức Chúa Giê-su Christ mà thôi. Những người tin Chúa “có một bàn thờ” (Hê-bơ-rơ 13:10), ấy là thập tự giá của Đấng Christ, mà từ đó họ có thể ăn (Giăng 6:47–58).

Trong thư Hê-bơ-rơ, “ân điển” đến từ ngai của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 4:16). Ân điển này, qua trung gian của Đấng Christ, là “cái neo”, “chắc chắn và vững vàng”, được gắn chặt vào chính ngai Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 6:19, 20; so sánh với 4:16). Chính ân điển này mà chúng ta nhận được qua sự hy sinh của Đấng Christ, là ân điển mang lại sự ổn định và bảo đảm cho tâm hồn chúng ta. Khi tấm lòng đã được “thiết lập” theo cách này, nó sẽ không bị các học thuyết mới “dỗ dành mình” (Hê-bơ-rơ 13:9), cũng như không “trôi lạc” khỏi Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 2:1).

Hãy suy gẫm về sự hy sinh hoàn toàn của Đấng Christ. Vậy tại sao ý tưởng về bất cứ điều gì chúng ta làm sẽ “thêm” vào sự hy sinh này lại trái với phúc âm và ân điển được tìm thấy trong Đức Chúa Giê-su?

So sánh Hê-bơ-rơ 13:10–14, Mác 8:34, Ma-thi-ơ 10:38, Lu-ca 14:27 và Ga-la-ti 2:20. Đến gặp Đức Chúa Giê-su bên ngoài trại quân có nghĩa là gì?

Nơi ngoài cổng của trại quân là nơi ô uế nhất của cả trại. Xác của những con vật hiến tế được đốt ở đó (Lê-vi Ký 4:12). Những người phung cùi cũng bị loại khỏi trại (Lê-vi Ký 13:46) và những kẻ phạm thượng và những tội phạm khác bị xử tử ở đó (Lê-vi Ký 24:10–16, 23; 1 Các Vua 21:13; Công vụ 7:58). Những quy định này cho rằng sự hiện diện của Đức Chúa Trời là ở bên trong trại. Bất cứ thứ gì không tinh khiết đều bị ném ra bên ngoài bởi vì Đức Chúa Trời không muốn nhìn thấy bất kỳ điều gì “không thanh sạch” hoặc “ô uế” hoặc “không đứng đắn” trong trại quân (Dân số Ký 5:3, Phục truyền 23:14).

Chúa Giê-su chịu đau khổ trên thập tự giá bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem (Giăng 19:17–20). Điều này nhấn mạnh sự xấu hổ đã giáng xuống Ngài (Hê-bơ-rơ 12:2). Ngài chính thức bị kết án là người đã “phạm đến Danh”, do đó, bị Y-sơ-ra-ên từ chối và xử tử bên ngoài tường thành (Mác 14:63, 64; xem Lê-vi Ký 24:11, 16). Đức Chúa Giê-su đã bị đuổi ra ngoài trại như một thứ “đáng bị sỉ nhục”, “không thanh sạch” hay “ô uế” (Hê-bơ-rơ 12:2). Tuy nhiên, Phao-lô khuyên các tín đồ đi theo Chúa Giê-su ra bên ngoài cổng trại quân, chịu đựng sự xấu hổ mà Ngài đã chịu đựng (Hê-bơ-rơ 12:2; xem Hê-bơ-rơ 13:13). Đây cũng là con đường mà Môi-se đã đi theo, người đã chọn chịu “sự sỉ nhục của Đấng Christ” thay vì các kho tàng của Ê-díp-tô (Hê-bơ-rơ 11:26).

Tuy nhiên, một điều nghịch lý là thư Hê-bơ-rơ cho rằng sự hiện diện của Đức Chúa Trời hiện đang ở bên ngoài trại. Hành động đi theo Đức Chúa Giê-su bên ngoài trại không chỉ có nghĩa là “đồng chịu điều sỉ nhục” hoặc sự xấu hổ, mà còn là “đi tới cùng Ngài” (Hê-bơ-rơ 13:13) giống như những người Y-sơ-ra-ên “tìm kiếm Chúa” đã đi “ra ngoài trại” trong đồng vắng khi Môi-se dời lều của CHÚA ra khỏi trại sau cuộc xung đột về con bò con vàng (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:7). Câu chuyện này gợi ý rằng việc những người không tin Chúa khước từ Đức Chúa Giê-su chẳng khác chi họ từ chối Đức Chúa Trời, như dân Y-sơ-ra-ên đã làm trong cuộc bội đạo của con bò con vàng (Xuất Ê-díp-tô Ký 32, 33). Như vậy, con đường đau khổ và xấu hổ cũng là con đường dẫn đến Chúa.

Phao-lô mời độc giả noi theo Đức Chúa Giê-su là “cội rễ và cuối cùng của đức tin” của họ (Hê-bơ-rơ 12:2), ngầm mời họ coi những đau khổ hiện tại là kỷ luật tạm thời sẽ mang lại “bông trái công bình và bình an” (Hê-bơ-rơ 12:11). Họ đang bỏ lại phía sau một thành phố hoặc trại hư hỏng để tìm kiếm “thành phố sẽ đến” mà kiến trúc sư của nó là Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 13:14; Hê-bơ-rơ 11:10, 16).

Đi theo Đức Chúa Giê-su “bên ngoài trại” có nghĩa là gì đối với bạn? Những khía cạnh nào của đời sống đức tin nơi Đức Chúa Giê-su có thể mang “sỉ nhục” hoặc “xấu hổ” cho bạn bởi những người chung quanh bạn?

“Sau khi Đức Thánh Linh giáng xuống, . . . [các tín đồ] vui mừng trong sự ngọt ngào của sự thông công cùng các thánh. Họ dịu dàng, ân cần, từ bỏ bản thân, sẵn sàng hy sinh mọi thứ vì lẽ thật. Trong mối tương quan hàng ngày với nhau, họ bày tỏ tình yêu thương mà Đấng Christ đã ban cho họ. Bằng những lời nói và việc làm không ích kỷ, họ nỗ lực để hướng đến tình yêu này trong tấm lòng của nhau . . .

“Nhưng dần dần một sự thay đổi đã đến. Các tín đồ bắt đầu tìm kiếm những khiếm khuyết của nhau. Họ ghi nhớ lỗi lầm của nhau, đưa đến những lời chỉ trích không tử tế, họ đã đánh mất hình ảnh của Đấng Cứu Rỗi và tình yêu của Ngài. Họ trở nên khắt khe hơn đối với các nghi lễ bề ngoài, chú trọn về lý thuyết hơn là việc thực hành đức tin. Khi sốt sắng lên án người khác, họ đã bỏ qua lỗi của chính mình. Họ đã đánh mất tình yêu anh em mà Đấng Christ đã ban cho, và đáng buồn hơn cả là họ vô thức về sự mất mát của mình. Họ không nhận ra rằng hạnh phúc và sự vui mừng đang vụt tắt trong cuộc sống của họ và một khi tấm lòng họ đã đóng chặt đối với tình yêu của Đức Chúa Trời, họ sẽ sớm bước đi trong bóng tối.

“Sứ đồ Giăng, ý thức rằng tình yêu thương anh em đang suy yếu trong hội thánh, đã thúc giục các tín hữu về nhu cầu thường xuyên của tình yêu này. Những bức thư của ông gửi đến hội thánh chứa đầy ý nghĩ này. ‘Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau; vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời. Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương. Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy:Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống. Nầy, sự yêu thương ở tại đây:ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta. Hỡi kẻ rất yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu nhau’ (1 Giăng 4:7–11)” — Ellen G. White, The Acts of the Apostles, trang 547, 548.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Đời sống Cơ Đốc nhân thường được xem là riêng tư của mối tương quan cá nhân giữa Đức Chúa Giê-su và người tin Chúa. Tuy nhiên, đây chỉ là một khía cạnh của đời sống Cơ Đốc nhân. Tại sao điều quan trọng cần nhớ là Đức Chúa Trời đang dẫn dắt chúng ta như một nhóm người? Tôi có trách nhiệm gì với nhóm? Tôi có thể mong đợi điều gì từ nhóm?
  2. Những dấu hiệu nào là tốt nhất cho thấy tình yêu thương anh em bền chặt trong hội thánh là gì? Hãy chuẩn bị để liệt kê những điều nào bạn nghĩ và chia sẻ trong lớp Trường Sa-bát của bạn.
  3. Tình huynh đệ chân chính là gì? Đặc điểm, nguyên nhân và kết quả của nó là gì? Làm thế nào bạn có thể phân biệt nó với tình huynh đệ giả tạo?
Bài Học 12, 12 — 18 Tháng 3, 2022

Tiếp Nhận Vương Quốc Vững Bền

CÂU GỐC: “Như vậy, vì chúng ta có phần trong một nước không hay rúng động, nên hãy cảm ơn, hầu cho lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài” (Hê-bơ-rơ 12:28).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 12:18–29; Xuất Ê-díp-tô Ký 32:32; Đa-ni-ên 7:9, 10, 13–22; A-ghê 2:6–9, 20–22; Thi Thiên 15:5; Thi Thiên 16:8; Hê-bơ-rơ 13:15, 16.

Hê-bơ-rơ 12:18–29, đoạn văn cho tuần này, là cao điểm của thư Hê-bơ-rơ, và nó tóm tắt mối quan tâm chính của nó bằng cách lặp lại ý tưởng mà nó đã bắt đầu: Đức Chúa Trời đã phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, và chúng ta cần phải chú ý cẩn thận (Hê-bơ-rơ 1:1, 2; Hê-bơ-rơ 12:25). Sự mô tả về Đức Chúa Giê-su trong Hê-bơ-rơ 12:22–24 là mẫu mực khẳng định của thư này về Ngài: Đức Chúa Giê-su là Đấng Trung Bảo của giao ước mới, và huyết của Ngài cung cấp sự cứu rỗi cho mọi tín đồ. Chức vụ tế lễ và hoàng thân của Ngài thay mặt chúng ta là một lý do để cho các thiên binh trên trời hoan nghinh chúc tụng. Và cuối cùng, Hê-bơ-rơ 12:25–29 chứa đựng lời khuyên cuối và là cao điểm: Sự phán xét của Đức Chúa Trời sắp đến. Nó sẽ mang đến sự hủy diệt cho kẻ thù của Ngài, nhưng mang sự minh oan và một vương quốc cho dân sự của Ngài (Hê-bơ-rơ 12:28, 29).

Phần kết tái khẳng định tầm quan trọng của những thành tựu của Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá và hướng các tín đồ đến sự viên mãn trong chiến thắng của Đức Chúa Giê-su khi Chúa tái lâm. Phao-lô sử dụng hình ảnh từ Đa-ni-ên 7 để nhắc nhở độc giả rằng Đức Chúa Giê-su đã nhận một vương quốc từ Đức Chúa Trời, Quan Án Tối Cao (Đa-ni-ên 7:9–14), và sẽ chia sẻ vương quốc của Ngài với những kẻ tin Ngài, là “các thánh của đấng Rất Cao” là những kẻ sẽ được hưởng nó đời đời (Đa-ni-ên 7:18).

Đọc Hê-bơ-rơ 12:22–24. Phao-lô mô tả điều gì ở đây?

Hê-bơ-rơ khẳng định rằng chúng ta đã đến Núi Si-ôn và tham dự vào một lễ kỷ niệm lớn. “Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại” (Hê-bơ-rơ 12:22). Chúng ta đã đến bởi niềm tin vào con người của vị đại diện của chúng ta, Đức Chúa Giê-su. Trong buổi đại lễ này, chúng ta thấy có vô số thiên sứ, chính Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su, là trung tâm của cuộc đại lễ. Chúng ta đến với tư cách là một phần của “những con trưởng được ghi tên trong các từng trời” (Hê-bơ-rơ 12:23). Tên của chúng ta được ghi vào sách thiên đàng, nơi liệt kê những người được tuyên xưng của Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:32, Thi thiên 56:8, Đa-i-ên 12:1, Ma-la-chi 3:16, Lu-ca 10:20, Khải huyền 13:8, Khải huyền 17:8).

Chúng ta là “con đầu lòng” bởi vì chúng ta chia sẻ quyền thừa kế xuất sắc nhất của Con đầu lòng, Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 1:6). Vì vậy, chúng ta đến không phải với tư cách khách mà là công dân (so sánh với Phi-líp 3:20). Chúng ta cũng được mô tả là “các linh hồn người nghĩa được vẹn lành,” (Hê-bơ-rơ 12:23). Biểu từ này là một lối nói, mà trong đó một góc của bản chất con người chúng ta đại diện cho toàn bộ. Nó tương tự với thành ngữ “Cha về phần linh hồn” trong Hê-bơ-rơ 12:9, ám chỉ Đức Chúa Trời là Cha của tất cả chúng ta, loài người là giống có bản chất thuộc linh.

Buổi đại lễ kỷ niệm lễ khánh thành quyền cai trị vương quyền, chức vụ tế lễ của Đức Chúa Giê-su và lễ khánh thành giao ước mới. Theo thư Hê-bơ-rơ, Núi Si-ôn là nơi diễn ra tất cả những sự kiện này. Trong Hê-bơ-rơ 1:5–14 ghi lại ba bài ca Thi thiên mô tả sự lên ngôi của Con và có Núi Si-ôn là nơi xảy ra (Thi thiên 2:6, 7; Thi thiên 110:1, 2; Thi thiên 102:21–27).

Núi Si-ôn cũng là nơi Đức Chúa Con được bổ nhiệm làm “thầy tế lễ đời đời” (Hê-bơ-rơ 5:6), một trích dẫn của Thi thiên 110:4. Theo Thi thiên 110, việc bổ nhiệm Con làm thầy tế lễ thượng phẩm cũng xảy ra tại Núi Si-ôn (Thi thiên 110:2). Cuối cùng, thư Hê-bơ-rơ lập luận rằng lễ khánh thành chức tế lễ của Đức Chúa Giê-su cũng đánh dấu sự khánh thành của giao ước mới (Hê-bơ-rơ 7:11–22). Vì vậy, núi Si-ôn cũng là nơi giao ước mới được phê chuẩn. Do đó, Hê-bơ-rơ 12:22–24 mô tả cuộc tụ họp đại lễ xảy ra trên thiên đàng khi Đức Chúa Giê-su về trời.

Có những cách thực tế nào chúng ta ca tụng về thực tại của Đức Chúa Giê-su, về chức vụ tế lễ của Ngài và về Giao ước mới trong đời sống và trong sự thờ phượng của chúng ta? Tại sao khi vui mừng trong lẽ thật này là điều xác tín của chúng ta?

Đọc Hê-bơ-rơ 12:23. Nếu đây là một lễ kỷ niệm, tại sao Đức Chúa Trời lại được mô tả như một quan án? Làm thế nào một quan án có thể là một phần của hoặc một lý do cho một lễ kỷ niệm? Cũng đọc Đa-ni-ên 7:9, 10, 13–22.

Lễ kỷ niệm được mô tả trong Hê-bơ-rơ 12:22–24 ám chỉ đến một sự phán xét trong tương lai. Đức Chúa Trời, quan án, chủ tọa và các sách được mở ra, và kết quả của sự phán xét trong tương lai này từ những gì trong sách ấy là dân sự của Đức Chúa Trời nhận lãnh vương quốc (Hê-bơ-rơ 12:28).

Cảnh này gợi lại cuộc điều tra phán xét vĩ đại trước Sự Giáng Lâm được mô tả trong Đa-ni-ên 7, miêu tả một sự phán xét mà tại đó Đức Chúa Trời, “Đấng Thượng Cổ” (câu 9), ngồi trên một ngai bằng lửa và được bao quanh bởi “muôn muôn” (câu 10) thiên binh. Sách được mở ra, và sự phán xét được quyết định bênh vực cho “các thánh của Đấng Tối Cao”, là những kẻ sau đó đã “thừa hưởng vương quốc” (câu 7:22).

Tương tự, Hê-bơ-rơ 12:22–29 mô tả cảnh phán xét tại Núi Si-ôn, thành Giê-ru-sa-lem trên trời, nơi Đức Chúa Trời, “là quan án của mọi người”, được bao quanh bởi “muôn vàn” thiên sứ. Cảnh này cũng là một cảnh rực lửa hừng (câu 29). Trong cảnh này có các sách mà các thánh được “ghi tên” trong đó (câu 23), ngụ ý một sự phán xét có kết quả tốt đẹp cho các thánh.

Đức Chúa Giê-su là trung tâm của toàn cảnh (24). Ngài được mô tả là Con Người trong Hê-bơ-rơ 2, đấng đã được “đội mão triều vinh hiển tôn trọng” sau khi nếm trải “sự chết” thay thế chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:9). Theo Hê-bơ-rơ 2:10, “con người” (xem Hê-bơ-rơ 2:6) phải chịu đựng để Ngài có thể mang “nhiều con đến sự vinh hiển”; nghĩa là, để các tín đồ cũng có thể được “đăng quang với vinh quang và danh dự”. “Con” hiện đã đưa các tín đồ vào Si-ôn, Giê-ru-sa-lem trên trời, nhờ những lợi ích của giao ước mới (Hê-bơ-rơ 12:22–24), nơi họ được hứa sẽ nhận một vương quốc (Hê-bơ-rơ 12:28).

Vậy thì sự phán xét này thực sự là một tin tốt lành cho những người tin vì đó là sự phán xét có lợi cho họ. Nó minh oan cho họ. Đó là sự phán xét đánh bại kẻ thù của họ, con rồng, kẻ đứng sau những con thú khủng khiếp đã bắt bớ các tín đồ trong quá khứ (Đa-ni-ên 7) và sẽ làm như vậy trong tương lai (Khải huyền 13).

Làm thế nào những gì chúng ta nghiên cứu hôm nay giúp chúng ta hiểu rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời trong các sứ điệp của ba thiên sứ là “tin tốt lành” cho thời điểm này (Khải huyền 14:6, 7; so sánh với Phục truyền Luật lệ Ký 32:36; 1 Sử ký 16:33–35)?

Sau khi mô tả lễ kỷ niệm diễn ra trên thiên đàng, Phao-lô cảnh báo độc giả rằng họ cần chú ý đến tiếng nói của Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời sẽ rung chuyển “còn một lần nữa . . . chẳng những rúng động đất mà thôi, nhưng cũng rúng động trời nữa” (Hê-bơ-rơ 12:26). Phao-lô đang nói rằng mặc dù Đức Chúa Giê-su đã được tôn phong trên thiên đàng, sự cứu rỗi của chúng ta vẫn chưa được hoàn tất. Chúng ta cần phải chú ý vì một sự kiện quan trọng sắp xảy ra.

So sánh A-ghê 2:6–9, 20–22; Thi thiên 96:9, 10; Thi thiên 99:1; và Hê-bơ-rơ 12:26, 27. Mục đích của việc Đức Chúa Trời rung chuyển đất trời là gì? Điều đó có nghĩa gì?

Trong Cựu Ước, sự rung động mặt đất là một hình ảnh thường dùng để biểu hiện sự hiện diện của Đức Chúa Trời, Đấng hiện ra để giải cứu dân sự của Ngài. Khi bà Đê-bô-ra và ông Ba-rác chiến đấu chống lại Si-sê-re, Đức Chúa Trời đã thay mặt họ chiến đấu từ trên trời (Các Quan Xét 5:20). Đây được mô tả là một trận động đất mạnh, làm rung chuyển đất và núi vì sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Các Quan Xét 5:4, 5). Chúng ta thấy cùng một hình ảnh này xuất hiện trong suốt Cựu Ước khi Đức Chúa Trời hiện ra để giải cứu những người bị áp bức (Thi thiên 68:7, 8; 60:2; 77:17, 18). Do đó, một sự rung chuyển báo hiệu sự phán xét của Đức Chúa Trời khi Ngài khẳng định quyền hành của Ngài trên các dân tộc trên trái đất. Các nhà tiên tri đã tiên đoán điều này sẽ xảy ra trong Ngày của Chúa (Ê-sai 13:13; 24:18–23).

Đối với thư Hê-bơ-rơ, “sự rúng động” của trời và đất ám chỉ sự hủy diệt kẻ thù của Đức Chúa Trời. Đây là điều mà Đức Chúa Trời đã hứa khi Đức Chúa Giê-su lên ngôi. Đức Chúa Trời phán với Ngài: “Hãy ngồi bên hữu ta, Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch làm bệ dưới chân ngươi?” (Hê-bơ-rơ 1:13). Do đó, Đức Chúa Giê-su đã đánh bại kẻ thù (Hê-bơ-rơ 2:14–16) và được lên ngôi (Hê-bơ-rơ 1:5–14), nhưng kẻ thù vẫn chưa bị tiêu diệt (Hê-bơ-rơ 10:11–14, 1 Cô-rinh-tô 15:23–25).

Nhưng Chúa sẽ tiêu diệt những kẻ thù này trong tương lai, khi Chúa sẽ rung chuyển đất trời. Khi đó, sự rung động của trời và đất có nghĩa là sự hủy diệt của các quyền lực trên đất đang bức hại dân sự của Đức Chúa Trời và quan trọng hơn là sự hủy diệt của các quyền lực tà ác (Sa-tan và các sứ của hắn), những kẻ đứng đằng sau các quyền lực trên đất và điều khiển chúng.

Tại sao lời hứa rằng một ngày nào đó công lý sẽ được thực hiện, và một ngày nào đó cái ác đã từng tràn ngập trong thế giới của chúng ta sẽ bị tiêu diệt, lại là một lời hứa đầy hy vọng cho tất cả chúng ta, đặc biệt là những người đã phải chịu thống khổ trực tiếp dưới bàn tay của cái ác?

Đức Chúa Trời đã công bố rằng Ngài sẽ “rung chuyển” cả trời và đất, có nghĩa là Ngài sẽ tiêu diệt các dân tộc thù nghịch. Tuy nhiên, có một số điều sẽ không bị lung lay hay bị phá hủy.

So sánh Thi thiên 15:5; 16:8; 21:7; 62:2; 112:6 và Hê-bơ-rơ 12:27. Những điều sẽ không bị lay chuyển là gì?

Nhiều bản dịch mới hơn của Hê-bơ-rơ 12:27 gợi ý rằng sự rung chuyển của trời và đất có nghĩa là chúng sẽ bị loại bỏ và vĩnh viễn biến mất.

Tuy nhiên, Kinh Thánh nói rõ rằng Đức Chúa Trời sẽ tạo ra trời mới và đất mới (Ê-sai 65:17, Khải huyền 21:1–4), và chúng ta sẽ sống lại và có một thân thể mới (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13–17, Phi-líp 3:20) trên địa cầu mới này. Do đó, sự “rung chuyển” bao hàm sự tẩy rửa và cải tạo của tạo vật, không phải là sự loại bỏ hoàn toàn của nó. Những gì ở đây sẽ được tái tạo, và nó sẽ là nơi những người được chuộc sẽ sống.

Tuy nhiên, có một số những điều sẽ không và không thể bị lung lay. Chúng bao gồm những người công chính. Họ sẽ không bị lung lay vì họ tin cậy vào Chúa. Tạo hóa duy trì chúng và bảo đảm sự sống còn của chúng.

Chúng ta cần lưu ý rằng trong thư Hê-bơ-rơ, tính chất lâu dài và ổn định được liên kết với Đức Chúa Giê-su. Hê-bơ-rơ 1:10–12 nói về Ngài: “Hỡi Chúa, ban đầu trước hết Chúa đã dựng nền đất, Và các từng trời cũng là công việc của tay Chúa. Trời đất sẽ hư đi, nhưng Chúa hằng có; Trời đất sẽ cũ đi như cái áo; Ngài sẽ cuốn nó lại như cái áo choàng, Rồi trời đất sẽ biến đổi, Nhưng Chúa vẫn y nguyên, Các năm của Chúa không hề cùng.” Hê-bơ-rơ cũng nói rằng chức tế lễ của Đức Chúa Giê-su vẫn còn mãi mãi (Hê-bơ-rơ 7:3, 24) cũng như cơ nghiệp của người được cứu chuộc (Hê-bơ-rơ 10:34). Trong sự phán xét cuối cùng, những ai giữ vững “trong Đức Chúa Giê-su” sẽ không bị lung lay (Thi thiên 46:5).

Hê-bơ-rơ 12:28 cũng nói rằng chúng ta sẽ nhận được “một nước không hay rúng động”. Đây là ám chỉ đến Đa-ni-ên 7:18, nói rằng các thánh đồ sẽ “được nước làm của mình đời đời.” Đây là vương quốc “sẽ không bao giờ bị hủy diệt” được đề cập trong Đa-ni-ên 2:44. Vương quốc này thuộc về Đức Chúa Con, nhưng Ngài sẽ chia sẻ nó với chúng ta. Khải huyền 20:4 nói rằng chúng ta sẽ cùng Ngài phán xét những quyền lực ma quỷ đã bắt bớ chúng ta (1 Cô-rinh-tô 6:3).

Bạn đứng vững đến đâu khi nói về sự bị lay chuyển? Nếu thấy mình không được hoàn toàn như ý, có những chọn lựa nào bạn có thể làm để được trợ giúp trong lãnh vực quan trọng này? (Xem Ê-phê-sô 4:14.)

Hê-bơ-rơ kết thúc phần này bằng cách chỉ ra rằng điều thích ứng đối với Đức Chúa Trời về tất cả những điều tuyệt vời mà Ngài đã làm cho chúng ta là chúng ta bày tỏ lòng biết ơn bằng cách dâng cho Ngài một sự thờ phượng phải lẽ.

So sánh Hê-bơ-rơ 12:28 và Hê-bơ-rơ 13:15, 16. Làm thế nào để chúng ta dâng lên Đức Chúa Trời một sự thờ phượng xứng đáng được Ngài chấp nhận?

Trong hệ thống giao ước cũ, việc dâng con vật sinh tế là cách con người thể hiện sự ăn năn và biết ơn, nhưng những của lễ hy sinh này chỉ là dấu hiệu của lòng biết ơn và sự ăn năn trong lòng người thờ phượng. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã nói rõ trong Thi Thiên và qua các nhà tiên tri rằng điều thực sự làm Ngài hài lòng không phải là máu của động vật mà là lòng biết ơn, hành động tốt và sự công bình của những kẻ thờ phượng Ngài (Thi Thiên 50:7–23, Ê-sai 1:11–17).

Vì vậy, Phao-lô mời gọi chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời trong đền thánh trên trời bằng cách dâng của lễ hy sinh để ngợi khen, xưng tội, cảm tạ và làm việc lành, đó là sự thờ phượng thật làm Ngài vui lòng. Chúng ta dâng những của lễ này trên đất, nhưng chúng được chấp nhận là đẹp lòng Đức Chúa Trời ở trên trời. Lời khích lệ này bao hàm tất cả những lời kêu gọi mà tác giả đã đưa ra trong toàn bức thư cho việc xưng nhận danh Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 3:1; 4:14; 10:23) và những lời khuyên của Ngài rằng chúng ta hãy tiếp tục làm việc tốt (Hê-bơ-rơ 6:10–12; 13:1, 2, 16).

Lời mời của Phao-lô cho các độc giả mình hãy “lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài” (Hê-bơ-rơ 12:28) ngụ ý rằng giờ đây các tín đồ thực sự là một dân tộc tế lễ đã được hoàn thiện và thánh hóa qua sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 10:10–14, 19–23). Điều này đáp ứng mục đích ban đầu của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên, rằng họ sẽ là một quốc gia tế lễ, qua đó Ngài có thể loan báo tin mừng về sự cứu rỗi cho thế giới (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4–6; 1 Phi-e-rơ 2:9, 10; Khải huyền 1:6; 5:10).

Hê-bơ-rơ 13:1–6 mô tả bằng những chữ dùng rất thực tế về ý nghĩa của việc làm điều tốt và chia sẻ những gì chúng ta có. Nó có nghĩa là bày tỏ tình yêu thương anh em, giống như Đức Chúa Giê-su đã bày tỏ tình yêu thương anh em với chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:11, 12). Nó có nghĩa là có lòng hiếu khách, thăm viếng những người đang trong vòng tù tội hoặc bị ngược đãi (Hê-bơ-rơ 13:3), và từ chối sự tà dâm và tham lam.

Tại sao việc coi việc lành và chia sẻ những gì chúng ta có là một phần của sự thờ phượng Đức Chúa Trời là điều quan trọng? Đồng thời, còn có những cách rất thực tế nào có thể làm hư sự hy sinh thiêng liêng của chúng ta cho Đức Chúa Trời (Ê-sai 1:11–17)?

“Trải qua một ngàn năm, giữa sự phục sinh thứ nhất và thứ nhì, sẽ có sự phán xét kẻ ác. Sứ đồ Phao lô nói về cuộc phán xét này là một biến cố xảy ra sau khi Chúa tái lâm. “Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người” (1 Cô-rinh-tô 4:5). Tiên tri Đa-ni-ên truyền dạy là khi Đấng Thượng cổ đã đến, “sự xét-đoán đã ban cho các thánh của Đấng Rất Cao” (Đa-ni-ên 7:22). Trong thời gian đó, người công bình trị vì như vua và thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Giăng ghi trong Khải huyền, “Tôi thấy những ngai, và những người ngồi trên ngai được quyền xét đoán.” “Song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Đấng Christ, cũng sẽ trị vị với Ngài trong một ngàn năm” (Khải huyền 20:4, 6). Chính trong thời gian đó, như Phao-lô đã dự ngôn rằng “các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian” (1 Cô-rinh-tô 6:2). Cùng với Đấng Christ, họ đoán xét kẻ ác, đem so sánh các hành động của những người này với quyển sách luật, Kinh Thánh, và quyết định từng trường hợp tùy theo công việc làm. Kế đó, kẻ ác phải chịu đau đớn tùy theo việc họ đã làm; và tên của họ được ghi vào sổ sự chết.

Cũng vậy, Sa-tan và các thiên sứ sa ngã phải bị Đấng Christ và dân sự Ngài đoán xét. Phao-lô nói, “Anh em há chẳng biết chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ sao?” (1 Cô-rinh-tô 6:3). Và Giu-đe tuyên bố rằng “còn các thiên sứ không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình, thì Ngài đã dùng giây xích họ trong nơi tối tăm đời đời, cầm giữ lại để chờ sự phán xét của ngày lớn” (Giu-đe 6).” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, quyển 3, trang 584.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Việc các thánh đồ tham gia vào cuộc phán xét kẻ ác (1 Cô-rinh-tô 6:3, Giu-đe 6) cho thấy gì về Đức Chúa Trời và Ngài sẽ minh bạch như thế nào với chúng ta khi cho chúng ta thấy sự tốt lành và công bằng của Ngài trong cách Ngài đối phó với tội lỗi và gian ác?

2. Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 32:32, Thi thiên 56:8, Thi thiên 69:28, Thi thiên 139:16, Ê-sai 4:3, Đa-ni-ên 12:1, Ma-la-chi 3:16, Lu-ca 10:20, Khải huyền 13:8 và Khải huyền 17:8. Đây là những câu đề cập đến sách của Đức Chúa Trời ở trên trời. Những điều gì được ghi lại trong những cuốn sách này? Chẳng hạn, tại sao Đức Chúa Trời lưu giữ hồ sơ về những giọt nước mắt của chúng ta (Thi thiên 56:8)? Nếu Chúa biết mọi thứ, thì mục đích của những cuốn sách hay hồ sơ đó là gì?

3. Theo bạn, tại sao việc thư Hê-bơ-rơ kết thúc các lý lẽ bằng kết nối với những lời hứa của Đa-ni-ên 7 là quan trọng? Tại sao những liên kết này lại quan trọng trong bối cảnh thánh chức của Đức Chúa Giê-su ở trên trời? Đa-ni-ên 7 dạy chúng ta điều gì về sự kết thúc của mọi sự sa đọa và thế trần?

Bài Học 11, 5 — 11 Tháng 3, 2022

Chúa Giê-su, là Cội Rễ và Cuối Cùng Của Đức Tin

CÂU GỐC: “Nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 12:2).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 10:35–39, Rô-ma 1:17, Hê-bơ-rơ 11, Giô-suê 2:9–11, Hê-bơ-rơ 12:1–3.

Hê-bơ-rơ 11 và 12 có lẽ là 2 đoạn được yêu thích nhất của sách này. Chúng so sánh đời sống Cơ Đốc nhân như một cuộc đua mà tất cả chúng ta tham gia và trong đó tất cả những ai trung tín sẽ nhận được phần thưởng. Chúng cũng mô tả vở kịch về sự cứu chuộc như một cuộc chạy đua trong đó những người có đức tin trong quá khứ đã kiên trì, mặc dù phải chịu đựng những đau khổ, nhưng vẫn chưa nhận được phần thưởng.

Và đó là bởi vì câu chuyện sẽ kết thúc với chúng ta, chứ không chỉ với họ. Chúng ta là màn kịch cuối kết thúc vở kịch. Vở kịch lên đến đỉnh điểm khi chúng ta bước vào và chạy phần cuối của cuộc đua, và với việc Đức Chúa Giê-su ngồi ở điểm cuối cùng bên tay phải của Đức Chúa Trời. Ngài cho chúng ta có một niềm phấn khởi và cảm hứng vì Ngài là gương mẫu tối cao cho chúng ta thấy cách cuộc đua được hoàn tất như thế nào. Ngài là chứng nhân tối cao cho thấy phần thưởng là có thật và Ngài là người đi trước mở đường cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 6:19, 20; Hê-bơ-rơ 10:19–23).

Hê-bơ-rơ 11 giải thích rằng đức tin là sự tin tưởng vào những lời hứa của Đức Chúa Trời, ngay cả khi chúng ta chưa thể thấy được. Bài học này sẽ khám phá đức tin là gì và nó có được như thế nào qua các gương trong quá khứ, nhưng đặc biệt và trọng tâm là qua gương của Đức Chúa Giê-su, “là cội rễ và cuối cùng của đức tin” (Hê-bơ-rơ 12:2).

Đọc Hê-bơ-rơ 10:35–39. Đức Chúa Trời đang nói gì với chúng ta trong những câu này?

Bền bỉ là đặc điểm của các con cái Đức Chúa Trời trong thời kỳ cuối cùng. Nếu không có khả năng chịu đựng và bền bỉ, họ sẽ không thể nhận được các lời hứa (Khải huyền 13:10, Khải huyền 14:12). Tuy nhiên, để có thể chịu đựng được, các tín đồ cần phải “giữ vững” đức tin của mình (Hê-bơ-rơ 10:23, Hê-bơ-rơ 4:14). Phao-lô cho thấy thế hệ trong đồng vắng không thể nhận được lời hứa vì họ thiếu đức tin (Hê-bơ-rơ 3:19). Hê-bơ-rơ miêu tả những người tin Chúa cũng đang ở ngưỡng cửa để hoàn tất lời hứa (Hê-bơ-rơ 9:28; Hê-bơ-rơ 10:25, 36–38) và cần phải thực hành đức tin nếu họ muốn nhận được lời hứa (Hê-bơ-rơ 10:39).

Phao-lô giới thiệu sự thể hiện của mình về đức tin với một trích dẫn từ Ha-ba-cúc 2:2–4. Ha-ba-cúc đã hỏi Đức Chúa Trời tại sao Ngài lại dung thứ cho những kẻ bội bạc, những kẻ áp bức người công bình (Ha-ba-cúc 1:12–17). Nhà tiên tri và dân sự của ông đang đau khổ; do đó, họ muốn Chúa hành động. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã trả lời rằng đã có một thời gian nhất định để thực hiện lời hứa của Ngài, và họ cần phải chờ đợi (Ha-ba-cúc 2:2–4). Ha-ba-cúc và dân tộc của ông đã sống, giống như chúng ta, giữa thời điểm lời hứa và thời điểm lời hứa được thực hiện. Thông điệp của Đức Chúa Trời được tiếp tục trong Hê-bơ-rơ, “Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, Thì Đấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu” (Hê-bơ-rơ 10:37; xin xem thêm Ha-ba-cúc 2:3). Sứ điệp này nói về Đức Chúa Giê-su. Ngài là người công chính, là hiện thân của đức tin làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và ban sự sống (Hê-bơ-rơ 10:5–10).

Vậy tại sao Ngài lại “trì hoãn”? Không Ngài không trì hoãn. Ngài đã đến để chết thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 9:15–26), và chắc chắn Ngài sẽ tái lâm vào thời điểm đã định (Hê-bơ-rơ 9:27, 28; Hê-bơ-rơ 10:25).

Thông điệp của Đức Chúa Trời tiếp: “Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống” (Hê-bơ-rơ 10:38). Phao-lô cũng nói cùng tư tưởng ấy trong Rô-ma 1:17 và Ga-la-ti 3:11. Rô-ma 1:16, 17 đặc biệt sáng tỏ vì nó giải thích rằng sự công bình của Đức Chúa Trời “bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa.” Điều Phao-lô muốn nói là sự trung thành của Đức Chúa Trời đối với những lời hứa của Ngài đến trước hết, và kết quả của sự thành tín Ngài tạo ra đức tin và / hoặc sự trung thành của chúng ta.

Như vậy, vì Đức Chúa Trời luôn trung thành với những lời hứa của Ngài (2 Ti-mô-thê 2:13), nên người công bình, đáp lại sự thành tín của Đức Chúa Trời, cũng sẽ trung thành.

Tại sao rất quan trọng chúng ta phải nhận biết rằng đức tin của mình là kết quả và nguồn gốc từ sự thành tín của Đức Chúa Trời? Làm thế nào chúng ta có thể học thêm để tin cậy vào sự thành tín Ngài đối với chúng ta và những lời Ngài đã hứa với chúng ta?

Sách Hê-bơ-rơ định nghĩa đức tin là “sự biết chắc vững vàng vào những đìều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy” (Hê-bơ-rơ 11:1). Rồi nó liệt kê một danh sách những nhân vật của đức tin trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, họ là những người minh chứng cho thấy đức tin là gì, và cách họ thể hiện đức tin đó bằng những việc làm của mình.

Đọc Hê-bơ-rơ 11:1–19. Những “anh hùng” đức tin này đã làm gì để minh chứng cho đức tin của họ? Làm thế nào hành động của họ có liên quan đến niềm hy vọng về những điều họ chưa thấy được?
Áp-ra-ham có lẽ là nhân vật quan trọng nhất trong đoạn Kinh Thánh này. Hành động đức tin cuối cùng của Áp-ra-ham đặc biệt có tính hướng dẫn về bản chất thực sự của đức tin.

Thư Hê-bơ-rơ ghi chú rằng việc Đức Chúa Trời dạy Áp-ra-ham rằng ông phải dâng Y-sác làm của lễ dường như cho thấy sự mâu thuẫn về phần của Ngài (Hê-bơ-rơ 11:17, 18). Y-sác không phải là con trai duy nhất của Áp-ra-ham. Ích-ma-ên mới thật là con đầu lòng của Áp-ra-ham, nhưng Đức Chúa Trời đã phán bảo Áp-ra-ham rằng ông cứ chấp nhận lời yêu cầu của Sa-ra và đuổi Ích-ma-ên cùng mẹ nó đi vì Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc họ, và cũng vì con của Áp-ra-ham sẽ được đặt tên qua Y-sác (Sáng thế Ký 21:12, 13). Tuy nhiên, trong đoạn kế tiếp, Đức Chúa Trời lại yêu cầu Áp-ra-ham dâng Y-sác làm của lễ thiêu. Lệnh truyền của Đức Chúa Trời trong Sáng thế Ký 22 dường như hoàn toàn trái ngược với những lời hứa của Ngài trong Sáng thế Ký đoạn 12 – 21.

Thư Hê-bơ-rơ kết luận rằng Áp-ra-ham đã giải được câu hỏi hóc búa một cách đáng kinh ngạc bằng cách đi đến kết luận rằng Đức Chúa Trời sẽ phục sinh Y-sác sau khi Ngài truyền ông điều này. Điều này thật đáng kinh ngạc vì thời Áp-ra-ham, chưa hề có ai được sống lại. Tuy nhiên, dường như kinh nghiệm trước trong quá khứ mà Áp-ra-ham có với Đức Chúa Trời đã dẫn ông đến kết luận ấy. Hê-bơ-rơ 11:12 ghi chú rằng nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời, Y-sác đã được thụ thai từ một người “già yếu”. Phao-lô cũng lưu ý rằng, mặc dù Áp-ra-ham “già yếu” và Sa-ra son sẻ, nhưng Áp-ra-ham “cậy trông khi chẳng còn lẽ trông cậy, cứ tin, và trở nên cha của nhiều dân tộc” bởi vì ông tin rằng Đức Chúa Trời “ban sự sống cho kẻ chết và gọi những sự không có như sự có rồi” (Rô-ma 4:17–20). Vì vậy, Áp-ra-ham hẳn đã cho rằng nếu Đức Chúa Trời đã ban sự sống cho Y-sác từ cõi chết (tình trạng già nua và son sẻ của vợ chồng ông) thì trong một nghĩa nào đó, Ngài có thể làm điều đó một lần nữa. Trong sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong quá khứ, Áp-ra-ham đã thấy rõ những gì Ngài có thể làm trong tương lai.

Tại sao việc suy ngẫm về cách Đức Chúa Trời đã dẫn dắt cuộc sống của chúng ta trong quá khứ lại rất quan trọng trong việc duy trì đức tin và sự tin cậy của chúng ta vào Ngài bây giờ?

Đọc Hê-bơ-rơ 11:20–28. Những người có đức tin này đã làm gì? Hành động của họ liên quan đến hy vọng và những điều chưa thấy như thế nào?

Môi-se là tấm gương lớn thứ hai trong đoạn Kinh Thánh về đức tin này. Cuộc đời của Môi-se được giới thiệu và kết thúc bằng hai hành động thách thức lại quyền hành của nhà vua. Cha mẹ ông đã giấu Môi-se khi ông được sinh ra, vì “họ không sợ chiếu mạng của nhà vua” (Hê-bơ-rơ 11:23), và Môi-se rời Ai Cập, “không sợ vua giận” (Hê-bơ-rơ 11:27). Tuy nhiên, hành động quan trọng nhất của Môi-se là ông “từ bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn” (Hê-bơ-rơ 11:24). Việc đề cập đến mẹ nuôi của Môi-se là “con gái của Pha-ra-ôn” cho thấy rằng tương lai ông được định sẽ trở thành Pha-ra-ôn nối ngôi tiếp. Tuy nhiên, Môi-se sẵn sàng bỏ lại đằng sau viễn ảnh trở thành người cai trị quốc gia hùng mạnh nhất vào thời điểm đó, và thay vào đó, trở thành thủ lĩnh của những nô lệ mới được giải phóng — đúng ra họ là những kẻ tị nạn.

So sánh Hê-bơ-rơ 11:24–27 và Hê-bơ-rơ 10:32–35. Tình huống của những người mà thư Hê-bơ-rơ được viết cho và kinh nghiệm của Môi-se có gì giống nhau?

Sự vĩ đại của Môi-se là ông có thể nhìn xa hơn những lời hứa của vua Ai Cập và hướng về những điều không thể nhìn thấy, cụ thể là những lời hứa của Đức Chúa Trời. Hê-bơ-rơ nói rằng điều chính yếu tầm nhìn của Môi-se nhắm vào “phần thưởng”, chứ không phải sự giàu có của Ai Cập. Phần thưởng này cũng là phần thưởng được đề cập trong Hê-bơ-rơ 10:35, mà Đức Chúa Trời đã hứa cho tất cả những ai tin Ngài.

Những lời của Phao-lô về quyết định của Môi-se chắc hẳn đã vang vọng mạnh mẽ trong lòng những độc giả đầu tiên của ông. Họ đã phải chịu đựng những lời trách móc và lăng mạ vì đức tin của họ vào Đấng Christ. Họ cũng đã từng đau khổ và mất của cải (Hê-bơ-rơ 10:32–34). Một số ở trong tù (Hê-bơ-rơ 13:3). Song song với các sự ấy, Môi-se cũng chọn bị ngược đãi cùng với dân sự của Đức Chúa Trời, đánh đổi sự giàu có của Ai Cập để chịu sự sỉ nhục tương tự như Đấng Christ vì ông tin rằng phần thưởng của Đấng Christ lớn hơn bất cứ thứ gì Ai Cập có thể cung cấp.

Có những cuộc đấu tranh nào mà bạn đã phải đối mặt vì đức tin của mình? Bạn đã phải từ bỏ điều gì? Cuối cùng, tại sao phần thưởng lại xứng đáng, ngay cả khi bạn không thể nhìn thấy nó lúc này?

Đọc Hê-bơ-rơ 11:31 và Giô-suê 2:9–11. Tại sao Ra-háp, một gái điếm ngoại giáo, lại được đưa vào bản văn các nhân vật thiêng liêng trong Kinh Thánh này?

Ra-háp có lẽ là nhân vật bất ngờ nhất mà chúng ta tìm thấy trong Hê-bơ-rơ 11. Ra-háp là một trong hai người phụ nữ được nhắc tên. Nàng đứng thứ mười trong danh sách, là tổ tiên và tổ phụ đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, và mỗi người đều được xưng là công chính. Khi chúng ta đọc đến tên nàng, chúng ta thấy rằng nàng không chỉ là một phụ nữ mà còn là một gái điếm ngoại bang.

Điều đáng ngạc nhiên nhất là nàng cũng là trung tâm chủ đề và cao điểm của đoạn này. Danh sách các anh hùng đức tin được sắp xếp một cách độc đáo. Mỗi mục bắt đầu bằng việc sử dụng lặp đi lặp lại cụm từ “bởi đức tin”. Mô hình cơ bản là “Bởi đức tin Nhân vật ấy đã làm thế và như vậy” hoặc “Bởi đức tin Nhân vật ấy đã có những điều xảy ra như vậy.” Mô hình lặp đi lặp lại này làm tăng sự mong đợi nơi người đọc để nghe khẳng định cao điểm rằng “bởi đức tin, Giô-suê đã dẫn dân sự đi vào đất hứa.”

Nhưng đó không phải là đoạn này viết. Thay vào đó, Giô-suê bị qua mặt, và cô gái điếm thế chỗ. Sau khi đề cập đến Ra-háp, kiểu lặp lại đột ngột kết thúc với “Ta còn nói chi nữa?” (Hê-bơ-rơ 11:32). Sau đó, Phao-lô vội vàng liệt kê một số tên và sự kiện mà ông không giải thích chi tiết.

Hành động đức tin của Ra-háp là nàng đã nghe, đã tin và đã vâng lời, mặc dù nàng chẳng thấy. Nàng đã không thấy các dịch bệnh giáng xuống xứ Ê-díp-tô, hay sự giải cứu diệu kỳ nơi Biển Đỏ, hay nước phun ra từ vầng đá, hoặc bánh rơi xuống từ trời; Vậy mà nàng đã tin. Nàng là một tấm gương tốt cho khán giả của Hê-bơ-rơ, những người không nghe chính Đức Chúa Giê-su giảng hay thấy tận mắt Ngài làm một phép lạ, và đối với chúng ta, là những kẻ cũng không thấy bất kỳ điều gì trong các điều ấy.

“Ra-háp là một cô gái điếm sống trên tường thành Giê-ri-cô. Nàng đã giấu hai người thám tử của Y-sơ-ra-ên được sai đến thành để dọ thám khả năng phòng thủ của thành ấy. Vì lòng tốt của cô ấy đối với họ, và sự tuyên bố của cô ấy về niềm tin vào Chúa, các thám tử hứa rằng mạng sống của Ra-háp và gia đình nàng sẽ được tha khi cuộc tấn công xảy ra vào Giê-ri-cô.” — theo Lời giới thiệu về Ra-háp trong Daughters of God, trang 35.

Sau đó, Phao-lô tiếp (Hê-bơ-rơ 11:35–38) với danh sách những khó khăn mà nhiều người phải đối mặt. Cụm từ “bị hình khổ dữ tợn mà không chịu giải cứu” (Hê-bơ-rơ 11:35) ngụ ý rằng họ có khả năng trốn thoát nhưng đã chọn không làm, vì mục tiêu của họ là vào phần thưởng của Đức Chúa Trời.

Mặc dù chúng ta có thể chưa trải nghiệm bất kỳ điều nào trong số những điều này xảy ra (từ Sự Tạo Thế trong sáu ngày, Cuộc xuất hành ra khỏi Ê-díp-tô, thập tự giá của Đấng Christ), tại sao chúng ta có rất nhiều lý do chính đáng để tin rằng chúng đã xảy ra?

Đọc Hê-bơ-rơ 12:1–3. Các câu này yêu cầu chúng ta làm gì?

Đỉnh cao của sự trình bày về đức tin thực sự hiện ra khi Hê-bơ-rơ 12 giới thiệu Đức Chúa Giê-su. Phao-lô đã bắt đầu bức thư với Đức Chúa Giê-su, và đã gọi Ngài là Đấng “sẽ đến” và “không chậm trễ” (Hê-bơ-rơ 10:37), và nay Phao-lô kết luận điều ấy với Đức Chúa Giê-su “là cội rễ và cuối cùng của đức tin” (Hê-bơ-rơ 12:2). Điều này có nghĩa rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng làm cho đức tin trở nên khả dĩ, và là tấm gương thể hiện hoàn hảo những gì về một đời sống đức tin. Với Đức Chúa Giê-su, đức tin đã đạt đến sự thể hiện hoàn hảo của nó.

Đức Chúa Giê-su là “cội rễ” cho đức tin của chúng ta theo ít nhất ba nghĩa.

Thứ nhất, Ngài là người duy nhất đã hoàn tất cuộc đua theo đúng nghĩa đen của nó. Những người khác được nói đến trong đoạn trước vẫn chưa đạt được mục tiêu (Hê-bơ-rơ 11:39, 40). Tuy nhiên, Đức Chúa Giê-su đã vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời trên thiên đàng và ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Chúng ta cùng với những người này sẽ cùng trị vì với Đức Chúa Giê-su trên trời (Khải huyền 20:4).
Thứ nhì, chính cuộc sống hoàn hảo của Đức Chúa Giê-su đã giúp những người này có thể chạy hết cuộc đua của họ (Hê-bơ-rơ 10:5–14). Nếu Đức Chúa Giê-su đã không giáng trần, cuộc đua của những người này sẽ là vô ích.

Cuối cùng, Đức Chúa Giê-su là lý do khiến chúng ta có đức tin. Là một với Đức Chúa Trời, Ngài thể hiện sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời không bao giờ từ bỏ các nỗ lực của Ngài để cứu chúng ta, và đó là lý do tại sao cuối cùng chúng ta sẽ đạt được phần thưởng nếu chúng ta không bỏ cuộc. Đức Chúa Giê-su đã chạy cuộc đua với sự kiên nhẫn và trung thành, ngay cả khi chúng ta không có đức tin (2 Ti-mô-thê 2:13). Đức tin của chúng ta chỉ là sự đáp lại sự thành tín của Ngài.

Kết cuộc, Đức Chúa Giê-su là “cuối cùng của đức tin” bởi vì Ngài đã làm gương một cách hoàn hảo cách chạy đua của đức tin. Ngài đã chạy như thế nào? Ngài gạt bỏ mọi gánh nặng bằng cách từ bỏ mọi điều vì chúng ta (Phi-líp 2:5–8). Ngài chưa bao giờ phạm tội. Đức Chúa Giê-su giữ vững tầm nhìn của Ngài về phần thưởng, đó là niềm vui được đặt ra trước mặt Ngài, đó là khi nhìn thấy loài người được cứu chuộc bởi ân điển của Ngài. Vì vậy, Ngài đã chịu đựng sự hiểu lầm và lạm dụng; Ngài hiên ngang nhìn thẳng vào thập tự giá nhơ nhớp (Hê-bơ-rơ 12:2, 3).

Bây giờ đến lượt chúng ta chạy. Mặc dù chúng ta không bao giờ có thể đạt được những gì Đức Chúa Giê-su đã làm bằng sức riêng của mình, nhưng chúng ta có tấm gương hoàn hảo của Ngài trước mặt mình, và do đó, nhờ đức tin nơi Ngài, và luôn dõi theo Ngài (cũng như những người đi trước chúng ta), chúng ta tiến bước trong đức tin, tin cậy nơi những lời hứa của Ngài về một phần thưởng lớn.

“Bởi đức tin mà bạn thuộc về Đấng Cơ Đốc, cũng bởi đức tin mà bạn lớn khôn trong Ngài. Bạn hiến dâng tất cả—tấm lòng, ý chí, sự phục vụ—hiến dâng bạn trọn vẹn cho Ngài để vâng phục theo mọi điều kiện của Ngài; rồi bạn phải nhận tất cả—Đấng Cơ Đốc, sự trọn lành của nguồn ơn để ghi chặt trong lòng, để làm nguồn năng lực, sự công bình và là nguồn cứu trợ đời đời cho bạn—tức là để nhờ Ngài ban cho bạn đủ sức vâng phục Ngài vậy.” — Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, trang 60.

“Đức Chúa Trời không bao giờ đòi hỏi chúng ta phải tin nếu Ngài không ban cho ta đủ chứng cớ để làm nền tảng cho đức tin mình. Sự thực hữu của Ngài, bản tánh của Ngài, chân lý của Ngài, thảy đều thiết lập bởi lời chứng của lý trí ta mà lời chứng nầy thật nhiều vô kể. Tuy vậy, Đức Chúa Trời chẳng bao giờ cất đi mối nghi ngờ có thể nổi lên. Đức tin của chúng ta phải đặt trên chứng cớ, chớ không phải lời biện bạch. Những kẻ nào muốn nghi ngờ, sẽ có dịp để nghi ngờ, trong khi những ai thật lòng muốn biết lẽ thật sẽ tìm thấy không biết bao nhiêu bằng chứng để làm nền tảng cho đức tin mình.

“Tâm trí non kém của con người làm sao hiểu nổi tính chất công việc làm của Đấng vô tận được. Với một người có sự nhận xét tinh tế nhất, một người với trí khôn xuất chúng, nhưng khi nhận xét Đấng Thánh, họ thấy Ngài được che phủ bởi một sự mầu nhiệm vô cùng. “Nếu bạn dò xét, há có thể hiểu được sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, và thấu rõ Đấng Toàn Năng sao? Sự ấy vốn cao bằng các từng trời: Vậy bạn sẽ làm gì? Sâu hơn âm phủ: bạn hiểu biết sao đặng?” (Gióp 11:7, 8).” — Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, trang 91, 92.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Một học giả Cơ Đốc giáo thời kỳ đầu đã từng viết: Credo ut intelligam, tiếng Latinh có nghĩa là “Tôi tin hầu tôi có thể hiểu được.” Hê-bơ-rơ 11:3 nói rằng “chúng tôi hiểu bởi đức tin” (NKJV). Mối quan hệ giữa niềm tin và sự hiểu biết là gì? Tại sao đức tin thường đi trước sự hiểu biết? Đó là, tại sao đôi khi chúng ta phải vươn tới niềm tin vào những gì, ít nhất là lúc đầu, chúng ta không hiểu, và sau đó, sự hiểu biết nhiều hơn sẽ đến?

2. Chữ pistis trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là cả “đức tin” và “sự trung tín”. Tại sao cả hai ý nghĩa đều quan trọng trong việc tìm cách hiểu sống “bởi đức tin” nghĩa là gì? Những người trong Hê-bơ-rơ 11 đã cho thấy sự trung tín của họ như thế nào về đức tin của họ? Làm thế nào chúng ta có thể làm như vậy?

3. Mặc dù chúng ta hiểu rằng đức tin là một món quà của Đức Chúa Trời (Rô-ma 12:3), chúng ta đóng vai trò nào, nếu có, trong việc nhận và duy trì món quà đó?

Bài Học 10, 26 Tháng 2 — 4 Tháng 3, 2022

Chúa Giê-su Mở Đường Xuyên Qua Bức Màn

CÂU GỐC: “Vả Đấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 9:24).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 9:24; Xuất Ê-díp-tô Ký 19:3, 4; Hê-bơ-rơ 12:18–21; Lê-vi Ký 16:1, 2; Hê-bơ-rơ 10:19–22; Cô-lô-se 3:1.

Ngay sau khi Đức Chúa Giê-su thăng thiên trên Núi Ô-li-ve, các môn đồ trở về, lòng họ đầy vui mừng và ngập tràn niềm vui khải hoàn. Thầy và bạn của họ đã lên đến một vị trí quyền lực trên thế giới và Ngài đã mời họ đến gần Đức Chúa Trời nhân danh Ngài với sự tin tưởng tuyệt đối rằng Đức Chúa Trời sẽ đáp lại lời cầu nguyện của họ một cách thuận lợi (Giăng 14:13, 14). Dù họ vẫn tiếp tục sống trên thế gian, bị tấn công bởi các thế lực của sự ác, nhưng niềm hy vọng của họ vẫn rất mạnh mẽ. Họ biết rằng Đức Chúa Giê-su đã về trời đặng chuẩn bị một chỗ cho họ (Giăng 14:1–3). Họ biết rằng Đức Chúa Giê-su là Đội trưởng của sự cứu rỗi họ, và Ngài đã mở một con đường vào quê hương trên trời qua dòng huyết báu của Ngài.

Sự về trời của Đức Chúa Giê-su là trọng tâm trong thần học của thư Hê-bơ-rơ. Nó đánh dấu sự khởi đầu của sự cai trị của Đức Chúa Giê-su và việc Ngài bắt đầu chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm cho chúng ta. Cuối cùng, và quan trọng hơn, sự thăng thiên của Chúa đánh dấu thời điểm giao ước mới, là giao ước mang lại phương cách để chúng ta có thể mạnh dạn đến gần Đức Chúa Trời qua đức tin, đã được bắt đầu. Bây giờ chúng ta có đặc ân là được đến gần Đức Chúa Trời trong sự tự tin qua Đức Chúa Giê-su nhờ các công đức của sự công bình Ngài.

Đọc Hê-bơ-rơ 9:24. Theo phân đoạn này, mục đích của việc Đức Chúa Giê-su lên trời là gì?

Đức Chúa Trời đã ra lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên rằng các người nam của họ phải hành hương lên Giê-ru-sa-lem ba lần mỗi năm để “ra mắt trước mặt Chúa” với một của lễ. Các thời điểm được chỉ định là lễ Vượt qua (Bánh không men), Lễ Các Tuần (Lễ Ngũ tuần), và Lễ Các Lều (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:14–17, Phục truyền 16:16). Lễ Vượt qua kỷ niệm sự giải thoát của Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập. Lễ Ngũ Tuần kỷ niệm vụ mùa thu hoạch lúa mạch và vào thời Tân Ước, nó được liên kết với việc ban hành luật pháp tại Sinai. Lễ Các Lều kỷ niệm sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên trong thời gian họ giong ruỗi trong đồng vắng. Theo Tân ước, tất cả các lễ hội ăn mừng trong Cựu Ước cũng có ý nghĩa tiên tri.

Hê-bơ-rơ 9:24 mô tả sự thăng thiên của Chúa Giê-su để ra mắt trước sự hiện diện của Đức Chúa Cha. Ngài bước vào nơi thánh, “chính đấng thật”, để “ra mắt” trước mặt Đức Chúa Trời với một của lễ hy sinh tốt hơn (Hê-bơ-rơ 9:23, 24) — bằng huyết báu của chính mình.

Đức Chúa Giê-su đã hoàn tất ý nghĩa tiên tri của các cuộc lễ hội hành hương với độ chính xác đáng kinh ngạc. Ngài chết vào ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua vào giờ thứ chín, thời điểm mà những con chiên của Lễ Vượt Qua bị giết để dâng làm của lễ (Giăng 19:14, Ma-thi-ơ 27:45–50). Chúa đã phục sinh vào ngày thứ ba và lên trời để nhận được sự bảo đảm rằng sự hy sinh của Ngài đã được chấp nhận (Giăng 20:17, 1 Cô-rinh-tô 15:20), khi thầy tế lễ vẫy bó lúa mạch chín làm trái đầu mùa (Lê-vi Ký 23:10–12). Sau đó, 40 ngày sau, Ngài đã về trời để ngự bên hữu Đức Chúa Trời và lập giao ước mới vào Ngày Lễ Ngũ Tuần (Công vụ 1, 2).

Mục đích của các cuộc hành hương ở Y-sơ-ra-ên thời cổ là để “đến ra mắt Đức Chúa Trời” (Thi thiên 42:2). Điều này có nghĩa là để trải nghiệm lòng ưu ái của Đức Chúa Trời (Thi thiên 17:15). Tương tự, cách diễn đạt trong tiếng Hê-bơ-rơ là “tìm kiếm mặt Đức Chúa Trời” có nghĩa là cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ (2 Sử Ký 7:14, Thi thiên 27:8; 105:4). Theo tiếng Do Thái, đây là ý nghĩa về sự thăng thiên của Chúa Giê-su. Đức Chúa Giê-su đã lên trời với Đức Chúa Cha mang theo sự hy sinh hoàn hảo. Ngài lên trời cũng như là đấng chạy trước dẫn đầu chúng ta đến với sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 6:19, 20). Ngài đã thực hiện lời hứa dành cho những tín đồ đang trong cuộc hành trình “tìm kiếm quê hương”, mong muốn “một quê hương tốt hơn” khi “chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (Hê-bơ-rơ 11:10, 13–16).

Một lần nữa, tại sao thực tế về những gì Đấng Christ đã làm, không chỉ trên thập tự giá mà cả những gì Ngài đang làm bây giờ ở trên trời, lại cho chúng ta sự bảo đảm về sự cứu rỗi?

Đọc Hê-bơ-rơ 12:18–21. Kinh nghiệm của Y-sơ-ra-ên tại Núi Si-nai là gì?

Khi Đức Chúa Trời gọi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô, kế hoạch của Ngài là tạo ra một mối quan hệ cá nhân, gần gũi với họ. Ngài phán, “Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thế nào” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:3, 4).

Bởi thế, qua Môi-se, Đức Chúa Trời đã ban những chỉ dẫn cần thiết để chuẩn bị cho dân sự khi họ đến gặp Ngài. Người ta cần phải giữ mình thanh sạch trước (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:10–15). Những người nào lên đến chân núi mà không có sự chuẩn bị trước sẽ chết. Tuy nhiên, khi mọi người đã chuẩn bị tinh thần trong hai ngày, thì “có sấm vang chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi, và tiếng kèn thổi rất vang động” vào ngày thứ ba, Đức Chúa Trời chỉ thị rằng dân sự “sẽ lên núi”. Ngài muốn họ cũng có đươc kinh nghiệm mà Môi-se và những người lãnh đạo dân chúng sẽ có khi họ lên núi và “nhưng họ ngó thấy Đức Chúa Trời, thì ăn và uống” trước sự hiện diện của Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:9–11). Sau đó, dân chúng công nhận rằng họ đã nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và rằng Đức Chúa Trời có thể “phán cùng loài người và loài người vẫn còn sống” (Phục truyền 5:24). Nhưng, khi giờ phút nghiêm trọng ấy đến, họ đã thiếu đức tin. Nhiều năm sau, Môi-se giải thích: “vì các ngươi sợ lửa, không lên trên núi” (Phục truyền 5:5). Thay vào đó, họ yêu cầu Môi-se làm trung gian của họ (Phục truyền 5:25–27, so sánh với Xuất Ê-díp-tô Ký 20:18–21).

Đức Chúa Trời bày tỏ sự thánh khiết Ngài tại Núi Si-nai là để dạy dân chúng học biết họ phải “kính sợ” hay tôn trọng Ngài. “Kính sợ Đức Chúa Trời” dẫn đến sự sống, sự khôn ngoan và danh dự (Phục truyền 4:10; so sánh với Thi thiên 111:10, Châm ngôn 1:7, Châm ngôn 9:10, Châm ngôn 10:27) — và cũng để biết rằng Ngài là nhân từ và giàu lòng thương xót (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:4–8). Vì vậy, trong khi Đức Chúa Trời muốn Y-sơ-ra-ên đến với Ngài, thì họ lại trở nên sợ hãi và xin Môi-se làm trung gian cho họ. Sự mô tả trong Hê-bơ-rơ về các sự kiện tại Si-nai theo liền sau việc Môi-se nhắc nhở dân chúng về việc họ thiếu đức tin và bội đạo theo con bò vàng, cũng như việc ông sợ gặp Chúa vì tội lỗi của họ (Phục truyền 9:19). Cách phản ứng của dân sự không phải là kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho họ mà đó là kết quả của sự bất trung của họ.

Bởi có Đức Chúa Giê-su, tại sao chúng ta không sợ đến gần Đức Chúa Trời thánh khiết? Tuy nhiên, điều kiện nào để chúng ta có thể đến gần cùng Cha?

Bức màn che là để làm hai việc. Trong tiếng Do Thái, danh từ cho bức màn che (katepetasma) có thể ám chỉ tấm màn nơi cửa hành lang đền thờ (Xuất Ê-díp-tô Ký 38:18), tấm bình phong nơi bước vào đền thờ (Xuất Ê-díp-tô Ký 36:37), hoặc tấm màn che ngăn Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh (Xuất Ê-díp-tô Ký 26:31–35). Ba bức màn này vừa là lối vào mà cũng vừa là ranh giới mà chỉ có một số người mới được phép vượt qua.
Đọc Lê-vi Ký 16:1, 2 và Lê-vi Ký 10:1–3. Có lời cảnh báo nào cho chúng ta trong những đoạn này?

Bức màn che là sự bảo vệ cho các thầy tế lễ khi họ phục vụ trước một Đức Chúa Trời thánh khiết. Sau tội lỗi của con bò vàng, Đức Chúa Trời phán với Môi-se rằng Ngài sẽ không đi cùng họ trên đường đến Đất Hứa, kẻo Ngài tiêu hủy họ vì họ là một “dân cứng cổ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:3). Vì vậy, Môi-se đã dời chiếc lều hội mạc và dọn nó ra xa, bên ngoài trại quân (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:7). Tuy nhiên, sau khi Môi-se cầu thay, Đức Chúa Trời đồng ý đi với họ ở giữa họ (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:12–20), nhưng Ngài đã thiết lập một số biện pháp để bảo vệ dân sự khi Ngài ngự giữa họ.

Chẳng hạn, Y-sơ-ra-ên đóng trại theo một hình thể nghiêm ngặt, và phải tạo ra một khoảnh đất vuông trống ở giữa, là nơi dựng đền tạm. Ngoài ra, người Lê-vi cắm trại xung quanh đền tạm để bảo vệ đền thánh và đồ đạc của nó khỏi bị kẻ ngoại bang xâm phạm (Dân số Ký 1:51, Dân số Ký 3:10). Đúng ra, vòng các lều của người Lê-vi đóng vai trò làm một “tấm màn che” để bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên: “Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh đền tạm chứng cớ, để đừng có sự giận dữ cùng hội dân Y-sơ-ra-ên; người Lê-vi sẽ coi sóc đền tạm chứng cớ” (Dân số Ký 1:53).

Đức Chúa Giê-su, với tư cách là Thầy Tế lễ của chúng ta, cũng đã là tấm màn che của chúng ta. Qua sự nhập thể của Ngài, Đức Chúa Trời dựng lều của Ngài ở giữa chúng ta và giúp chúng ta có thể chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài (Giăng 1:14–18). Ngài đã làm cho một Đức Chúa Trời thánh khiết có thể sống ở giữa một loài người bất toàn.

Hãy suy nghĩ về ý nghĩa của việc Đức Chúa Trời, Đấng đã dựng nên vũ trụ, sẽ ở giữa dân sự của Ngài, là những kẻ, vào thời điểm ấy, là một dân tộc vốn là những kẻ nô lệ đã trốn thoát. Điều đó dạy chúng ta điều gì về mức độ gần gũi của Đức Chúa Trời đối với chúng ta?

Đọc Hê-bơ-rơ 10:19–22. Lời mời nào gởi đến cho chúng ta trong các câu này?

Thư Hê-bơ-rơ lập luận rằng Đức Chúa Giê-su đã vào đền thánh trên trời và Ngài mời chúng ta đi theo sự dẫn dắt của Ngài. Ý tưởng này đồng ý với quan niệm được đưa ra trước đó rằng Đức Chúa Giê-su là “đội trưởng” và là người đi trước của các tín đồ (Hê-bơ-rơ 2:10; 6:19, 20; 12:2). “Bởi đường mới và sống” là giao ước mới mà Đức Chúa Giê-su đã lập bằng sự hy sinh và sự thăng thiên của Ngài. Cụm từ “mới và sống” trái ngược với mô tả của giao ước cũ là “đã cũ đã già” (Hê-bơ-rơ 8:13). Chính giao ước mới đã mang lại sự tha thứ tội lỗi và đặt để luật pháp trong lòng chúng ta, giúp chúng ta có thể tự tin đến gần Đức Chúa Trời, không phải vì bản thân hay bất cứ điều gì chúng ta đã làm, nhưng chỉ vì những gì Đức Chúa Giê-su đã thực hiện cho chúng ta bằng việc hoàn tất mọi nghĩa vụ giao ước đòi hỏi.

Hê-bơ-rơ lưu ý rằng việc khánh thành giao ước cũ liên quan đến việc khánh thành đền thánh và sự giữ mình thánh kiết của các thầy tế lễ (Hê-bơ-rơ 9:18–21; so sánh với Xuất Ê-díp-tô Ký 40; Lê-vi Ký 8, 9). Mục đích của giao ước là tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4–6). Khi Y-sơ-ra-ên chấp nhận mối quan hệ này, Đức Chúa Trời ngay lập tức truyền lệnh rằng phải xây dựng một đền thánh để Ngài có thể ngự giữa họ. Việc khánh thành đền thánh và sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở giữa dân Ngài là thời điểm giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên được hoàn tất.

Điều này cũng đúng với giao ước mới. Giao ước mới cũng ngụ ý đến việc nhậm chức chức vụ tế lễ của Đức Chúa Giê-su để phụng sự thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 5:1–10; 7:1 – 8:13).

Sự về trời của Đức Chúa Giê-su đặng ứng hầu trước mặt Đức Chúa Trời đã mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân Đức Chúa Trời. Xa-cha-ri 3 đề cập rằng Sa-tan ở trước mặt Đức Chúa Trời để buộc tội dân sự của Đức Chúa Trời, những người được đại diện bởi thầy tế lễ thượng phẩm Giô-suê. Cũng chính kẻ tố cáo này đã đặt nghi vấn về lòng trung thành của Gióp đối với Đức Chúa Trời (Gióp 1, 2). Tuy nhiên, với sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su, Sa-tan đã bị đuổi khỏi thiên đàng (Khải huyền 12:7–12, so sánh với Giăng 12:31, Giăng 16:11). Giờ đây chính Đức Chúa Giê-su là Đấng cầu thay cho chúng ta và bởi sự hy sinh và trung tín của Ngài, Ngài tuyên bố sự cứu rỗi cho chúng ta!

Sa-tan có thể cáo buộc bạn điều gì trước mặt Đức Chúa Trời, nếu Ngài cho phép? Tuy dầu Sa-tan là một kẻ nói dối, nhưng hắn sẽ phải nói dối về bạn đến mức nào để tìm kiếm sự lên án của bạn? Hy vọng duy nhất của bạn là gì?

Đọc Hê-bơ-rơ 12:22–24. Theo nghĩa nào, chúng ta đã đến Giê-ru-sa-lem trên trời và vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời?

Người ta lập luận rằng những người tin Chúa “đã đến” Núi Si-ôn, tức Giê-ru-sa-lem trên trời, nhờ đức tin. Theo nghĩa này, kinh nghiệm của họ dự đoán tương lai. Vì vậy, thành Giê-ru-sa-lem trên trời thuộc về vương quốc của những điều “đương trông mong” và “chẳng xem thấy” nhưng vẫn được đảm bảo cho chúng ta nhờ đức tin (Hê-bơ-rơ 11:1).

Tuy là đúng, nhưng đây không phải là toàn ý nghĩa của các câu này. Chúng ta cũng đã đến Núi Si-ôn, trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, qua vị đại diện của chúng ta là Đức Chúa Giê-su (Ê-phê-sô 2:5, 6; Cô-lô-se 3:1). Sự thăng thiên của Đức Chúa Giê-su không phải là vấn đề đức tin, mà là sự thật. Chính sự kiện lịch sử của việc Đức Chúa Giê-su thăng thiên đã mang sức mạnh thuyết phục cho thư Hê-bơ-rơ trong việc khuyên chúng ta nên giữ lấy niềm tin chắc chắn của mình (Hê-bơ-rơ 4:14, Hê-bơ-rơ 10:23). Phao-lô nói: “vì chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, . . . chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước”(Hê-bơ-rơ 4:14, 16).

Vì vậy, qua vị đại diện của mình, chúng ta đã đến trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, do đó, chúng ta phải nên hành động phù hợp. Nhờ Ngài, chúng ta “nếm sự ban cho từ trên trời, . . . nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau,”(Hê-bơ-rơ 6:4, 5). Sự thăng thiên là có thật trước mắt các môn đồ, và chức vụ của Đức Chúa Giê-su trong đền thánh trên trời là “cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn,” (Hê-bơ-rơ 6:19), bảo đảm rằng những lời hứa có thực chất và đáng tin cậy (Hê-bơ-rơ 7:22). Đối với chúng ta, niềm tin có một mỏ neo trong lịch sử.

Tuy nhiên, mục đích của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn thành không chỉ trong Đức Chúa Giê-su, mà còn trong chúng ta. Chúng ta đã nói rằng sự thăng thiên của Đức Chúa Giê-su đã ứng nghiệm theo như tiêu chuẩn của hai cuộc hành hương hàng năm đầu hết của Y-sơ-ra-ên là Lễ Vượt Qua và Lễ Ngũ Tuần. Theo thư Hê-bơ-rơ và sách Khải huyền, cuộc hành hương cuối, Lễ Các Trại, vẫn chưa được hoàn tất. Chúng ta sẽ dự phần vào lễ ấy với Đức Chúa Giê-su, khi chúng ta ở trong “một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” trên quê hương trên trời (Hê-bơ-rơ 11:10, 13–16). Chúng ta sẽ không dựng các lều, nhưng lều của Đức Chúa Trời, sẽ từ trời xuống, và chúng ta sẽ sống với Ngài mãi mãi (Khải huyền 7:15–17; 21:1–4; 22:1–5; Dân số Ký 6:24–26).

Làm thế nào chúng ta có thể học cách làm lời hứa về sự sống vĩnh cửu thành một hiện thực với chúng ta bây giờ, giữa một thế giới đầy dẫy những đau đớn và khổ sở? Bạn có thể đưa ra câu trả lời nào cho những người nói rằng tất cả chỉ là ảo vọng để giúp con người cảm thấy hài lòng hơn về cuộc sống của mình ở đây và bây giờ?

“Sự thăng thiên của Đấng Christ là tín hiệu cho thấy những kẻ theo Ngài sẽ nhận được phước lành đã hứa. Vì điều này, họ phải đợi trước khi bắt đầu công việc của mình. Khi Đấng Christ bước qua các cổng thiên đàng, Ngài được đăng quang giữa sự tôn thờ của các thiên sứ. Ngay sau khi nghi lễ này xong, Đức Thánh Linh ngự xuống tràn trề trên các môn đồ, và Đấng Christ thực sự đã được tôn vinh, bằng tất cả vinh quang mà Ngài đã đồng có với Chúa Cha từ muôn thuở. Sự tuôn đổ trong ngày Ngũ tuần là sự truyền tin của Thiên đàng rằng lễ đăng quang của Chúa Cứu thế đã hoàn tất. Theo lời hứa của Ngài, Ngài đã ban Đức Thánh Linh từ trời xuống cho các môn đồ của Ngài như một dấu hiệu mà Ngài, với tư cách là thầy tế lễ và là vua, đã nhận mọi quyền bính trên trời và dưới đất, và là Đấng được xức dầu trên dân sự của Ngài . . .

“Họ có thể nhắc đến danh của Đức Chúa Giê-su cách chắc chắn; vì Ngài không phải là Bạn và là Anh Cả của họ ư? Được hiệp thông chặt chẽ với Đấng Christ, họ đã ngồi với Ngài ở những nơi trên trời. Với ngôn ngữ cháy bỏng, họ đã bọc lấy ý tưởng của mình khi làm chứng cho Ngài!” — Ellen G. White, The Acts of the Apostles, trang 38, 46.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Tác giả Thi thiên nói: “Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống: Tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào?” (Thi thiên 42:2). Làm thế nào chúng ta có thể có cùng một niềm khao khát được đến với sự hiện diện của Đức Chúa Trời? Nếu bây giờ chúng ta không vui mừng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời khi chúng ta thờ phượng Ngài và đến trước sự hiện diện của Ngài trong đức tin, liệu chúng ta có vui mừng trong tương lai không? Những yếu tố dẫn đến niềm vui trước mặt Đức Chúa Trời là gì?

2. Trong một cuốn sách chế giễu đức tin, kể lại câu chuyện thế này, có một ngưởi chế tạo ra một người rô bô, và con rô bô đó chỉ lo suy nghĩ và giữ phần tin đạo giùm chúng ta. Đó chỉ là chuyện giả tưởng, nhưng nó không khác chi trường hợp của Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng. Chúng ta phải cẩn thận để không như họ. Y-sơ-ra-ên đã yêu cầu cho họ có một người trung gian đứng giữa họ và Đức Chúa Trời. Chúng ta có khuynh hướng để người khác học Kinh Thánh thay mình và để họ tìm thấy những điều hay rồi kể lại cho mình. Một số người có thể bị cám dỗ với tư tưởng rằng những lời cầu nguyện của người khác thay mặt họ được Đức Chúa Trời lắng nghe hơn những lời cầu nguyện của chính họ. Tại sao chúng ta phải cẩn thận đừng mắc vào cái bẫy tâm linh này? Và tại sao, chỉ nhờ Đức Chúa Giê-su thì chúng ta mới có thể đến gần Đức Chúa Trời mà không cần ai khác?

3. Hê-bơ-rơ nói về sự bảo đảm của sự cứu rỗi. Tuy nhiên, làm thế nào chúng ta phải cẩn thận để không nhầm lẫn giả định (tưởng chắc là) với sự đảm bảo?

Bài Học 9, 19 — 25 Tháng 2, 2022

Chúa Giê-su, Của Dâng Hy Sinh Hoàn Hảo

CÂU GỐC: “Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời” (Hê-bơ-rơ 10:14).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 9:15, Sáng 15:6–21, Giê-rê-mi 34:8–22, Ê-phê-sô 3:14–19, Hê-bơ-rơ 7:27, Hê-bơ-rơ 10:10, Hê-bơ-rơ 9:22–28.

Ý tưởng rằng thờ lạy một người có tội và bị xử tử trên thập tự giá và tôn thờ người ấy như Đức Chúa Trời, là ý tưởng thật xúc phạm đến tâm trí của văn hóa thời cổ. Việc tham khảo ít ỏi về thập tự giá trong văn học La Mã cho thấy sự chán ghét của họ đối với ý tưởng này. Đối với người Do Thái, luật pháp tuyên bố rằng một kẻ bị đóng đinh trên cây là kẻ đã bị Đức Chúa Trời nguyền rủa (Phục truyền 21:23).

Do đó, những họa tiết đầu tiên mà chúng ta tìm thấy trong các bức tranh của các Cơ Đốc nhân nơi hầm mộ là con công (được cho là tượng trưng cho sự bất tử), một con chim bồ câu, cành chà là của người lực sĩ thắng cuộc, và cá. Sau đó, các chủ đề khác xuất hiện:chiếc tàu của Nô-ê; Áp-ra-ham hy sinh con chiên đực thay vì Y-sác; Đa-ni-ên trong hang sư tử; Giô-na bị cá nhả ra; một người chăn chiên vác con chiên con; hoặc mô tả các phép lạ như chữa lành người bại liệt và làm cho La-xa-rơ sống lại. Đây là những biểu tượng của sự cứu rỗi, chiến thắng và chăm sóc. Trong khi ấy, thập tự giá mang lại cảm giác thất bại và xấu hổ. Tuy nhiên, chính cây thánh giá đã trở thành biểu tượng của Cơ Đốc giáo. Trên thực tế, Phao-lô chỉ đơn giản gọi phúc âm là “lời của thập tự giá” (1 Cô-rinh-tô 1:18).

Tuần này, chúng ta sẽ xem thập tự giá xuất hiện trong sách Hê-bơ-rơ.

Hê-bơ-rơ 9:15 giải thích rằng cái chết của Đức Chúa Giê-su như một của lễ hy sinh có mục đích “khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ” để dân sự Đức Chúa Trời có thể “nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình”.

Ở Cận Đông cổ đại, giao ước giữa hai người hoặc hai quốc gia là một vấn đề quan trọng. Nó liên quan đến việc trao đổi những lời hứa dưới lời thề. Nó ngụ ý giả định rằng các vị thần sẽ trừng phạt những kẻ phá vỡ lời thề. Thông thường, những giao ước này được phê chuẩn qua việc hy sinh một con vật. Thí dụ, khi Đức Chúa Trời lập giao ước với Áp-ra-ham, nghi lễ được thi hành có việc mổ và cắt làm hai các con thú hy sinh (Sáng thế Ký 15:6–21). Theo văn hóa thời ấy, các bên (của giao ước) sẽ đi giữa các con vật hy sinh đã bị cắt như một sự thừa nhận rằng những con vật đó đại diện cho số phận của bên đã phá vỡ giao ước. Khi lập giao ước với Áp-ra-ham, điều quan trọng là chỉ có Đức Chúa Trời đi giữa các con vật hy sinh, với chủ đích truyền đạt cho Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ không vi phạm lời hứa của Ngài.

So sánh Sáng thế Ký 15:6–21 và Giê-rê-mi 34:8–22. Những bản văn này dạy gì về giao ước?

Giao ước với Đức Chúa Trời đã cho dân Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa làm cơ nghiệp của họ. Tuy nhiên, nó liên quan đến một tập hợp các điều răn và việc rảy máu lên bàn thờ. Sự rảy máu này ám chỉ số phận của bên đã phá vỡ giao ước. Đây là lý do tại sao thư Hê-bơ-rơ nói rằng “không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (Hê-bơ-rơ 9:22).

Khi Y-sơ-ra-ên phá bỏ giao ước, Đức Chúa Trời phải đối mặt với một tình thế khó xử và đau lòng. Giao ước đòi hỏi những kẻ vi phạm phải chết, nhưng Đức Chúa Trời yêu thương dân Ngài. Nếu Ngài chỉ làm ngơ như không thấy hoặc từ chối trừng phạt những kẻ vi phạm, các điều răn của Ngài sẽ không bao giờ có hiệu lực để được thi hành, và thế giới này sẽ rơi vào hỗn loạn.

Nhưng, Con Đức Chúa Trời đã hiến dâng chính Ngài để thay thế. Ngài chết thay cho chúng ta để chúng ta “nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình” (Hê-bơ-rơ 9:15, 26; Rô-ma 3:21–26). Có nghĩa là, Ngài sẽ duy trì sự tôn nghiêm của luật pháp Ngài trong khi đồng thời cứu những kẻ đã vi phạm luật pháp ấy. Và Ngài chỉ có thể làm điều này qua thập tự giá.

Bằng cách nào chúng ta có thể thấy ở đây tại sao luật pháp lại là trọng tâm của sứ điệp phúc âm?

Cái chết của Đức Chúa Giê-su mang lại sự tha thứ hoặc sự xóa bỏ tội lỗi của chúng ta. Tuy nhiên, việc xóa bỏ tội lỗi của chúng ta bao hàm nhiều điều hơn là việc hủy bỏ hình phạt của sự vi phạm giao ước. Nó liên quan đến các yếu tố khác là quan trọng. Đó là lý do tại sao hệ thống dâng của lễ hy sinh của người Y-sơ-ra-ên lại có năm loại của lễ hy sinh khác nhau. Mỗi thứ đều cần thiết để diễn tả sự phong phú về ý nghĩa của thập tự giá của Đấng Christ.

Đọc Ê-phê-sô 3:14–19. Phao-lô thay mặt các tín đồ yêu cầu lời cầu nguyện nào?

Của lễ thiêu đòi hỏi toàn con vật phải bị thiêu đốt trên bàn thờ (Lê-vi Ký 1). Nó đại diện cho Đức Chúa Giê-su, là Đấng đã mất toàn mạng sống Ngài cho chúng ta. Sự đền tội đòi hỏi sự cam kết hoàn toàn của Đức Chúa Giê-su đối với chúng ta. Mặc dù Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Giê-su đã “chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người” (Phi-líp 2:5–8).

Của lễ chay bằng dâng ngũ cốc là một món quà biết ơn vì Đức Chúa Trời đã cung cấp thức ăn cho dân Ngài (Lê-vi Ký 2). Nó cũng tượng trưng cho Đức Chúa Giê-su, “bánh của sự sống” (Giăng 6:35, 48), nhờ đó chúng ta có được sự sống vĩnh cửu.

Của lễ thù ân hay của dâng bình an hay tương giao ngụ ý một bữa ăn chung với bạn bè và gia đình để chúc mừng sự an lành do Đức Chúa Trời ban cho (Lê-vi Ký 3). Nó tượng trưng cho Đấng Christ, Đấng mà sự hy sinh đã mang lại sự bình an cho chúng ta (Ê-sai 53:5, Rô-ma 5:1, Ê-phê-sô 2:14). Nó cũng nhấn mạnh rằng chúng ta cần tham gia vào sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su bằng cách ăn thịt và uống huyết của Ngài (Giăng 6:51–56).

Của lễ chuộc tội vì lầm lỡ để được sự thanh sạch mang sự đền tội của tội lỗi (Lê-vi Ký 4:1 – 5:13). Sự hy sinh này nhấn mạnh vai trò của huyết động vật — đại diện cho sự sống của nó — cung cấp sự cứu chuộc khỏi tội lỗi (Lê-vi Ký 17:11) và hướng đến huyết của Đức Chúa Giê-su, Đấng cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi của chúng ta (Ma-thi-ơ 26:28, Rô-ma 3:25, Hê-bơ-rơ 9:14).

Của lễ hối lỗi hoặc tội tự biết hay của lễ bồi đền (Lê-vi Ký 5:14 – 6:7) cung cấp sự tha thứ trong những trường hợp có thể được đền bù hoặc đền bù. Nó cho chúng ta biết rằng sự tha thứ của Đức Chúa Trời không giải phóng chúng ta khỏi trách nhiệm cung cấp sự bồi đền hoặc đền đáp, nếu có thể, cho những người mà chúng ta đã làm sai.

Của lễ trong đền thánh dạy chúng ta rằng kinh nghiệm về sự cứu rỗi không chỉ đơn thuần là chấp nhận Chúa Giê-su là Đấng thay thế của chúng ta. Cuộc sống chúng ta cũng cần phải nuôi dưỡng bởi “ăn” Ngài, chia sẻ lợi ích của Ngài với những người khác, và bồi đền cho những người mà chúng ta đã vi phạm với họ.

Đọc Hê-bơ-rơ 7:27 và Hê-bơ-rơ 10:10. Sự hy sinh của Chúa Giê-su được mô tả như thế nào trong những đoạn này?

Các thầy tế lễ Lê-vi — là những người, “số thầy tế lễ rất nhiều, vì sự chết nên không giữ luôn được chức vụ” (Hê-bơ-rơ 7:23) — khác với Đức Chúa Giê-su, Đấng sống đời đời và có chức tế lễ đời đời (Hê-bơ-rơ 7:24, 25). Các thầy tế lễ Lê-vi “hàng ngày” (Hê-bơ-rơ 7:27) và “hàng năm” (Hê-bơ-rơ 9:25) đã dâng những của dâng và của lễ “không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm” (Hê-bơ-rơ 9:9; 10:1–4).

Trong khi ấy, Đức Chúa Giê-su đã dâng chính Ngài “một lần đủ cả”, “dâng chỉ một của lễ” (Hê-bơ-rơ 10:10, 12–14) để tẩy sạch lương tâm của chúng ta (Hê-bơ-rơ 9:14; 10:1–10) và đặt tội lỗi ra xa (Hê-bơ-rơ 9:26). Sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su cao hơn sự hy sinh của động vật vì Ngài là Con Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 7:26–28), Đấng đã hoàn thành ý muốn của Đức Chúa Trời một cách hoàn hảo (Hê-bơ-rơ 10:5–10).

Việc mô tả sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su như đã xảy ra “một lần đủ cả” có một số ý nghĩa quan trọng.

Thứ nhất, sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su hoàn toàn hữu hiệu và không bao giờ bị qua mặt. Của lễ hy sinh của các thầy tế lễ Lê-vi được lặp lại vì chúng không hiệu quả; nếu không thì “Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhân đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao?” (Hê-bơ-rơ 10:2).

Thứ hai, tất cả các loại hy sinh khác nhau của Cựu Ước đều được ứng nghiệm và hoàn tất tại thập tự giá. Vì vậy, Đức Chúa Giê-su không chỉ tẩy sạch chúng ta khỏi tội lỗi (Hê-bơ-rơ 9:14), Ngài còn cung cấp sự nên thánh (Hê-bơ-rơ 10:10–14) bằng cách loại bỏ tội lỗi khỏi cuộc sống của chúng ta (Hê-bơ-rơ 9:26). Trước khi các thầy tế lễ có thể đến gần Đức Chúa Trời trong đền thánh và phục vụ vì dân sự, họ phải được tẩy rửa và thánh hóa, hoặc thánh hiến (Lê-vi Ký 8, 9). Sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su làm sạch chúng ta và thánh hiến chúng ta (Hê-bơ-rơ 10:10–14) để chúng ta có thể tự tin đến gần Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:19–23) và phục vụ Ngài với tư cách là “chức thầy tế lễ nhà vua” (Hê-bơ-rơ 9:14, 1 Phi-e-rơ 2:9).

Cuối cùng, sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su cũng mang lại sự nuôi dưỡng cho đời sống thiêng liêng của chúng ta. Sự hy sinh của Ngài là một gương mà chúng ta cần quan sát và làm theo. Do đó, thư Hê-bơ-rơ mời gọi chúng ta chăm mắt hướng lên Đức Chúa Giê-su, đặc biệt là các sự kiện trên thập tự giá, và đi theo sự dẫn dắt của Ngài (Hê-bơ-rơ 12:1–4; 13:12, 13).

Thập tự giá là căn bản, nền móng cho tất cả những lợi ích mà Chúa ban cho chúng ta. Nó cung cấp sự thanh sạch khỏi tội lỗi, sự thánh hóa để phục vụ, và nuôi dưỡng để lớn lên. Làm thế nào chúng ta có thể trải nghiệm càng thêm những gì chúng ta đã được ban cho trong Đức Chúa Giê-su?

Đọc Hê-bơ-rơ 9:22–28. Phân đoạn này nói gì về công việc của Đấng Christ nơi đền thánh trên trời?

Ý tưởng rằng đền thánh trên trời cần được làm sạch có ý nghĩa trong bối cảnh của đền thánh trong Cựu Ước. Đền thánh là biểu tượng của vương quốc Đức Chúa Trời (1 Sa-mu-ên 4:4, 2 Sa-mu-ên 6:2), và cách Đức Chúa Trời đối phó với tội lỗi của dân Ngài ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về sự công bình (Thi thiên 97:2). Với tư cách là người cai trị, Đức Chúa Trời là Thẩm phán của dân sự Ngài, và người ta trông đợi Ngài là công bằng, minh oan cho những kẻ vô tội và lên án những kẻ có tội. Như vậy, khi Đức Chúa Trời tha thứ cho tội nhân, Ngài mang trách nhiệm xét xử. Đền thánh, đại diện cho bản chất và sự điều hành của Đức Chúa Trời, đã bị ô nhiễm. Điều này giải thích tại sao Đức Chúa Trời chịu tội lỗi của chúng ta khi Ngài tha thứ (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:7, Dân số Ký 14:17–19, nguyên gốc tiếng Do Thái có nghĩa là “tha thứ” [nōśē’] trong những câu này có nghĩa là “cưu mang, gánh chịu”).

Hệ thống của tế lễ trong đền thánh của dân Y-sơ-ra-ên đã minh họa điểm này. Khi một người tìm kiếm sự tha thứ, anh ta mang một con vật làm vật hiến tế thay cho mình, thú nhận tội lỗi của mình trên nó và giết nó. Máu của con vật được rảy lên sừng của bàn thờ hoặc rắc trước tấm màn che trong đền thờ trong phần trước của đền thánh. Như thế, việc ấy tượng trưng cho tội lỗi đã được chuyển vào đền thánh. Đức Chúa Trời đã mang lấy tội lỗi của con người và gánh chịu tội lỗi của họ.

Trong hệ thống của dân Y-sơ-ra-ên, việc thanh tẩy hoặc chuộc tội xảy ra trong hai giai đoạn. Trong năm, những tội nhân ăn năn đã mang của lễ đến nơi thánh để tẩy sạch tội lỗi của họ nhưng tội lỗi đã chuyển vào nơi thánh, cho chính Đức Chúa Trời. Vào cuối năm, vào Ngày Đại Lễ Chuộc Tội, là ngày phán xét, Đức Chúa Trời sẽ dọn sạch nơi thánh, dọn sạch các trách nhiệm xét xử của Ngài bằng cách chuyển tội lỗi từ nơi thánh sang con dê tế thần, A-xa-sên, kẻ đại diện cho Sa-tan (Lê-vi Ký 16:15–22).

Hệ thống hai giai đoạn này, biểu hiện bởi hai phần trong đền thánh trên đất: nơi thánh và nơi chí thánh, là hình mẫu của nơi thánh trên trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:9, Hê-bơ-rơ 8:5), cho phép Đức Chúa Trời vừa thể hiện sự nhân từ và đồng thời công lý của Ngài. Những người thú nhận tội lỗi của họ trong năm đã thể hiện lòng trung thành với Đức Chúa Trời bằng cách tuân theo sự yên nghỉ trang trọng và tự chịu tội trong Ngày Đại Lễ Chuộc Tội (Lê-vi Ký 16:29–31). Những ai không thể hiện lòng trung thành sẽ bị “cắt bỏ” (Lê-vi Ký 23:27–32).

Hãy nghĩ xem bạn sẽ phải đối mặt với điều gì nếu phải đối diện với hình phạt chính đáng cho tội lỗi của mình. Sự thật ấy giúp bạn hiểu những gì Đấng Christ đã làm cho bạn như thế nào?

Đọc Rô-ma 3:21–26; 1:16, 17; và 5:8. Sự cứu chuộc trên Thập tự giá để được tha tội cho chúng ta tiết lộ điều gì về Đức Chúa Trời?

Việc tha tội của chúng ta như hai giai đoạn trong sự trung gian của Đức Chúa Giê-su trong hai phần của đền thánh thiên đàng. Trước tiên, Đức Chúa Giê-su đã xóa bỏ tội lỗi của chúng ta và chính Ngài mang chúng trên thập tự giá để ban sự tha thứ cho tất cả những ai tin Ngài (Công vụ 2:38, Công vụ 5:31). Trên thập tự giá, Đức Chúa Giê-su đã giành được quyền tha thứ cho bất cứ ai tin vào Ngài vì Ngài đã mang tội lỗi của họ. Ngài cũng đã khánh thành một giao ước mới, cho phép Ngài đặt luật pháp của Đức Chúa Trời vào lòng những người tin Chúa qua Đức Thánh Linh (Hê-bơ-rơ 8:10–12, Ê-xê-chi-ên 36:25–27).

Giai đoạn thứ hai trong thánh chức của Chúa Giê-su bao gồm sự phán xét và sự phán xét tiền Tái Lâm của Ngài (là điều vẫn còn trong tương lai theo quan điểm của thư Hê-bơ-rơ (Hê-bơ-rơ 2:1–4; 6:2; 9:27, 28; 10:25). Sự phán xét này bắt đầu với dân sự của Đức Chúa Trời như đã được mô tả trong Đa-ni-ên 7:9–27, Ma-thi-ơ 22:1–14 và Khải huyền 14:7. Mục đích của nó là thể hiện sự công bình của Đức Chúa Trời khi tha thứ cho dân sự của Ngài. Trong sự phát xét này, hồ sơ về cuộc đời của họ sẽ được mở ra cho toàn vũ trụ xem. Đức Chúa Trời sẽ tỏ bày mọi điều đã xảy ra trong lòng người tin Chúa và cách họ đón nhận Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Rỗi và chấp nhận Thánh Linh của Ngài trong đời sống của họ.

Nói về sự phán xét này, Ellen G. White viết: “Con người không thể tự mình trả lời cho những cáo buộc này. Trong chiếc áo nhơ bẩn vì tội lỗi của mình, xưng nhận mình là có tội, hắn ứng hầu trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Giê-su, Đấng Bênh Vực của chúng ta đưa ra một lời cầu xin thực sự thay mặt cho tất cả những ai bằng lòng ăn năn và đức tin đã cam kết gìn giữ linh hồn của họ cho Ngài. Ngài cầu xin cho duyên cớ của họ và phá đổ những lời tố cáo của kẻ tố cáo họ bằng những lý lẽ hùng hồn của Đồi Gô-gô-tha. Sự vâng phục hoàn toàn của Ngài đối với luật pháp của Đức Chúa Trời, ngay cả cho đến chết trên thập tự giá, đã ban cho Ngài mọi quyền năng trên trời dưới đất, và Ngài đòi sự nhân từ và hòa giải của Cha Ngài với con người tội lỗi . . . Nhưng trong khi chúng ta phải nhận ra tình trạng tội lỗi của mình, chúng ta phải trông cậy vào Đấng Christ là đấng của sự công bình, sự thánh hóa và sự cứu chuộc của chúng ta. Chúng ta không thể trả lời những cáo buộc của Sa-tan chống lại chúng ta. Chỉ một mình Đấng Christ có thể thay mặt chúng ta cầu xin một cách hiệu quả. Ngài có thể bịt miệng kẻ tố cáo bằng những lập luận không phải dựa nơi các công đức của chúng ta, mà là dựa vào công đức của chính Ngài.” — Testimonies to the Church, quyển 5, trang 471, 472.

Tại sao thập tự giá và chức vụ của Chúa Giê-su thay mặt chúng ta nhắc rằng chúng ta nên nhìn sự phán xét cách tự tin, nhưng với sự hạ mình và ăn năn?

Giáo sư Jiri Moskala đã giải thích bản chất của cuộc phán xét trước Sự Tái Lâm này. Đức Chúa Trời “không ở đó để bày tội lỗi của tôi ra như trong cửa sổ một cửa hàng. Trái lại, trước hết Ngài sẽ hướng về ân điển có quyền năng biến đổi đầy kinh ngạc của Ngài, và trước mặt toàn thể vũ trụ, Ngài, với tư cách là Nhân Chứng đích thực của cả cuộc đời tôi, sẽ giải thích thái độ của tôi đối với Đức Chúa Trời, động lực nào trong lòng tôi, suy nghĩ của tôi, những việc làm của tôi, định hướng và hướng sống của tôi. Ngài sẽ cho thấy tất cả. Đức Chúa Giê-su sẽ làm chứng rằng tôi đã phạm nhiều lỗi, rằng tôi đã vi phạm luật thánh của Ngài, nhưng tôi cũng đã ăn năn, cầu xin sự tha thứ, và đã được thay đổi bởi ân điển của Ngài. Ngài sẽ tuyên bố: ‘Huyết Ta là đủ cho tội nhân Moskala, định hướng cuộc sống của hắn là trên Ta, thái độ của hắn đối với Ta và những người khác là nồng nhiệt và không vị kỷ, hắn đáng tin cậy, hắn là đầy tớ tốt lành và trung thành của Ta.’” — Journal of the Adventist Theological Society 15 (Spring 2004), trang 155.

“Cả hai, những người được cứu chuộc và những sinh vật bất toàn sẽ tìm thấy trong thập tự giá của Đấng Christ, khoa học và bài ca của họ. Người ta sẽ thấy rằng vinh quang sáng ngời trước mặt Đức Chúa Giê-su là vinh quang của tình yêu hy sinh quên mình. Từ ánh sáng của đồi Gô-gô-tha, người ta sẽ thấy một định luật tình yêu thương quên cả chính mình và định luật đó chính là cuộc sống ở dưới đất cũng như ở trên trời. Tình yêu ‘không kiếm tư lợi cho mình’ khởi nguồn từ tấm lòng Đức Chúa Trời; và Đấng nhu mì và khiêm nhường đã biểu lộ bản tính của Đức Chúa Trời, mà Ngài ngự trong hào quang không ai có thể đến gần.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 19, 20.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Con người luôn có khuynh hướng dâng các của lễ hy sinh khác nhau cho Đức Chúa Trời để đổi lấy sự tha thứ hoặc sự cứu rỗi. Có những người dâng lên Chúa những hành động anh hùng hay những cuộc hành hương chuộc tội, v.v., những người khác dâng hiến một đời sống phục vụ, hoặc những hành động tự đọa đày, v.v. Những hành động này nên được nghĩ như thế nào dưới sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su và lời khẳng định của Kinh Thánh rằng thập tự giá đã chấm dứt mọi của lễ hy sinh (Đa-ni-ên 9:27, Hê-bơ-rơ 10:18)?

2. Đồng thời, vai trò của của lễ hy sinh trong đời sống của người tín đồ là gì? Đức Chúa Giê-su có ý gì khi Ngài nói rằng chúng ta cần vác thập tự giá của mình và theo Ngài (Ma-thi-ơ 16:24), hoặc sứ đồ Phao-lô khi nói rằng chúng ta nên dâng thân thể mình “làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (Rô-ma 12:1)? Cho biết mối quan hệ giữa các lời chỉ dẫn của Đức Chúa Giê-su trong Ma-thi-ơ 16:24, của Phao-lô (Rô-ma 12:1) và trong Hê-bơ-rơ 13:15, 16?

Bài Học 8, 12 — 18 Tháng 2, 2022

Chúa Giê-su, Đấng Trung Bảo Của Giao Ước Mới

CÂU GỐC: “Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm chúng ta đã được một chức vụ rất tôn trọng hơn, vì Ngài là Đấng trung bảo của giao ước tốt hơn, mà giao ước ấy lập lên trên lời hứa tốt hơn” (Hê-bơ-rơ 8:6).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 7:11–19; Hê-bơ-rơ 8:10–12; Giê-rê-mi 31:31–34; Hê-bơ-rơ 8:1–6; Xuất Ê-díp-tô Ký 24:1–8; Ê-xê-chi-ên 36:26, 27.

Bằng cách sống một cuộc sống hoàn hảo, và sau đó chết một cách thảm thương thế cho chúng ta, Đức Chúa Giê-su đã làm trung gian cho một giao ước mới tốt đẹp hơn giữa chúng ta và Đức Chúa Trời. Qua cái chết của Ngài, Đức Chúa Giê-su hủy bỏ hình phạt tử hình mà những kẻ vi phạm bị đòi phải trả, và thực hiện một giao ước mới cho chúng ta.

Lẽ thật được giải thích trong Hê-bơ-rơ 10:5–10, xác định Đức Chúa Giê-su đã biểu lộ sự vâng phục hoàn toàn theo như giao ước đòi hỏi. Câu này nói đến Thi thiên 40, đề cập ước muốn của Đấng Mê-si là hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Trời: “Bấy giờ tôi nói: Nầy tôi đến; Trong quyển sách đã có chép về tôi: Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi” (Thi thiên 40:7, 8). “Trong bối cảnh của nguyên bản, cụm từ này [‘làm theo ý muốn Chúa’] mô tả sự tuân giữ đạo đức theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Tác giả của Hê-bơ-rơ dùng cụm từ này để chỉ ra rằng sự hy sinh của Đấng Christ, là đã hoàn thành ý muốn của Đức Chúa Trời trong việc mang lại một sự chuộc tội có thể chấp nhận được, điều mà những con vật sinh tế đã không mang lại được.” — SDA Bible Commentary, quyển 7, trang 460.

Với Phao-lô, bài Thi thiên này có ý nghĩa đặc biệt với sự nhập thể của Đức Chúa Giê-su. Đức Chúa Giê-su là thể hiện sự vâng phục của giao ước mới. Ngài là tấm gương của chúng ta. Chúng ta đã được cứu, không chỉ vì cái chết của Ngài mà còn vì sự vâng lời hoàn toàn của Ngài.

Đọc Hê-bơ-rơ 7:11–19. Tại sao cần có một giao ước mới?

Theo sách Hê-bơ-rơ, việc Đức Chúa Giê-su được bổ nhiệm làm thầy tế lễ theo dòng Mên-chi-xê-đéc ngụ ý rằng một giao ước mới đã được khởi sự. Giao ước cũ đã được ban hành trên căn bản của chức tế lễ dòng Lêvi (Hê-bơ-rơ 7:11). Các thầy tế lễ Lê-vi đóng vai trò trung gian giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên, và luật pháp không cho phép bất cứ ai khác được giữ chức tế lễ. Sau đó, tác giả kết luận rằng việc thay đổi chức tế lễ có nghĩa là thay đổi luật pháp của chức tế lễ, cũng như thay đổi giao ước (Hê-bơ-rơ 7:12, 18, 19).

Vấn đề với giao ước cũ là nó không thể mang lại hoàn hảo (Hê-bơ-rơ 7:11). Phao-lô đang nói về chức tế lễ Lê-vi và chức vụ của nó (của lễ, con sinh tế, v.v.). Những vật dâng làm của lễ hy sinh, qua chúng không thể mang lại sự thanh sạch đích thực, hoàn toàn khỏi tội lỗi, cũng như không thể đến cùng Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:1–4; 9:13, 14; 10:19–23).

Sự thật rằng một giao ước mới là cần thiết không có nghĩa là Đức Chúa Trời đã không công bằng với dân Y-sơ-ra-ên khi Ngài ban cho họ giao ước cũ. Chức vụ Lê-vi và các nghi lễ trong đền tạm được thiết lập để bảo vệ họ khỏi sự thờ hình tượng và cũng để chỉ cho họ về chức vụ trong tương lai của Đức Chúa Giê-su. Hê-bơ-rơ nhấn mạnh rằng các của lễ “chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau” (Hê-bơ-rơ 10:1).

Bằng cách hướng họ đến Đức Chúa Giê-su, của lễ đáng lẽ đã giúp dân chúng đặt hy vọng và đức tin vào “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29; so sánh với Ê-sai 53). Đây cũng chính là điểm mà Phao-lô đưa ra khi ông nói rằng luật pháp “như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình” (Ga-la-ti 3:24) hoặc rằng “Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công bình” (Rô-ma 10:4).

Nói cách khác, ngay cả Mười Điều Răn, dù tốt và hoàn hảo đến mấy, cũng không thể mang lại sự cứu rỗi (Rô-ma 3:20–28, Rô-ma 7:12–14). Chúng cung cấp một tiêu chuẩn hoàn hảo của sự công bình, nhưng chúng không cung cấp sự công bình, bất quá nhìn vào gương có thể xóa đi những nếp nhăn của tuổi tác. Để có sự công bình trọn vẹn, chúng ta cần Chúa Giê-su làm Đấng thay thế cho mình.

Tại sao luật pháp không thể cứu chúng ta? Rốt cuộc, nếu chúng ta tuân giữ tất cả các điều răn và tuân giữ chúng tốt, thậm chí hoàn hảo — tại sao điều đó lại không cứu được chúng ta?

So sánh Hê-bơ-rơ 8:10–12 với Phục truyền 6:4–6, Phục truyền 30:11–14 và Giê-rê-mi 31:31–34. Chúng ta học hiểu được gì về bản chất của giao ước mới?

Lời hứa về một giao ước mới tiếng Hê-bơ-rơ được đề cập trong sách Giê-rê-mi. Theo Giê-rê-mi, lời hứa của Đức Chúa Trời về một giao ước mới, trên thực tế, là sự làm mới lại giao ước mà Ngài đã lập với Y-sơ-ra-ên lần đầu qua Môi-se (Giê-rê-mi 31:31–34). Do đó, có thể lập luận rằng Giê-rê-mi 31 đúng ra không nói về một giao ước “mới” mà là sự “đổi mới” giao ước ban đầu với Y-sơ-ra-ên. Trên thực tế, tĩnh từ “mới” trong tiếng Do Thái, hadashah, có thể có cả nghĩa là “đổi mới” và “hoàn toàn mới”.

Vấn đề với giao ước cũ là dân sự đã phá vỡ nó (Hê-bơ-rơ 8:8, 9). Giao ước không có sai; nhưng người ta đã sai. Nếu Y-sơ-ra-ên đã nhìn thấy qua các biểu tượng về Đấng Mê-si sắp đến và đặt niềm tin vào Ngài, thì giao ước đã không bị phá vỡ. Tuy nhiên, công bằng mà nói, có nhiều tín đồ trong suốt lịch sử Y-sơ-ra-ên đã giữ luật pháp Chúa trong lòng mà qua họ mục đích của giao ước đã được hoàn tất (Thi thiên 37:31; 40:8; 119:11; Ê-sai 51:7).

Tuy giao ước mới là sự đổi mới của giao ước cũ, nhưng trong một ý nghĩa nào đó, nó thực sự là mới. Lời hứa của Giê-rê-mi về một “giao ước mới” không chỉ đơn giản là hình dung sự đổi mới các điều kiện tồn tại trước thời lưu đày, mà đã bị phá vỡ và được gia hạn nhiều lần vì dân tộc đã nhiều lần rơi vào cảnh bội đạo. Và đó rất đơn giản, ấy là bởi vì dân sự không muốn tuân theo phần của họ trong giao ước với Đức Chúa Trời (Giê-rê-mi 13:23).

Vì vậy, Đức Chúa Trời hứa sẽ làm một “điều mới” (Giê-rê-mi 31:22). Giao ước sẽ không giống như giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập “với tổ phụ họ” (Giê-rê-mi 31:32). Vì sự bất trung của con người, những lời hứa mà Đức Chúa Trời đã lập theo giao ước Môi-se không bao giờ được thực hiện. Giờ đây, nhờ sự bảo đảm của Con (Hê-bơ-rơ 7:22), Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành các mục đích trong giao ước của Ngài. Đức Chúa Trời đã không thay đổi luật pháp của Ngài hoặc hạ thấp tiêu chuẩn của Ngài; thay vào đó, Ngài đã sai Con Ngài đến như một sự bảo đảm cho những lời hứa trong giao ước (Hê-bơ-rơ 7:22; 6:18–20). Đây là lý do tại sao giao ước này không có những lời nguyền rủa. Nó chỉ có các phước lành bởi vì Đức Chúa Giê-su đã làm nó được hoàn toàn hoàn tất vì chính Ngài đã trở thành sự nguyền rủa thế cho chúng ta (Ga-la-ti 3:13).

Đọc 2 Ti-mô-thê 2:13. Khi chúng ta nghĩ đến các mối quan hệ của mình với người khác và các kế hoạch của mình, chúng ta có thể học được gì từ sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài và với các kế hoạch của Ngài?

Đọc Hê-bơ-rơ 8:1–6. Tại sao Đức Chúa Giê-su là Đấng Trung Bảo tốt hơn của giao ước?

Danh từ mesitēs trong tiếng Hy Lạp (là người hòa giải) có nguồn từ chữ mesos (“ở giữa”) và biểu thị là một người đi hoặc đứng ở giữa. Đó là một thuật ngữ kỹ thuật dùng để chỉ một người hoàn thành một hoặc nhiều chức năng sau:(1) trọng tài giữa hai hoặc nhiều bên, (2) nhà đàm phán hoặc nhà môi giới kinh doanh, (3) nhân chứng theo nghĩa pháp lý của danh từ ấy, hoặc (4) một người đứng ra bảo lãnh và do đó, đảm bảo việc thực hiện một thỏa thuận.

Danh từ “người hòa giải” trong tiếng Anh là một bản dịch quá hẹp đối với mesitēs trong sách Hê-bơ-rơ vì nó chỉ tập trung vào hai hoặc ba cách sử dụng đầu của chữ Hy Lạp. Tuy nhiên, sách Hê-bơ-rơ nhấn mạnh chức năng thứ tư. Đức Chúa Giê-su không được quan niệm là “người hòa giải” theo nghĩa là Ngài giải quyết tranh chấp giữa Chúa Cha và loài người, hoặc như một người hòa giải, làm dịu các phe trong sự bất mãn, hoặc như một nhân chứng xác nhận sự tồn tại của hợp đồng hoặc sự đòi hỏi của hợp đồng. Thay vào đó, như thư Hê-bơ-rơ giải thích, Đức Chúa Giê-su là người bảo đảm (hoặc đoan chắc hay thế chân) cho giao ước mới (Hê-bơ-rơ 7:22). Trong thư Hê-bơ-rơ, danh từ “người hòa giải” tương đương với “người bảo lãnh”. Ngài bảo đảm rằng các lời hứa trong giao ước sẽ được thực hiện.

Sự chết của Đấng Christ làm cho việc thiết lập giao ước mới trở nên khả thi vì nó thỏa mãn những tuyên bố của giao ước đầu tiên với Y-sơ-ra-ên (và ngay cả với những con người đầu tiên trong vườn Ê-đen), đã bị phá vỡ (Hê-bơ-rơ 9:15–22). Theo nghĩa này, Đức Chúa Giê-su là người bảo đảm đã tự mình gánh lấy tất cả các nghĩa vụ pháp lý của giao ước đã bị phá vỡ. Theo một nghĩa khác, sự tôn cao của Đức Chúa Giê-su ở trên trời đảm bảo rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời với loài người sẽ được thực hiện (Hê-bơ-rơ 6:19, 20). Đức Chúa Giê-su bảo đảm giao ước bởi vì Ngài đã cho thấy rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời là sự thật. Bằng cách phục sinh Đức Chúa Giê-su và đặt Ngài ngự bên hữu mình, Đức Chúa Cha đã cho thấy rằng Ngài sẽ phục sinh chúng ta và cũng đưa chúng ta đến với Ngài.

Đức Chúa Giê-su là Đấng Trung Bảo vĩ đại hơn Môi-se vì Ngài phục vụ trong đền thánh trên trời và đã hiến dâng chính Ngài làm của lễ hoàn hảo cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 8:1–5; 10:5–10). Gương mặt của Môi-se phản ảnh sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:29–35), nhưng Đức Chúa Giê-su là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 1:3, Giăng 1:14). Môi-se nói chuyện trực diện với Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:11), nhưng Đức Chúa Giê-su là Lời của Đức Chúa Trời được nhân cách hóa (Hê-bơ-rơ 4:12, 13; Giăng 1:1–3, 14).

Phải, Đấng Christ đã thoả mãn hết mọi đòi hỏi của giao ước về sự vâng phục. Trong tinh thần này, thì vai trò của sự vâng lời trong cuộc sống của chúng ta là gì, và tại sao nó vẫn quan trọng đến vậy?

Rất dễ cho chúng ta nghĩ rằng giao ước mới có “những lời hứa tốt hơn” theo nghĩa là nó có phần thưởng lớn hơn giao ước cũ (quê hương trên trời, sự sống đời đời, v.v.). Sự thật là Đức Chúa Trời đã ban phần thưởng tương tự cho những người tin Chúa trong Cựu Ước như Ngài đã ban cho chúng ta (đọc Hê-bơ-rơ 11:10, 13–16). Trong Hê-bơ-rơ 8:6, “lời hứa tốt hơn” nói về các loại lời hứa khác nhau.

Giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên là một sự trao đổi chính thức về những lời hứa giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã chủ động giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập và hứa dẫn họ vào Đất Hứa.

So sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 24:1–8 và Hê-bơ-rơ 10:5–10. Điểm giống và khác nhau giữa hai lời hứa này là gì?

Giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên đã được phê chuẩn bằng máu. Máu này được rưới lên cả trên và dưới bàn thờ. Dân Y-sơ-ra-ên hứa sẽ vâng theo tất cả những gì Chúa đã phán.

“Điều kiện để được sống đời đời thì ngày nay cũng như xưa kia vậy —cũng giống như trong vườn địa đàng trước khi tổ phụ đầu tiên của chúng ta sa ngã — là vâng giữ trọn vẹn luật pháp Đức Chúa Trời, là công bình hoàn toàn. Nếu không cần theo đúng điều kiện nầy mà sự sống đời đời vẫn được ban cho thì hạnh phúc của toàn thể vũ trụ sẽ bị nguy ngập, nó sẽ mở đường cho tội lỗi cùng mọi sự rủa sả, tai ương và khốn khổ triền miên bất tuyệt.” — Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, trang 53.

Đức Chúa Trời làm trọn những đòi hỏi tuyệt đối của giao ước mới đối với chúng ta vì Ngài đã ban Con của Ngài đến và sống một cuộc đời hoàn hảo để những lời hứa trong giao ước được hoàn tất nơi Ngài, và sau đó được ban cho chúng ta bằng đức tin nơi Đức Chúa Giê-su. Sự vâng phục của Đức Chúa Giê-su bảo đảm cho các lời hứa trong giao ước (Hê-bơ-rơ 7:22). Những điều Đức Chúa Giê-su hoàn tất đòi hỏi Đức Chúa Trời phải ban cho Ngài những phước lành của giao ước, những phước lành mà sau đó được ban cho chúng ta. Thật vậy, những ai “ở trong Đấng Christ” sẽ được hưởng những lời hứa đó với Ngài. Thứ hai, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta Đức Thánh Linh của Ngài để ban cho chúng ta quyền năng đặng chúng ta thực hiện luật pháp của Ngài.

Đấng Christ đã thoả mãn những đòi hỏi của giao ước; do đó, việc thực hiện những lời hứa của Đức Chúa Trời đối với chúng ta không có gì phải nghi ngờ. Điều này giúp bạn hiểu ý nghĩa của 2 Cô-rinh-tô 1:20–22 như thế nào? Hy vọng tuyệt vời nào được tìm thấy ở đây cho chúng ta?

So sánh những lời hứa trong giao ước mới của Giê-rê-mi 31:33 và Ê-xê-chi-ên 36:26, 27. Chúng liên quan với nhau như thế nào?

Văn bản giao ước đầu tiên được Đức Chúa Trời viết trên bảng đá và được đặt vào hòm giao ước như một bằng chứng quan trọng về giao ước của Đức Chúa Trời với dân Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18, Phục truyền 10:1–4). Tuy nhiên, các tài liệu được viết bằng đá có thể bị phá vỡ; và các cuộn giấy, như Giê-rê-mi đã trải qua, có thể bị cắt ra và đốt cháy (Giê-rê-mi 36:23).

Nhưng trong giao ước mới, Đức Chúa Trời sẽ ghi luật pháp của Ngài trong lòng dân chúng. Trái tim đề cập đến tâm trí, cơ quan của trí nhớ và sự hiểu biết (Giê-rê-mi 3:15, Phục truyền 29:4), và đặc biệt là nơi đưa ra các quyết định có ý thức (Giê-rê-mi 3:10; 29:13).

Lời hứa này không chỉ đơn giản là đảm bảo quyền truy cập và hiểu biết về luật của tất cả mọi người. Nó cũng, và quan trọng hơn, là mang lại sự thay đổi trong lòng quốc gia. Vấn đề của Y-sơ-ra-ên là tội lỗi của họ được khắc “bằng bút sắt, bằng dùi kim cương; đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó” (Giê-rê-mi 17:1). Họ có một trái tim ngoan cố (Giê-rê-mi 13:10, Giê-rê-mi 23:17); do đó, họ không thể làm điều đúng (Giê-rê-mi 13:23).

Giê-rê-mi không công bố thay đổi luật pháp, vì vấn đề của Y-sơ-ra-ên không phải là luật pháp mà là tấm lòng. Đức Chúa Trời muốn sự trung thành của Y-sơ-ra-ên là một lòng biết ơn đáp lại với những gì Ngài đã làm cho họ; do đó, Ngài đã ban Mười Điều Răn cho họ với phần mở đầu lịch sử bày tỏ tình yêu thương và sự quan tâm của Ngài dành cho họ (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1, 2). Đức Chúa Trời muốn dân Y-sơ-ra-ên tuân theo luật pháp của Ngài như một sự thừa nhận rằng Ngài muốn điều tốt nhất cho họ, một lẽ thật được tiết lộ trong sự giải cứu vĩ đại của họ khỏi Ai Cập. Sự vâng lời của họ là một biểu hiện của lòng biết ơn, một biểu hiện về thực tế của mối quan hệ của họ.

Điều này cũng đúng với chúng ta ngày nay. Tình yêu và sự quan tâm của Đức Chúa Giê-su khi chết vì chúng ta là phần mở đầu của giao ước mới (Lu-ca 22:20). Sự vâng lời chân chính đến từ trái tim như một biểu hiện của tình yêu thương (Ma-thi-ơ 22:34–40). Tình yêu này là dấu hiệu phân biệt sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong đời sống của người tin Chúa. Đức Chúa Trời đổ tình yêu thương của Ngài trên chúng ta qua Thánh Linh của Ngài (Rô-ma 5:5), được bày tỏ bằng tình yêu thương (Ga-la-ti 5:22).

Nếu dân Y-sơ-ra-ên thời cổ yêu mến Đức Chúa Trời, ngay cả khi không hiểu về sự chết của Đấng Christ, thì tại sao chúng ta không yêu Đức Chúa Trời hơn họ? Làm thế nào để sự vâng phục biểu lộ thực tế của tình yêu thương đó?

“Nếu lòng chúng ta được đổi mới theo hình ảnh Chúa, nếu tình yêu thương thượng giới chôn sâu vào linh hồn chúng ta, ta há lại không thi hành theo luật pháp Ngài trong đời sống của chúng ta sao? Khi nguyên tắc của tình yêu đã ghi đậm trong lòng, khi con người được đổi mới theo hình ảnh Chúa là Đấng đã tạo nên mình, thì lời hứa của giao ước mới sẽ được thực hiện, “Ta sẽ để luật pháp Ta vào lòng chúng nó và ghi tạc nơi trí khôn” (Hê-bơ-rơ 10:16). Nếu luật pháp đã ghi vào lòng, nó không thay đổi cách ăn nết ở hay sao? Sự vâng lời — là chức vụ và phục tùng của tình yêu — là dấu hiệu thật của chức vụ sứ đồ. Kinh Thánh có nói về việc ấy như vầy, “Sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài.” “Kẻ nào nói: ‘Ta biết Ngài’, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người” (1 Giăng 5:3; 2:4). Đức tin và chỉ đức tin mà thôi, làm cho ta được dự phần trong ân điển của Đấng Cơ Đốc thay vì làm cho loài người không cần phải phục tùng nó nữa, và chính đức tin mới giúp ta vâng theo luật pháp được.

“Bạn càng đến gần Đức Chúa Giê-su bao nhiêu, càng thấy mình tội lỗi bấy nhiêu, vì thị giác thiêng liêng của bạn sẽ sáng tỏ hơn và mọi sự bất toàn sẽ lộ ra rõ rệt để tương phản với sự toàn vẹn của bản tánh Ngài. Đó là chứng cớ tỏ rõ sự quyến rũ của Sa-tan đã hết hiệu lực rồi và ảnh hưởng vô cùng sinh động của Đức Thánh Linh đang vùng dậy trong lòng bạn.

“Tình yêu thâm thúy đối với Đức Chúa Giê-su chẳng thể tồn tại trong một tấm lòng không nhìn biết tội lỗi của chính mình. Linh hồn được biến đổi bởi ân điển của Đấng Cơ Đốc sẽ ca ngợi bản tánh thiên thượng của Ngài; nhưng nếu chúng ta không thấy chính sự đồi bại của mình, đó là bằng chứng rõ ràng rằng chúng ta chưa trông thấy sự toàn thiện toàn mỹ của Đấng Cơ Đốc.” — Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, trang 52, 56.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

Hãy suy nghĩ về những lời của Ellen G. White ở trên. Việc chúng ta càng đến gần Đấng Christ, thì tội lỗi càng hiện rõ trong mắt mình cho chúng ta biết gì về việc chúng ta không được để sự nhận thức các khiếm khuyết của chính mình khiến chúng ta từ bỏ đức tin trong tuyệt vọng?

Hãy tập trung nhiều hơn vào ý tưởng rằng luật pháp đang được viết trong lòng chúng ta. Điều đó có ý nghĩa gì đối với đời sống thiêng liêng của một Cơ Đốc nhân? Làm thế nào việc hiểu và trải nghiệm lẽ thật này có thể giúp chúng ta tránh được kiểu “vâng lời” chỉ thực sự là chủ nghĩa hợp pháp, loại vâng lời được gọi là “việc làm đưa đến sự chết” (Hê-bơ-rơ 9:14)?

Bài Học 7, 5 — 11 Tháng 2, 2022

Chúa Giê-su, Neo Của Linh Hồn

CÂU GỐC: “Chúng ta giữ điều trông cậy nầy như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn, trong nơi thánh mà Đức Chúa Jêsus đã vào như Đấng đi trước của chúng ta, vì đã trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc” (Hê-bơ-rơ 6:19, 20).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 6:4–6, Ma-thi-ơ 16:24, Rô-ma 6:6, Hê-bơ-rơ 10:26–29, Hê-bơ-rơ 6:9–13, Hê-bơ-rơ 6:17–20.

Sách Hê-bơ-rơ, từ 5:11 – 6:20 làm gián đoạn giải trình thần học về chức thầy tế lễ Đức Chúa Giê-su vì chúng ta. Ở đây, Phao-lô thêm vào một khuyến cáo nghiêm trọng về sự nguy hiểm của việc rời xa khỏi Đấng Christ.

Rõ ràng, dân Chúa đang gặp nguy hiểm thực sự khi họ tuột vào con dốc trơn trợt của sự tự thương hại và thiếu trung tín. Sứ đồ Phao-lô ưu tư rằng độc giả và thính giả của ông có thể đã có những giác quan tâm linh bị xáo trộn vì những tình huống khó khăn mà họ đang gặp phải, và do đó họ đã ngừng phát triển trong sự hiểu biết và kinh nghiệm của họ về phúc âm.

Không phải đây cũng là mối nguy hiểm tiềm tàng đối với tất cả chúng ta, bị nản lòng vì các thử thách, và do đó rời xa dần chăng?

Lời cảnh báo nghiêm trọng càng nóng nảy, nhưng nó cũng là một sự khích lệ trìu mến. Phao-lô bày tỏ niềm tin vào độc giả của mình và tôn vinh Đức Chúa Giê-su là hiện thân của lời hứa về sự cứu rỗi không rạn vỡ của Đức Chúa Trời đối với họ (Hê-bơ-rơ 6:9-20). Chu trình cảnh báo và khuyến khích này được lặp lại trong Hê-bơ-rơ 10:26–39.

Chúng ta sẽ nghiên cứu chu trình này và tập trung vào những lời khích lệ mạnh mẽ mà Chúa Giê-su cung cấp cho chúng ta.

Đọc Hê-bơ-rơ 6:4, 5. Các tín đồ được ban cho điều gì trong Đấng Christ khi họ trung thành với Ngài?

Để được “soi sáng” có nghĩa là được trải nghiệm sự biến cải (Hê-bơ-rơ 10:32). Nó đề cập đến những người đã từ bỏ “bóng tối” của quyền lực của Sa-tan để gặp được “ánh sáng” của Đức Chúa Trời (Công vụ 26:17, 18). Nó ngụ ý sự giải thoát khỏi tội lỗi (Ê-phê-sô 5:11) và sự ngu muội (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:4, 5). Các chữ dùng ở đây gợi ý rằng giác ngộ này là một hành động đạt đến Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giê-su, “sự chói sáng của sự vinh hiển Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:3).

Để “đã nếm sự ban cho từ trên trời” và “dự phần về Đức Thánh Linh” là những biểu hiện đồng nghĩa. “Món quà” của Đức Chúa Trời có thể là ý nói về ân điển của Ngài (Rô-ma 5:15) hoặc là về Đức Thánh Linh, mà qua đó Đức Chúa Trời truyền đạt ân sủng ấy (Công vụ 2:38). Trong Giăng 7:37–39, và 1 Cô-rinh-tô 12:13 cho thấy những người có “nếm thử” Đức Thánh Linh đã trải nghiệm “ân điển” của Đức Chúa Trời, kể cả năng quyền để thực hiện ý muốn của Ngài (Ga-la-ti 5:22, 23).

Để “nếm đạo lành Đức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 6:5) là trải nghiệm cá nhân về lẽ thật của phúc âm (1 Phi-e-rơ 2:2, 3). “và quyền phép của đời sau” đề cập đến các phép lạ nhiệm mầu mà Đức Chúa Trời sẽ làm cho các tín đồ của tương lai: Phục sinh (Giăng 5:28, 29), hóa hình của cơ thể chúng ta và cuộc sống vĩnh cửu. Tuy nhiên, các kẻ tin Chúa, đang bắt đầu “nếm” các điều ấy trong hiện tại. Họ đã trải qua một sự phục sinh tâm linh (Cô-lô-se 2:12, 13), một tâm trí mới (Rô-ma 12:2) và sự sống đời đời trong Đấng Christ (Giăng 5:24).

Phao-lô khi viết các lời này đang nghĩ đến thế hệ đồng vắng, là những người đã trải nghiệm được ân sủng của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Ngài. Thế hệ đồng vắng đã được “giác ngộ” bởi cột lửa (Nê-hê-mi 9:12, 19; Thi thiên 105:39), tận hưởng món quà từ thiên đàng là Ma-na (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:15), trải nghiệm Đức Thánh Linh (Nê-hê-mi 9:20), đã nếm thử “lời lành mà Đức Giê-hô-va đã phán” (Giô-suê 21:45), và “quyền phép của đời sau” qua những “dấu kỳ phép lạ” được thực hiện trong sự giải thoát của họ ra khỏi Ai Cập (Công vụ 7:36). Tuy nhiên, Phao-lô gợi ý rằng giống như thế hệ đồng vắng đã phản nghịch Đức Chúa Trời, bất chấp những bằng chứng ấy (Dân số Ký 14:1–35), các độc giả và thính giả người Do Thái cũng có nguy cơ làm điều tương tự, bất chấp tất cả các bằng chứng của sự ưu ái của Chúa mà họ đã được ban bố.

Bạn đã từng có các kinh nghiệm cá nhân về những điều mà các câu Hê-bơ-rơ này nói đến? Chẳng hạn, làm thế nào bạn đã trải nghiệm sự “soi sáng” được nói đến ở đây?

So sánh Hê-bơ-rơ 6:4–6, Ma-thi-ơ 16:24, Rô-ma 6:6, Ga-la-ti 2:20, Ga-la-ti 5:24 và Ga-la-ti 6:14. Các sự so sánh này nói gì về những điều có nghĩa là đóng đinh Đấng Christ?

Văn bản gốc trong tiếng Hy Lạp nhấn mạnh đến chữ “không thể nào”. Thật vậy, Đức Chúa Trời không thể nào khôi phục những kẻ đã “rơi xa” vì “họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa” (Hê-bơ-rơ 6:6). Phao-lô muốn nhấn mạnh rằng không có sự cứu rỗi nào khác ngoại trừ qua Đức Chúa Giê-su Christ (Công vụ 4:12). Sự cứu rỗi bởi bất kỳ phương tiện nào khác là không thể được, “Đức Chúa Trời chẳng có thể nói dối” (Hê-bơ-rơ 6:18) hoặc để làm vui lòng Chúa mà “không có đức tin” (Hê-bơ-rơ 11:6).

Để đóng đinh một lần nữa Con của Đức Chúa Trời là một lối phát biểu tượng hình để cố gắng mô tả về một điều xảy ra trong mối quan hệ cá nhân giữa Đức Chúa Giê-su và người tín đồ.

Khi các nhà lãnh đạo tôn giáo đã đóng đinh Giê-su, họ đã làm điều đó bởi vì Đức Chúa Giê-su gây ra mối đe dọa đối với quyền tối cao và quyền tự chủ của họ. Do đó, họ hy vọng sẽ loại bỏ Ngài như là một con người và tiêu diệt một kẻ thù uy quyền và nguy hiểm. Cũng vậy, phúc âm thách thức chủ quyền và tự quyết của cá nhân ở cấp độ căn bản nhất. Bản chất của cuộc sống một Cơ Đốc nhân là nhận lấy thập giá và quên mình (Ma-thi-ơ 16:24). Điều này có nghĩa là để đóng đinh “thế gian” (Ga-la-ti 6:14), “người cũ” (Rô-ma 6:6), và “xác thịt với tình dục và dâm dục mình” (Ga-la-ti 5:24). Mục đích của cuộc sống Cơ Đốc nhân là chúng ta trải qua “sự chết”. Trừ khi chúng ta không tự trải nghiệm “sự chết” bản thân, chúng ta sẽ không thể nhận được cuộc sống mới mà Đức Chúa Trời muốn ban cho chúng ta (Rô-ma 6:1–11).

Cuộc đấu tranh giữa Đức Chúa Giê-su và bản ngã là một cuộc đấu tranh đến chết (Rô-ma 8:7, 8; Ga-la-ti 5:17). Đó là một trận chiến khó khăn mà không thể thắng ngay tức thì. Đoạn văn này không đề cập đến con người đôi khi thất bại trong trận chiến chống lại “người cũ” và “thịt”. Tội lỗi này đề cập đến con người, sau khi trải qua sự cứu rỗi thực sự và những gì nó ngụ ý (Hê-bơ-rơ 6:4, 5), quyết định rằng Đức Chúa Giê-su là một mối đe dọa đối với loại cuộc sống mà người ấy muốn có và đi đến quyết định giết bỏ mối quan hệ của họ với Ngài. Ấy là, miễn khi một người không hoàn toàn nhất quyết lựa chọn để quay lưng lại với Đấng Christ, thì họ vẫn còn hy vọng về sự cứu rỗi.

Tự chết “mình” đi, để nhận mang “thập tự giá” là gì? Điều nào mà bạn thấy khó khăn nhất để giao sự thống trị sang cho Đấng Christ là gì?

Lời khuyến cáo trong Hê-bơ-rơ 6:4–6 rất giống với lời khuyến cáo thấy trong Hê-bơ-rơ 10:26–29. Phao-lô giải thích rằng việc từ chối sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su sẽ không còn có phương tiện nào để được sự tha thứ tội lỗi mình vì không có phương tiện nào khác cho sự tha thứ ấy ngoài Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 10:1–14).

Đọc Hê-bơ-rơ 10:26–29. Có ba cách nào mà tác giả mô tả tội lỗi sẽ không có được sự tha thứ?

Tác giả không nói rằng không có sự chuộc tội cho bất kỳ tội lỗi nào vấp phạm sau khi đã nhận được kiến thức về lẽ thật. Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm Đức Chúa Giê-su là Đấng Ủng Hộ của chúng ta (1 Giăng 2:1). Qua Ngài, chúng ta có sự tha thứ mọi tội lỗi (1 Giăng 1:9). Cái tội mà không có sự hy sinh hoặc sự chuộc tội được mô tả là chà đạp dưới chân Con trai của Đức Chúa Trời, làm nhơ huyết của Giao Ước, và phạm đến Đức Thánh Linh (Hê-bơ-rơ 10:29). Hãy xem lại ý nghĩa của các hình thức này.

Những chữ “giày đạp Con Đức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 10:29) mô tả sự chối bỏ quy tắc của Đức Chúa Giê-su. Tước vị “Con Đức Chúa Trời” đã nhắc nhở các độc giả thư Hê-bơ-rơ rằng Đức Chúa Trời đặt Đức Chúa Giê-su bên tay phải của Ngài và Ngài hứa sẽ làm các kẻ thù mình thành “ghế gác chân” (Hê-bơ-rơ 1:13; Xem thêm Hê-bơ-rơ 1:5–12, 14). Giày đạp Đức Chúa Giê-su dưới chân ngụ ý rằng kẻ bội đạo đã xem Đức Chúa Giê-su là kẻ thù của mình. Trong bối cảnh theo những lời tranh luận trong sách Hê-bơ-rơ (Hê-bơ-rơ 1:13), các lời này có thể ngụ ý rằng, đối với một người bội đạo, trong đời họ, Đức Chúa Giê-su đã không còn ngồi trên ngôi Chúa nữa (và ngôi ấy hiện đang bị được chính anh ta, người bội đạo, ngồi trên) và Đức Chúa Giê-su chỉ là để anh ta dùng làm ghế gác chân. Đây cũng là những gì Lu-xi-phe đã muốn làm trên thiên đàng (Ê-sai 14:12–14) và là những gì mà “kẻ gian ác” sẽ cố gắng làm trong tương lai (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3, 4).

Các chữ “coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế” là nói về sự từ chối sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 9:15–22). Câu này nói ý rằng huyết của Đức Chúa Giê-su không còn quyền năng để tẩy sạch.

Các chữ “khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn” là những lời rất mạnh bạo. Động từ trong tiếng Hy Lạp enybrisas (“nhục mạ, phẫn nộ”) liên quan đến sự biểu hiện của sự kiêu ngạo, là nói đến “sự xấc xược” hoặc “sự kiêu ngạo”. Từ ngữ này tương phản rõ ràng với sự mô tả về Đức Thánh Linh là “Thần linh của ân điển”. Nó nói lên rằng kẻ bội đạo đã đáp ứng lại lời đề nghị ân điển của Đức Chúa Trời bằng lời nhục mạ.

Kẻ bội đạo ở một vị trí không thể được biện hộ nổi. Người ấy chối bỏ Đức Chúa Giê-su, sự hy sinh của Ngài và chối bỏ Đức Thánh Linh.

Sau những lời cảnh cáo mạnh mẽ nhưng chân thành của Hê-bơ-rơ 6:4–8, Phao-lô bày tỏ lòng tin tưởng rằng các độc giả mình không chối bỏ Đức Chúa Con trong hiện tại cũng như trong tương lai. Ông tin rằng khán thính giả của mình sẽ tiếp nhận sự cảnh báo của ông và sinh ra những trái phải lẽ. Họ như “trái đất”, được vun xới bởi Đức Chúa Trời và sẽ sinh những trái mà Ngài mong muốn. Họ sẽ nhận được phước lành từ Đức Chúa Trời, ấy là “sự cứu rỗi” (Hê-bơ-rơ 6:7, 9).

Đọc Hê-bơ-rơ 6:9–12. Liệt kê những điều tốt lành mà khán thính giả của thư này đã làm và tiếp tục làm và giải thích chúng có ý nghĩa gì.

Các tín đồ thể hiện tình yêu của họ đối với danh Chúa, ấy là họ đã phục vụ các thánh thì chẳng khác nào họ đã phục vụ Chúa. Đây không phải là những hành động chỉ làm một lần trong quá khứ, nhưng là những hành động tiếp diễn và đã kéo dài vào hiện tại. Các hành vi tuyệt vời không nói lên bản chất thật của một người. Bằng chứng rõ ràng của tình yêu đối với Chúa không nhất thiết là hành động “tín ngưỡng”, mà là hành động nhân ái đối với người đồng loại, nhất là với những kẻ thiệt thòi yếu kém (Ma-thi-ơ 10:42; 25:31–46). Do đó, Phao-lô khuyên các tín đồ đừng “quên” làm việc lành (Hê-bơ-rơ 13:2, 16).

Suy gẫm Hê-bơ-rơ 6:12. Nó cảnh cáo việc để mình trở thành “lười biếng” hoặc “trễ nải”, là đặc điểm của những người không trưởng thành và những người có nguy cơ bị vấp ngã (Hê-bơ-rơ 5:11; 6:12). Niềm hy vọng được giữ vững không bởi các bài tập trong trí về đức tin, nhưng là bởi đức tin bày tỏ qua các hành vi của tình yêu (Rô-ma 13:8–10).

Phao-lô muốn độc giả bắt chước những người mà bởi đức tin và sự kiên nhẫn mà họ thừa hưởng được các lời hứa. Ông đã trình bày thế hệ đồng vắng như một ví dụ tiêu cực của những người, bởi sự thiếu đức tin và lòng kiên trì, đã không thừa hưởng được những gì đã hứa. Sau đó, ông cho họ thấy Áp-ra-ham (Hê-bơ-rơ 6:13–15) như một thí dụ về một người bởi đức tin và lòng nhẫn nại mà đã được thừa hưởng các lời hứa. Danh sách các gương sáng đức tin được nêu lên trong Hê-bơ-rơ 11, và nó lên đến đỉnh điểm với gương của Đức Chúa Giê-su trong Hê-bơ-rơ 12. Chúa là thí dụ lớn nhất về đức tin và sự nhẫn nại (Hê-bơ-rơ 12:1–4). Trong Khải huyền 14:12, đức tin, nhẫn nại và giữ điều răn là đặc điểm của các thánh trong những ngày cuối cùng.

Đôi khi chúng ta phải đưa ra lời khuyến cáo cho những người mà chúng ta yêu mến. Chúng ta có thể học được gì từ sứ đồ về cảnh báo và khuyến khích người khác?

Phao-lô, cuối cùng, đưa ra lời cảnh báo nghiêm trọng của mình chống lại sự bội đạo, và ông khuyến khích sự yêu thương và đức tin bằng một lời bảo đảm tuyệt vời về sự trông cậy nơi Đấng Christ.

Đọc Hê-bơ-rơ 6:17–20. Đức Chúa Trời đã bảo đảm các lời hứa của Ngài với chúng ta như thế nào?

Đức Chúa Trời bảo đảm lời hứa của Ngài cho chúng ta qua nhiều cách. Trước hết, Ngài bảo đảm lời hứa của Ngài bằng một lời thề (Hê-bơ-rơ 6:17). Theo Kinh Thánh, lời thề của Chúa với Áp-ra-ham và Đa-vít đã trở thành một nền móng tối thượng cho sự tự tin vào sự ưu ái vĩnh viễn của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên. Khi Môi-se tìm cách bảo đảm sự tha thứ của Chúa đối với Y-sơ-ra-ên sau khi họ bội đạo với Ngài bằng con bò vàng, ông đã nhắc đến lời thề của Chúa với Áp-ra-ham (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 32:11–14, Sáng thế Ký 22:16–18). Chủ đích của lời cầu xin của Môi-se là nhắc Chúa rằng lời thề của Ngài là không gì xóa hủy được (Rô-ma 9:4; 11:28, 29).

Tương tự, khi tác giả Thi thiên can thiệp trước Đức Chúa Trời vì Y-sơ-ra-ên, người đã tuyên bố lời thề của Chúa với Đa-vít. Chúa đã nói: “Ta sẽ không hề bội giao ước ta, Cũng chẳng đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta. Ta đã chỉ sự thánh ta mà thề một lần, Cũng sẽ không hề nói dối với Đa-vít: Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, Và ngôi người sẽ còn lâu như mặt trời ở trước mặt ta. Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi như mặt trăng, Như đấng chứng thành tín tại trên trời vậy. Song Chúa lại từ bỏ, khinh bỉ người, Nổi giận cùng đấng chịu xức dầu của Chúa. Chúa đã gớm ghê giao ước kẻ tôi tớ Chúa, Và quăng mão triều người xuống bụi đất mà làm nó ra phàm” (Thi thiên 89:34–39). Theo Tân Ước, cả hai lời thề đã được thực hiện nơi Đức Chúa Giê-su, dòng dõi của Áp-ra-ham, đấng đã thăng thiên và được ngồi trên ngôi vua Đa-vít (Ga-la-ti 3:13–16; Lu-ca 1:31–33, 54, 55).

Thứ nhì, Đức Chúa Trời đã đảm bảo những lời hứa của Ngài với chúng ta bằng hành động đặt Đức Chúa Giê-su ngồi bên tay phải của mình. Sự thăng thiên của Đức Chúa Giê-su có mục đích chứng thực lời hứa được thực hiện cho các tín đồ vì Chúa Giê-su đã thăng thiên như một “Đấng đi trước của chúng ta” (Hê-bơ-rơ 6:20). Do đó, sự thăng thiên của Chúa cho chúng ta một sự chắc chắn về sự cứu rỗi của Chúa đối với chúng ta. Đức Chúa Trời đã mang Đức Chúa Giê-su đến vinh quang qua sự thống khổ của Ngài “đã vì mọi người nếm sự chết”, để Ngài có thể “đem nhiều con đến sự vinh hiển” (Hê-bơ-rơ 2:9, 10). Sự hiện diện của Đức Chúa Giê-su trước ngôi Cha là “cái neo của linh hồn” (Hê-bơ-rơ 6:19), đã được buộc chặt vào ngôi Đức Chúa Trời. Danh dự của sự cai trị của Đức Chúa Trời đã được Ngài cam đoan bằng việc hoàn tất lời hứa Ngài với chúng ta qua Đức Chúa Giê-su. Chúng ta còn cần sự đảm bảo nào hơn nữa?

Bạn cảm thấy gì khi nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã có một lời thề hứa với bạn? Vì sao chỉ tư tưởng ấy không thôi đã giúp bạn lòng đoan chắc vào sự cứu rỗi, ngay cả khi bạn cảm thấy mình không xứng đáng?

“Trận chiến chống lại bản ngã là trận chiến lớn nhất từ xưa đến nay. Việc dâng mình, đầu phục hoàn toàn theo thánh ý Chúa đòi hỏi một cuộc chiến đấu; nhưng ta phải giao linh hồn mình cho Chúa trước khi nó được đổi mới trong sự thánh khiết.” — Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, trang 37.

“Giăng mong muốn được trở thành như Đức Chúa Giê-su, và dưới ảnh hưởng biến đổi của tình yêu của Đấng Christ, ông đã trở nên hiền lành và thấp kém. Bản ngã đã được giấu kín trong Đức Chúa Giê-su. Hơn hết thảy các bạn đồng hành của mình, Giăng đã nhường bước cho uy quyền của cuộc sống diệu kỳ ấy . . .

“Ấy bởi tình yêu sâu xa của Giăng dành cho Đấng Christ đã khiến ông luôn mong muốn được sống bên cạnh Ngài. Đấng Cứu Rỗi thương yêu tất cả mười hai môn đệ, nhưng Giăng là kẻ có tinh thần dễ thu nhận nhất. Ông trẻ tuổi hơn những người khác, và với tâm lòng nhiều tin tưởng nhất của một đứa trẻ, ông đã mở lòng cho Đức Chúa Giê-su. Bởi thế, ông có nhiều thông cảm với Đấng Christ, và qua ông, sự giáo huấn tâm linh sâu sắc nhất của Đấng Cứu Rỗi đã được truyền đạt đến cho dân chúng . . .

“Vẻ đẹp của sự thánh khiết đã biến ông tỏa sáng với một sự rạng rỡ như Đấng Christ từ gương mặt ông. Bằng sự ngưỡng mộ và tình yêu ông đã níu chặt Đấng Cứu Rỗi cho đến khi đạt đến sự giống như Đấng Christ, và sự thông công với Ngài đã trở thành một niềm mong ước của ông, và trong bản tính của ông đã phản ảnh cá tính của Thầy mình.” — Ellen G. White, The Acts of the Apostles, trang 545.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Cuộc đời của Giăng, người môn đồ yêu dấu, và của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đã cho chúng ta thấy một sự tương phản quan trọng. Khi Đức Chúa Giê-su thấy hai anh em Giăng, Ngài đã gọi họ là “con trai của sấm sét”. Giăng có những khuyết điểm nghiêm trọng. Giu-đa cũng có khuyết điểm, nhưng các khuyết điểm ấy không gay cấn hay nghiêm trọng hơn Giăng. Tại sao Giăng đã đi đến chỗ biến đổi thành hình ảnh của Đức Chúa Giê-su trong khi Giu-đa thì phạm tội lỗi nghịch cùng Đức Thánh Linh? Sự khác biệt của hai người là gì?

2. Đức Chúa Giê-su kêu mời các tín đồ hãy vác thập giá mình mà theo Ngài. Sự khác biệt giữa việc vác thập giá mình và chịu để bị người khác lạm dụng là gì?

3. Tại sao Đức Chúa Trời đòi hỏi sự qui phục, đầu hàng hoàn toàn cuộc sống của chúng ta cho Ngài? Mối quan hệ giữa ý chí tự do và sự cứu rỗi là gì?

Bài Học 6, 29 Tháng 1 — 4 Tháng 2, 2022

Chúa Giê-su, Thầy Tế Lễ Trung Tín

CÂU GỐC: “Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời” (Hê-bơ-rơ 7:26).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 5:1–10; Sáng thế Ký 14:18–20; 1 Phi-e-rơ 2:9; Hê-bơ-rơ 7:1–3; Hê-bơ-rơ 7:11–16, 22, 26.

Tội lỗi đã làm chúng ta bị phân cách với Đức Chúa Trời. Khoảng cách ấy mỗi ngày một lớn hơn bởi vì tội lỗi cũng mỗi ngày càng làm bản chất chúng ta thêm băng hoại. Đức Chúa Trời là thánh khiết, và tội lỗi không thể hiện hữu trước mặt Ngài; vì vậy, bản chất ô uế của chính chúng ta đã ngăn cách chúng ta với Đức Chúa Trời, giống như hai thỏi nam châm đặt sai hướng đẩy nhau. Ngoài ra, bản chất ô uế của con người đã làm họ không thể tuân theo luật pháp của Đức Chúa Trời. Tội lỗi cũng mang đến sự hiểu lầm. Con người đã không nhìn thấy được tình yêu và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, và họ đi đến chỗ xem Ngài là phẫn nộ và đòi hỏi.

Tuần này, chúng ta sẽ nghiên cứu những điều tuyệt vời mà Cha và Con đã làm để bắc cầu nối liền khoảng cách ấy. Hê-bơ-rơ 5 – 7 phân tích kỹ lưỡng về chức thầy tế lễ của Đức Chúa Giê-su. Tác giả phân tích nguồn gốc và mục đích của nó (Hê-bơ-rơ 5:1–10); và sau đó khuyên người đọc đừng coi thường nó (Hê-bơ-rơ 5:11 – 6:8) mà hãy giữ vững niềm hy vọng mà nó mang lại (Hê-bơ-rơ 6:9–20). Ông cũng giải thích các đặc điểm của chức tế lễ của Ngài (Hê-bơ-rơ 7:1–10) và ý nghĩa của nó đối với mối quan hệ của Đức Chúa Trời với các tín đồ (Hê-bơ-rơ 7:11–28).

Đọc Hê-bơ-rơ 5:1–10. Vai trò của chức tế lễ là gì và theo các câu Kinh Thánh này. Đức Chúa Giê-su đã hoàn tất vai trò đó như thế nào?

Mục đích căn bản của chức tế lễ dòng Lê-vi là làm trung gian giữa con người tội lỗi và Đức Chúa Trời. Các thầy tế lễ đã được Đức Chúa Trời bổ nhiệm để phục vụ cho dân sự; do đó, họ cần phải nhân từ và hiểu biết về những yếu đuối của con người.

Trong Hê-bơ-rơ 5:5–10, Phao-lô cho thấy Đức Chúa Giê-su hoàn tất các mục đích ấy một cách toàn hảo: Đức Chúa Trời bổ nhiệm Ngài (Hê-bơ-rơ 5:5, 6), và Đức Chúa Giê-su cũng hiểu chúng ta vì Ngài cũng đã chịu đau khổ (Hê-bơ-rơ 5:7, 8).

Tuy nhiên, có một số sự khác biệt quan trọng. Đức Chúa Giê-su không được “từ trong loài người chọn ra” (Hê-bơ-rơ 5:1). Nhưng Ngài đã nhận chịu lấy bản thể con người để phục vụ trong chức vị một thầy tế lễ cho chúng ta. Đức Chúa Giê-su không dâng của lễ vì tội lỗi của chính Ngài (Hê-bơ-rơ 5:3) mà chỉ vì tội lỗi của chúng ta, bởi vì Ngài vô tội (Hê-bơ-rơ 4:15, Hê-bơ-rơ 7:26–28).

Hê-bơ-rơ nói rằng Đức Chúa Giê-su đã cầu nguyện “Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài, nên được nhậm lời” (Hê-bơ-rơ 5:7). Ở đây, sách Hê-bơ-rơ đang đề cập đến cái chết thứ hai, là cái chết mà Đức Chúa Trời đã cứu Đức Chúa Giê-su ra khỏi khi Ngài phục sinh Ngài (Hê-bơ-rơ 13:20). Hê-bơ-rơ cũng nói rằng Đức Chúa Giê-su “cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu” (Hê-bơ-rơ 5:8). Sự vâng lời là điều mới mẻ đối với Chúa Giê-su, không phải vì Ngài không vâng lời nhưng vì Ngài là Đức Chúa Trời. Là đấng tối cao trên vũ trụ, Đức Chúa Giê-su không phục tùng bất cứ ai; thay vào đó, mọi người đều phục tùng Ngài.

Những sự thống khổ và sự chết của Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá là một phần thiết yếu trong chức vụ tế lễ của Ngài. Những đau khổ Ngài gánh chịu đã không làm Đức Chúa Giê-su hoàn thiện trong cái nghĩa là chúng đã cải thiện Ngài về mặt luân lý hay đạo đức. Những đau khổ đã không làm cho Ngài nhân từ. Trái lại, Đức Chúa Giê-su đã là toàn thiện và Ngài đã đến thế gian này vì Ngài luôn nhân từ, đó là lý do tại sao Ngài thương xót chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:17). Ý của thư Hê-bơ-rơ là chính nhờ những đau khổ mà thực tại về tình yêu huynh đệ của Đức Chúa Giê-su, tính xác thực của bản chất con người của Ngài, và sự sâu xa của lòng phục tùng theo ý muốn Đức Chúa Cha, trong vai trò là đại diện cho nhân loại của Ngài. Ngài đã được “hoàn thiện” theo nghĩa là những đau khổ Ngài gánh chịu đã đủ điều kiện để Ngài trở thành thầy tế lễ Thượng phẩm của chúng ta. Chính cuộc đời vâng phục toàn vẹn của Ngài, và sau đó là cái chết của Ngài trên thập tự giá, đã xứng đáng là của lễ hy sinh mà Đức Chúa Giê-su đã dâng lên trước mặt Đức Chúa Cha với tư cách là thầy tế lễ của chúng ta.

1 Phi-e-rơ 2:9 nói rằng chúng ta là “thầy tế lễ nhà vua”. Cuộc đời của Đức Chúa Giê-su cho bạn biết được gì trong mối quan hệ của bạn với tha nhân phải thế nào, vì chúng ta đang ở trong vai trò thiêng liêng này?

Đọc Sáng thế Ký 14:18–20 và Hê-bơ-rơ 7:1–3. Mên-chi-xê-đéc là ai, và ông đã là hình ảnh đi trước Đức Chúa Giê-su như thế nào?

Mên-chi-xê-đéc vừa là một vị vua vừa là một thầy tế lễ. Địa vị ông cũng cao hơn Áp-ra-ham, vì Áp-ra-ham đã hoàn trả phần mười cho ông. Tương tự như vậy, Đức Chúa Giê-su là vua và thầy tế lễ (Hê-bơ-rơ 1:3); Tuy nhiên, không giống như Mên-chi-xê-đéc, Đức Chúa Giê-su vô tội (Hê-bơ-rơ 7:26–28). Hê-bơ-rơ 7:15 giải thích rằng Đức Chúa Giê-su là thầy tế lễ “giống như Mên-chi-xê-đéc”. Trước đó, trong Hê-bơ-rơ 5:6 thì viết rằng, “theo ban Mên-chi-xê-đéc”, có nghĩa là, Đức Chúa Giê-su không phải là người kế vị Mên-chi-xê-đéc, nhưng chức tế lễ của Ngài cũng tương tự như chức tế lễ của Mên-chi-xê-đéc.

Chẳng hạn, Phao-lô nói rằng Mên-chi-xê-đéc không có cha, mẹ, gia phả, ngày sinh và cái chết. Một số người cho rằng Mên-chi-xê-đéc là hóa thân của Đức Chúa Giê-su vào thời Áp-ra-ham. Nhưng lối suy diễn này không phù hợp với lập luận của thư Hê-bơ-rơ. Mên-chi-xê-đéc “giống” (Hê-bơ-rơ 7:3) Đức Chúa Giê-su, điều này ngụ ý rằng ông ta khác với Đức Chúa Giê-su (và chỉ tương tự như Ngài về những điểm kể trên thôi).

Người ta cũng cho rằng Mên-chi-xê-đéc là một đấng trên trời, nhưng điều này sẽ phá hủy lập luận của thư Hê-bơ-rơ. Nếu Mên-chi-xê-đéc không có cha, mẹ, bắt đầu hay kết thúc, thì ông sẽ là chính Đức Chúa Trời. Điều này đặt ra một vấn đề. Chức tế lễ thiên thượng của Mên-chi-xê-đéc như vậy đã có trước chức vụ của Đức Chúa Giê-su ư? Nếu trường hợp này xảy ra, như thư Hê-bơ-rơ nói, “thì cớ sao còn cần phải dấy lên một thầy tế lễ khác” (Hê-bơ-rơ 7:11)?

Thay vào đó, thư Hê-bơ-rơ dùng sự im lặng của Kinh Thánh liên quan đến sự ra đời, cái chết và gia phả của Mên-chi-xê-đéc để xây dựng một kiểu mẫu, biểu tượng, cho chức vụ tế lễ của Đức Chúa Giê-su (Sáng thế Ký 14:18–20) và tiết lộ rằng chính Đức Chúa Giê-su là vĩnh cửu. Nói tóm lại, Mên-chi-xê-đéc là một thầy tế lễ người Ca-na-an phục vụ như hình bóng Đấng Christ.

“Chính Đấng Christ đã nói qua Mên-chi-xê-đéc, thầy tế lễ của Đức Chúa Trời tối cao. Mên-chi-xê-đéc không phải là Đấng Christ, nhưng ông là tiếng nói của Đức Chúa Trời trong thế gian, là đại diện của Đức Chúa Cha. Và tất cả qua các thế hệ của quá khứ, Đấng Christ đã nói; Đấng Christ đã dẫn dắt dân Ngài, và là ánh sáng của thế gian.” — Ellen G. White, Selected Messages, quyển 1, trang 409.

Sự mặc khải về Mên-chi-xê-đéc dạy chúng ta biết gì về cách Đức Chúa Trời làm việc giữa những người chưa từng có được những nhà truyền giáo mang tin lành đến cho họ?

“Nếu có thể được sự trọn vẹn bởi chức tế lễ của người Lê-vi (vì luật pháp ban cho dân đang khi còn dưới quyền chức tế lễ), thì cớ sao còn cần phải dấy lên một thầy tế lễ khác, lập theo ban Mên-chi-xê-đéc, không theo ban A-rôn?” (Hê-bơ-rơ 7:11).

Chức vụ của các thầy tế lễ là trung gian giữa Đức Chúa Trời và con người. Tuy nhiên, thư Hê-bơ-rơ nói rằng các thầy tế lễ Lê-vi không thể tiếp cận Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn và tự tin vì họ không thể chu toàn sự hoàn hảo (Hê-bơ-rơ 7:11, 18, 19). Bởi vì nói cho cùng, cá nhân họ đã không toàn hảo; thì làm sao họ có thể ban sự toàn hảo cho người khác?

Cũng như việc dâng con sinh tế cũng không thể làm sạch lương tâm của tội nhân. Mục đích của các nghi lễ này là hướng đến chức vụ của Đức Chúa Giê-su và sự hy sinh của Ngài, là điều duy nhất có thể giúp tẩy sạch thật sự khỏi tội lỗi (Hê-bơ-rơ 9:14; 10:1–3, 10–14). Phận sự của các thầy tế lễ Lê-vi và các con sinh tế chỉ là tạm thời và mang tính minh họa. Qua chức vụ của họ, Đức Chúa Trời muốn dẫn dắt dân sự đặt niềm tin vào chức vụ trong tương lai của Đức Chúa Giê-su, “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).

Đọc Hê-bơ-rơ 7:11–16. Tại sao cần phải thay đổi luật pháp?
Hê-bơ-rơ 7:12 giải thích rằng việc thay đổi chức tế lễ khiến luật pháp phải thay đổi. Tại sao? Bởi vì có một luật rất nghiêm ngặt đã cấm một người không thuộc dòng dõi Lê-vi qua A-rôn làm thầy tế lễ (Dân số Ký 3:10; 16:39, 40). Hê-bơ-rơ 7:13, 14 giải thích rằng Đức Chúa Giê-su xuất thân từ dòng dõi Giu-đa, nên luật này cấm Ngài làm thầy tế lễ Lê-vi. Vì vậy, Phao-lô lập luận rằng việc bổ nhiệm Đức Chúa Giê-su làm thầy tế lễ có nghĩa là Đức Chúa Trời đã thay đổi luật của chức tế lễ.

Việc Đức Chúa Giê-su đến thế gian cũng ngụ ý sự thay đổi của luật dâng con sinh tế. Trước đó, tội nhân phải mang các con vật hy sinh khác nhau để được chuộc tội (Lê-vi Ký 1 – 7), nhưng bây giờ Đức Chúa Giê-su đã đến và dâng một của lễ hoàn hảo, luật các con vật hy sinh cũng không cần thiết nữa (Hê-bơ-rơ 10:17, 18), ấy là kết quả của giao ước mới và sự mặc khải đầy đủ hơn về chương trình cứu rỗi.

Hãy nghĩ về số lượng vô số của lễ dâng con vật sinh tế từ thời cổ đại, tất cả đều chỉ về Đức Chúa Giê-su, nhưng không một con nào trong số chúng — hoặc tất cả chúng — có thể thực sự đền tội cho tội lỗi của chúng ta. Tại sao chỉ có cái chết của Đức Chúa Giê-su mới có thể trả giá cho tội lỗi chúng ta?

Đọc Hê-bơ-rơ 7:16. Trên nền tảng nào Đức Chúa Giê-su trở thành thầy tế lễ?

Đức Chúa Giê-su đã nhận chức tế lễ trên nền tảng của một đời sống không thể bị phá hủy và bởi vì Ngài nắm giữ một chức vụ vĩnh cửu. Hàm ý của các sự thật này thật đáng kinh ngạc. Có nghĩa là chức vụ của Đức Chúa Giê-su sẽ không bao giờ bị vượt qua hoặc bị đánh bại. Đức Chúa Giê-su cứu hoàn toàn, vĩnh viễn, “đến cùng” (Hê-bơ-rơ 7:25). Sự cứu rỗi mà Ngài mang đến là hoàn tất và chung cuộc. Nó đạt đến những khía cạnh sâu xa nhất của bản chất con người (Hê-bơ-rơ 4:12; 9:14; 10:1–4). Sự cầu thay của Ngài trước mặt Đức Chúa Trời bao gồm tất cả những lợi ích được ban cho theo giao ước mới.

Nó cũng bao gồm nhiều thứ hơn chỉ là sự tha thứ tội lỗi. Nó ngụ ý đặt luật pháp vào lòng chúng ta, khiến chúng ta trở thành người mới trong Ngài, và dẫn đến việc phổ biến phúc âm cho thế giới (Hê-bơ-rơ 8:10–12). Là Một với Đức Chúa Trời và với loài người, Ngài đại diện cho chúng ta trước mặt Đức Chúa Cha. Là Đấng đã dâng mạng sống của Ngài làm của lễ, Đức Chúa Giê-su có đầy ân sủng vững chắc trước mặt Đức Chúa Trời.

Đọc Hê-bơ-rơ 7:22. Đức Chúa Giê-su liên quan thế nào với giao ước mới?

Đức Chúa Giê-su là sự bảo đảm cho giao ước mới bởi vì Đức Chúa Trời đã tuyên thệ rằng Đức Chúa Con sẽ là thầy tế lễ “đời đời” (Hê-bơ-rơ 7:21). Rất dễ cho nhiều người không hiểu được tầm quan trọng của lời thề này. Phao-lô đã nói đến những lời thề của Đức Chúa Trời đối với thế hệ đồng vắng và Áp-ra-ham (Hê-bơ-rơ 3:7–11; 6:13–15). Sự khác biệt giữa những lời thề đó và lời thề mà Đức Chúa Trời đã thề với Con là những lời thề đó được thực hiện cho những con người phàm tục. Lời thề sẽ có hiệu lực miễn là những người hưởng lợi còn sống. Lời thề của Đức Chúa Trời với thế hệ đồng vắng và với Áp-ra-ham còn ràng buộc chừng nào có một thế hệ đồng vắng và con cháu của Áp-ra-ham (xem Ga-la-ti 3:29).

Tuy nhiên, trong trường hợp của Đức Chúa Con, là Đấng mà sự sống “không thể bị phá hủy”, lời thề mà Đức Chúa Trời đã lập với Ngài sẽ ràng buộc mãi mãi. Một người đứng ra bảo lãnh hoặc bảo lãnh cho người khác phải chịu các hình phạt tương tự như người mà anh ta đứng tên bảo lãnh, kể cả cái chết. Tuy nhiên, Đức Chúa Cha đã thiết lập Đức Chúa Giê-su như một bảo đảm cho chúng ta rằng Ngài sẽ không “trốn nợ” về những lời hứa của Ngài. Đó là cách chúng ta có thể chắc chắn về sự cứu rỗi mà chúng ta đã được ban trong Đức Chúa Giê-su.

Đọc Hê-bơ-rơ 7:26. Năm đặc điểm của Đức Chúa Giê-su trong câu này là gì?

Đức Chúa Giê-su là “thánh khiết.” Điều này có nghĩa là Ngài không có lỗi trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 2:18; 4:15; 5:7, 8). Bản dịch Kinh Thánh Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp cũ đã sử dụng cùng một từ ngữ tiếng Hy Lạp để chỉ những người duy trì mối quan hệ giao ước của họ với Đức Chúa Trời và với những người khác.

Đức Chúa Giê-su “không bị ô uế ”. Ngài vẫn trong sạch và không bị điều ác làm ảnh hưởng, mặc dù bị cám dỗ trong “mọi điểm” (Hê-bơ-rơ 4:15; 2:18). Sự vô tội hoàn toàn của Đức Chúa Giê-su rất quan trọng đối với chức tế lễ của Ngài. Giao ước cũ quy định rằng các con sinh tế phải “không tỳ vết” để được Đức Chúa Trời chấp nhận (Lê-vi Ký 1:3, 10, v.v.). Sự vâng phục hoàn toàn của Đức Chúa Giê-su trong suốt cuộc đời trên đất của Ngài khiến Ngài có thể dâng chính Ngài như một của lễ xứng đáng được chấp nhận cho Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 9:14).

Đức Chúa Giê-su đã “biệt khỏi kẻ có tội” khi Ngài lên trời. Thì của động từ này trong tiếng Hy Lạp gợi ý rằng đây là một trạng thái hiện tại của Đức Chúa Giê-su, bắt đầu vào một thời điểm nhất định. Đức Chúa Giê-su đã phải chịu đựng sự thù hằn của những con người tội lỗi trong suốt cuộc đời trên đất của Ngài, nhưng Ngài đã chiến thắng và sau đó được ngự bên hữu Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 12:2, 3). Đức Chúa Giê-su cũng “tách biệt (không xếp cùng hàng ngũ) khỏi kẻ có tội” ở chỗ Ngài hoàn toàn vô tội (Hê-bơ-rơ 4:15).

Đức Chúa Giê-su đã “được tôn cao . . . trên các tầng trời.” Nó có nghĩa là Ngài đã được tôn cao hơn tất cả mọi thứ hiện hữu và do đó, Ngài là một với Đức Chúa Trời. Trong Thi thiên, Đức Chúa Trời là Đấng “được tôn cao trên các từng trời” (Thi thiên 57:5, 11; 108:5).

Đức Chúa Giê-su hoàn toàn là con người, nhưng Ngài không phải là một con người tội lỗi như chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:14–16; 4:15). Ngài là hoàn hảo, không những chỉ vì Ngài không bao giờ phạm tội mà vì Ngài không bị tội lỗi làm hư hỏng như chúng ta.

Tuy nhiên, vì Ngài cũng hoàn toàn là con người, nên Ngài cũng là tấm gương của chúng ta. Ngài chỉ cho chúng ta cách điều hành cuộc đua của đời sống mình (Hê-bơ-rơ 12:1–4). Ngài là tấm gương mà chúng ta phải noi theo (1 Phi-e-rơ 2:21–23). Bởi vì Ngài là “thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời” (Hê-bơ-rơ 7:26), nên Ngài là Đấng Cứu Rỗi của chúng ta, và chúng ta cũng có thể phản ảnh đặc tính của Ngài.

Mặc dù Đức Chúa Giê-su là một con người, như chúng ta, nhưng Ngài không bao giờ phạm tội. Làm thế nào để tư tưởng chúng ta hiểu được ý niệm tuyệt vời này? Hãy suy nghĩ về việc Ngài phải thánh khiết đến mức nào! Vậy thì tại sao lời hứa rằng chúng ta được hưởng sự thánh khiết của Ngài bởi đức tin phải là điều giúp đảm bảo cho chúng ta về sự cứu rỗi?

“Đấng Christ đang quan sát. Ngài biết tất cả về mọi gánh nặng, sự hiểm nghèo và khó khăn của chúng ta; và Ngài có mọi lời lập luận để biện hộ vì chúng ta. Mỗi lời cầu thay của Ngài phù hợp với mỗi nhu cầu của mỗi linh hồn, như Ngài đã làm trong trường hợp của Phi-e-rơ . . . Đấng Trung Bảo của chúng ta dùng mọi lời của lý lẽ để day dỗ những ai thuộc về Ngài mà đã gặp thử thách và cám dỗ để họ chống lại sự dỗ dành của Sa-tan. Ngài diễn giải mọi chuyển động của kẻ thù. Ngài sắp xếp mọi diễn biến.” — Ellen Ellen G. White, The SDA Bible Commentary, bộ 7, trang 931 (Thư số 90, 1906).

“Mục đích của Sa-tan là gây ra sự xa cách vĩnh viễn giữa Đức Chúa Trời và con người; nhưng trong Đấng Christ, chúng ta trở nên kết hợp chặt chẽ hơn với Đức Chúa Trời như thể chúng ta chưa từng sa ngã. Khi nhận lấy bản chất của chúng ta, Đấng Cứu Rỗi đã ràng buộc chính Ngài với nhân loại bằng một sự ràng buộc không bao giờ bị phá vỡ . . . Đây là lời cam kết mà Đức Chúa Trời sẽ hoàn tất. “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài.” Đức Chúa Trời đã chấp nhận bản chất con người trong con người của Con Ngài, và đã mang người đó vào ngôi cao nhất của thiên đàng. Đó là ‘Con người’, đấng cùng ngồi trên ngôi của vũ trụ. Đó là ‘Con người’ mà người ta sẽ gọi tên là ‘Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an’ (Ê-sai 9:6). Đấng TA LÀ là Đấng môi giới giữa Đức Chúa Trời và nhân loại, đặt bàn tay của Ngài trên cả hai. Đấng ‘thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội’ đã không hổ thẹn khi gọi chúng ta là anh em (Hê-bơ-rơ 7:26; 2:11). Trong Đấng Christ, gia đình dưới đất và gia đình trên trời được liên kết với nhau. Đấng Christ được tôn vinh nay là anh em của chúng ta. Thiên đàng được lưu giữ trong nhân loại, và nhân loại được bao bọc trong lòng của Tình yêu Vô hạn.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 25, 26.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Đoạn trích dẫn thứ nhất bên trên nói, “Ngài [Đức Chúa Giê-su] có mọi lời lập luận để biện hộ vì chúng ta.” Lời hứa đó có ý nghĩa gì với bạn? Hãy nghĩ về điều này dạy chúng ta điều gì về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Tại sao ý tưởng này lại khuyến khích lòng chúng ta như vậy? Tại sao chúng ta phải cần một ai đó đặng biện hộ cho chúng ta?

2. Trích dẫn thứ nhì bên trên nói, “trong Đấng Christ, chúng ta trở nên kết hợp chặt chẽ hơn với Đức Chúa Trời như thể chúng ta chưa từng sa ngã.” Điều đó nghĩa là gì? Làm thế nào chúng ta có thể trải nghiệm sự gần gũi đó, và bạn có thể rút ra được sự thoải mái nào từ trải nghiệm đó? Trong lớp, hãy mô tả ý nghĩa của sự gần gũi này và trải nghiệm nó như thế nào. Làm thế nào để “những lập luận biện hộ vì chúng ta” của Ngài giúp chúng ta có kinh nghiệm này?

Bài Học 5, 22 — 28 Tháng 1, 2022

Chúa Giê-su, Đấng Ban Sự Yên Nghỉ

CÂU GỐC: “Vậy thì còn lại một ngày yên nghỉ cho dân Đức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 4:9).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 15:13–21; Hê-bơ-rơ 3:12–19; Hê-bơ-rơ 4:6–11; Hê-bơ-rơ 4:1, 3, 5, 10; Phục truyền 5:12–15; Hê-bơ-rơ 4:8–11.

Hê-bơ-rơ đoạn 1 và 2 tập trung vào việc lên ngôi của Đức Chúa Giê-su là Đấng cai trị và giải phóng dân sự của Đức Chúa Trời. Hê-bơ-rơ đoạn 3 và 4 giới thiệu Đức Chúa Giê-su là Đấng sẽ ban sự yên nghỉ cho chúng ta. Chu trình này có ý nghĩa khi chúng ta nhớ rằng giao ước Đa-vít đã hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho dân Ngài vị vua của lời hứa và dân của vua sẽ được “yên nghỉ” khỏi các kẻ thù của họ (2 Sa-mu-ên 7:10, 11). Sự yên nghỉ này cũng dành cho chúng ta ngày nay vì giờ đây Đức Chúa Giê-su đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời.

Hê-bơ-rơ mô tả sự yên nghỉ ấy vừa là sự yên nghỉ thuộc về Đức Chúa Trời vừa là sự yên nghỉ Sa-bát (Hê-bơ-rơ 4:1–11). Đức Chúa Trời đã ban sự yên nghỉ này, vốn là của Ngài, cho A-đam và Ê-va. Ngày Sa-bát đầu tiên là trải nghiệm về sự hoàn hảo với đấng đã biến sự hoàn hảo đó thành hiện thực. Đức Chúa Trời cũng hứa một sự yên nghỉ Sa-bát bởi vì việc giữ ngày Sa-bát thực sự thể hiện lời hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ mang sự hoàn hảo đó trở lại (cho thế gian này).

Khi giữ ngày Sa-bát, chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời đã cung cấp chu toàn cho chúng ta khi Ngài tạo dựng thế gian và khi Ngài chuộc nó trên cây thập tự. Hơn thế nữa, sự giữ ngày Sa-bát thật, ngoài việc đầu tiên và quan trọng nhất là hướng chúng ta trở về với sự Sáng tạo, còn cho chúng ta được nếm trước, ngay trong thế giới không hoàn hảo này, về tương lai mà Đức Chúa Trời đã hứa là thế nào.

Đọc Sáng thế Ký 15:13–21. Đức Chúa Trời hứa gì với Áp-ra-ham?

Khi Đức Chúa Trời giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ ở Ai Cập, mục đích của Ngài là đưa dân Y-sơ-ra-ên đến xứ Ca-na-an, nơi họ có thể tự do phục vụ và vâng lời Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 8:1; Thi thiên 105:43–45), kể cả việc được tận hưởng sự yên nghỉ trong ngày Sa-bát mà Pha-ra-ôn đã cấm cản (Xuất Ê-díp-tô Ký 5:5).

Đất Ca-na-an là cơ nghiệp mà Đức Chúa Trời đã hứa cho tổ phụ Áp-ra-ham vì ông đã vâng theo tiếng Đức Chúa Trời và rời quê hương mình để đến Đất Hứa (Sáng 11:31 – 12:4).

Mục đích của Đức Chúa Trời khi ban đất cho Y-sơ-ra-ên không chỉ đơn giản là để họ chiếm hữu nó. Ngài đã đưa họ đến với Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4). Đức Chúa Trời muốn họ sống trong một vùng đất nơi họ có thể tận hưởng mối quan hệ mật thiết với Ngài mà không gặp bất kỳ trở ngại nào, và cũng sẽ là nhân chứng cho thế giới biết Đức Chúa Trời thật là ai và những gì Ngài đã ban cho dân Ngài. Giống như ngày Sa-bát của sự sáng tạo, xứ Ca-na-an là một khuôn khổ có thể tạo nên mối quan hệ mật thiết với Đấng Cứu Chuộc của họ và hưởng sự tốt lành của Ngài.

Trong Phục truyền Luật lệ Ký 12:1–14, Chúa nói với dân sự rằng họ sẽ bước vào sự yên nghỉ, không chỉ khi họ vào đất, mà khi họ đã thanh trừng đất khỏi việc thờ hình tượng. Sau đó, Đức Chúa Trời sẽ chỉ cho họ, Dân Được Chọn, một nơi mà Ngài sẽ ở giữa vòng họ.

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11 và Phục truyền 5:12–15. Hai điều nào mà sự yên nghỉ Sa-bát tưởng niệm, và chúng có liên quan với nhau như thế nào?

Đức Chúa Trời đã kết nối ngày Sa-bát của sự tạo thế với sự giải cứu khỏi Ai Cập. Ngài chỉ thị cho dân Y-sơ-ra-ên phải xem ngày Sa-bát như là một kỷ niệm của công trình sáng tạo và như là một kỷ niệm về sự cứu chuộc của họ khỏi Ai Cập. Sự sáng tạo và sự cứu chuộc đều được ghi nhận trong điều răn ngày Sa-bát. Cũng như chúng ta đã không tự tạo nên chính mình, chúng ta cũng không thể tự chuộc tội mình. Đó là công việc mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm, và bằng cách nghỉ ngơi, chúng ta thừa nhận sự lệ thuộc của mình nơi Ngài, không chỉ để tồn tại mà còn cho sự cứu rỗi. Việc giữ ngày Sa-bát là một biểu hiện hùng hồn về sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin.

Làm thế nào để việc giữ ngày Sa-bát giúp chúng ta hiểu sự hoàn toàn lệ thuộc của chúng ta vào Đức Chúa Trời, không chỉ cho sự tồn tại mà còn cho sự cứu rỗi?

Đọc Hê-bơ-rơ 3:12–19. Tại sao Y-sơ-ra-ên không thể tham gia vào sự yên nghỉ của lời hứa?

Câu chuyện đáng buồn là những người được giải cứu khỏi Ai Cập đã không được vào sự yên nghỉ mà Đức Chúa Trời đã hứa với họ. Khi Y-sơ-ra-ên đến Ka đét Ba-nê-a, ngay bên bờ biên giới của Đất Hứa, họ đã thiếu đức tin mà họ cần có. Dân số Ký 13 và 14 giải thích rằng những người do thám, “các người đó phao phản xứ mình đã do thám” (Dân số Ký 13:32). Họ khẳng định rằng vùng đất thì tốt, nhưng họ cảnh báo rằng dân cư rất hùng mạnh và các thành phố thì kiên cố, và họ sẽ không thể chinh phục nó.

Giô-suê và Ca-lép đồng ý vời lời tường trình, nhưng họ nói rằng Đức Chúa Trời ở với họ và Ngài sẽ mang họ vào đất hứa (Dân số Ký 14:7–9). Vậy mà, những người đã thấy Đức Chúa Trời hủy diệt Ê-díp-tô bằng những cơn dịch (Xuất Ê-díp-tô Ký 7 – 12), tiêu diệt quân đội của Pha-ra-ôn trong Biển Đỏ (Xuất 14), ban họ bánh từ trời (Xuất 16) và nước từ vầng đá (Xuất 17), cũng như thể hiện sự hiện diện và hướng dẫn liên tục của Ngài qua trụ lửa và đám mây (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:36–38) — họ lại thiếu lòng tin cậy nơi Ngài lúc này. Thật là oái ăm bi thảm khi toàn thế hệ được chứng kiến những sự kiện thể hiện quyền năng của Đức Chúa Trời vĩ đại như vậy lại trở thành biểu tượng của sự bất trung (Nê-hê-mi 9:15–17, Thi thiên 106:24–26, 1 Cô-rinh-tô 10:5–10).

Đức Chúa Trời hứa với con cái Ngài những món quà vượt quá tầm với của con người. Đó là lý do tại sao các món quà ấy là do ân sủng, và người ta chỉ có thể tiếp cận chúng bởi đức tin. Hê-bơ-rơ 4:2 giải thích rằng lời hứa mà Y-sơ-ra-ên nhận được “không ích chi hết, vì trong khi nghe, chẳng lấy đức tin nhận lời đó thuộc về mình.”

Y-sơ-ra-ên đi đến biên giới của Đất Hứa với tư cách là một quốc gia. Khi dân ấy phải đối mặt với những báo cáo trái ngược nhau, họ đã nghe và hùa theo với những kẻ thiếu đức tin. Đức tin, hoặc sự thiếu đức tin, rất dễ lây lan. Đó là lý do tại sao thư Hê-bơ-rơ khuyên người đọc “khuyên bảo lẫn nhau” (Hê-bơ-rơ 3:13), “khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành” (Hê-bơ-rơ 10:24), và “kẻo có kẻ trật phần ân điển của Đức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 12:15).

Bạn có thể giúp bồi đắp đức tin của anh em đồng đạo bằng những cách nào? Làm thế nào bạn có thể đảm bảo rằng bạn không bao giờ nói hoặc làm bất cứ điều gì có thể làm suy yếu đức tin của người khác?

Đọc Hê-bơ-rơ 4:4–8. Ý nghĩa của việc đi vào sự yên nghỉ “ngày nay” liên quan đến việc giữ ngày Sa-bát là gì?

Sự thiếu niềm tin của thế hệ trong đồng vắng đã ngăn cản họ bước vào sự yên nghỉ mà Đức Chúa Trời đã hứa. Nhưng Đức Chúa Trời không ngừng thúc giục dân Ngài bước vào sự yên nghỉ này và đừng cứng lòng. Phao-lô lặp lại nhiều lần rằng lời hứa của Đức Chúa Trời “vẫn còn” (Hê-bơ-rơ 4:1, 6, 9). Ông đã sử dụng các động từ tiếng Hy Lạp kataleipō và apoleipō, nhấn mạnh rằng “Vậy, đang khi còn có lời hứa cho vào sự yên nghỉ Chúa” (Hê-bơ-rơ 4:1). Sự thật rằng lời mời vào sự yên nghỉ đã được lặp lại vào thời Đa-vít (Hê-bơ-rơ 4:6, 7, đề cập đến Thi thiên 95) ngụ ý rằng lời hứa chưa được nhận lãnh và lời hứa vẫn còn đó. Trên thực tế, Phao-lô gợi ý rằng kinh nghiệm yên nghỉ Sa-bát thật đã có từ lúc Tạo thế (Hê-bơ-rơ 4:3, 4).

Đức Chúa Trời mời gọi chúng ta “ngày nay” bước vào sự yên nghỉ của Ngài. “Ngày nay” là một khái niệm quan trọng trong Kinh thánh. Khi Môi-se tái lập giao ước của Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời tại biên giới Đất Hứa, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của “ngày nay” (Phục truyền 5:3, so sánh Phục truyền 4:8, Phục truyền 6:6, v.v.). Đó là khoảnh khắc suy tư để nhận ra sự thủy chung của Đức Chúa Trời (Phục truyền 11:2–7) và là thời điểm quyết định vâng lời Chúa (Phục truyền 5:1–3). Tương tự, Giô-suê kêu gọi những người cùng thời ông “ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự” (Giô-suê 24:15).

Cũng một thể ấy, “ngày nay” là thời điểm quyết định đối với chúng ta, thời điểm của cơ hội cũng như nguy hiểm, như đã luôn luôn xảy ra đối với dân sự của Đức Chúa Trời (Xin xem 2 Cô-rinh-tô 6:2). “Ngày nay” xuất hiện năm lần trong Hê-bơ-rơ 3 và 4. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe tiếng Chúa (Hê-bơ-rơ 3:7, 15; 4:7) bởi vì việc không nghe và tin lời Chúa sẽ dẫn đến việc không vâng lời và làm chúng ta cứng lòng. Nó thậm chí có thể trì hoãn việc chúng ta vào Ca-na-an trên trời, cũng như đã ngăn thế hệ đồng vắng vào Ca-na-an trên đất.

Nhưng Đức Chúa Giê-su đã đánh bại kẻ thù của chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:14–16) và lập giao ước mới (Hê-bơ-rơ 8 – 10). Nhờ đó, chúng ta có thể “vững lòng đến gần ngôi ơn phước” (Hê-bơ-rơ 4:14–16). Lời kêu gọi “ngày nay” mời gọi chúng ta nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã trung thành với chúng ta và đã cung cấp cho chúng ta mọi lý do để chấp nhận lời mời của Ngài ngay tức thì mà không chậm trễ.

Có những quyết định thiêng liêng nào bạn phải làm “ngay hôm nay”, tức là không hoãn lại vào lúc khác? Kinh nghiệm trong quá khứ của bạn là gì khi bạn trì hoãn làm những gì bạn biết Chúa đã yêu cầu bạn làm ngay lập tức?

Đọc Hê-bơ-rơ 3:11 và Hê-bơ-rơ 4:1, 3, 5, 10. Đức Chúa Trời mô tả đặc điểm của sự yên nghỉ Ngài như thế nào mà Ngài mời chúng ta bước vào?

Cả điều răn về ngày Sa-bát trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11 và sự trình bày lại điều đó của Môi-se trong Phục truyền 5:12–15 đều mời chúng ta nhớ lại những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Như chúng ta đã thấy, những gì Đức Chúa Trời viết trên bia đá chỉ cho chúng ta đến việc hoàn tất công việc Sáng tạo của Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18; 34:28). Trong Phục truyền Luật lệ Ký, Y-sơ-ra-ên được lệnh phải giữ ngày Sa-bát vì công việc Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi ách nô lệ của người Ê-díp-tô đã hoàn tất. Cuộc Xuất hành ra khỏi Ai Cập hướng tới công việc cuối cùng là giải cứu khỏi tội lỗi mà Đấng Christ sẽ hoàn thành trên thập tự giá khi Ngài nói, “Mọi sự đã được trọn!” (Giăng 19:30). Vì vậy, ngày Sa-bát được ban phước gấp đôi và trên thực tế, đặc biệt có ý nghĩa đối với các tín đồ Cơ Đốc giáo.

Đọc Hê-bơ-rơ 4:9–11, 16. Chúng ta được kêu gọi để làm gì?

Sự yên nghỉ Sa-bát kỷ niệm sự kiện rằng Đức Chúa Trời đã hoàn tất công việc Tạo dựng của Ngài (Sáng thế Ký 2:1–3, Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11) hoặc sự cứu chuộc (Phục truyền 5:12–15). Tương tự như vậy, việc Đức Chúa Giê-su lên ngôi trong đền thờ trên trời kỷ niệm rằng Ngài đã hoàn tất việc dâng của lễ trọn vẹn cho sự cứu rỗi của chúng ta (Hê-bơ-rơ 10:12–14).

Hãy lưu ý, Đức Chúa Trời chỉ nghỉ ngơi khi Ngài đã bảo đảm sự an lành của chúng ta. Trong sự Tạo Dựng, Đức Chúa Trời đã nghỉ ngơi khi Ngài hoàn tất việc tạo dựng thế gian. Về sau, Đức Chúa Trời yên nghỉ trong đền thờ chỉ sau khi cuộc chinh phục vùng đất mà Ngài đã hứa với Áp-ra-ham thành tựu qua những chiến thắng của Đa-vít, và dân Y-sơ-ra-ên được “ăn ở yên ổn vô sự” (1 Các Vua 4:21–25, so sánh với Xuất Ê-díp-tô Ký 15:18–21, Phục truyền 11:24, 2 Sa-mu-ên 8:1–14). Đức Chúa Trời xây nhà cho chính Ngài chỉ sau dân Y-sơ-ra-ên và nhà vua có nhà cho mình.

Làm thế nào chúng ta có thể bước vào sự yên nghỉ của Ngài ngay cả bây giờ? Ấy là, làm thế nào chúng ta có thể, bởi đức tin, có thể yên nghỉ trong sự bảo đảm rằng sự cứu rỗi mà chúng ta có trong Đấng Christ, chứ không phải trong chính mình?

So sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11, Phục truyền Luật lệ ký 5:12–15 và Hê-bơ-rơ 4:8–11. Bạn nhận thấy sự khác biệt nào về ý nghĩa của sự yên nghỉ Sa-bát?

Như chúng ta đã thấy, những bản văn này trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký và Phục truyền Luật lệ Ký mời chúng ta nhìn về quá khứ. Chúng dạy chúng ta nên nghỉ ngơi vào ngày Sa-bát để ăn mừng những thành tựu của Đức Chúa Trời trong công trình Sáng Tạo và Cứu Chuộc. Tuy nhiên, Hê-bơ-rơ 4:9–11 mời chúng ta nhìn về tương lai. Nó cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho một sự yên nghỉ Sa-bát sẽ diễn ra trong tương lai. Nó gợi ý một chiều hướng mới cho việc giữ ngày Sa-bát. Việc nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát không chỉ tưởng nhớ những chiến thắng của Đức Chúa Trời trong quá khứ mà còn kỷ niệm những lời hứa của Đức Chúa Trời cho tương lai.

Chiều hướng tương lai của việc giữ ngày Sa-bát luôn có ở đó, nhưng nó thường bị bỏ qua. Sau sự Sa ngã, nó ám chỉ lời hứa rằng một ngày nào đó Đức Chúa Trời sẽ khôi phục tạo vật trở lại sự vinh quang của thuở ban đầu qua Đấng Mê-si. Đức Chúa Trời truyền lệnh cho chúng ta kỷ niệm các hành động cứu chuộc của Ngài qua việc tuân giữ ngày Sa-bát vì ngày Sa-bát hướng đến đỉnh cao của sự cứu chuộc trong một cuộc sáng tạo mới. Việc giữ ngày Sa-bát là một chuẩn bị về sự yên nghỉ của thiên đàng trong thế giới bất toàn này.

Điều này luôn luôn rõ ràng trong truyền thống của người Do Thái. Cuộc đời của A-đam và Ê-va, một tác phẩm được thâu góp trong khoảng thời gian từ năm 100 trước Công nguyên và năm 200 sau Công nguyên (trong James H. Charlesworth, ed., The Old Testament Pseudepigrapha [New Haven, London: Yale University Press, 1985], quyển 2, trang 18), cho biết: “Ngày thứ bảy là dấu hiệu của sự sống lại, sự yên nghỉ của thời đại sắp tới.” Một nguồn Do Thái cổ đại khác nói: Thời đại sắp tới là thời đại yên nghỉ như “Ngày Sa-bát yên nghỉ trọn vẹn và vĩnh viễn.” — Jacob Neusner, The Mishnah, a New Translation (New Haven: Yale University Press, 1988), trang 873. Trong quyển Othiot of Rabbi Akiba, “Y-sơ-ra-ên đã nói trước mặt Đấng Chí Thánh rằng: ‘Lạy Chúa Tể của Thế giới, nếu chúng con tuân theo các điều răn, chúng con sẽ có phần thưởng gì?’ Ngài nói với chúng: ‘(Ngươi sẽ được) Thế giới sắp đến.’ Chúng thưa cùng Ngài: ‘Xin hãy cho chúng con thấy điều gì giống như nó (thế giới mới).’ Ngài cho họ thấy ngày Sa-bát.” — Theodore Friedman, “The Sabbath Anticipation of Redemption,” Judaism: A Quarterly Journal, tập 16, trang 443, 444.

Ngày Sa-bát là để ăn mừng, để vui mừng và tạ ơn. Khi chúng ta giữ Ngày Sa-bát, chúng ta cho thấy rằng chúng ta tin những lời hứa của Đức Chúa Trời, rằng chúng ta chấp nhận món quà ân điển của Ngài. Ngày Sa-bát là đức tin sống động và rực rỡ. Đối với các hành động, việc tuân giữ ngày Sa-bát có lẽ là biểu hiện đầy đủ nhất của niềm tin rằng chúng ta được cứu bởi ân điển nhờ đức tin nơi Ngài.

Làm thế nào bạn có thể học cách giữ Ngày Sa-bát theo cách mà thực sự, cho thấy chúng ta hiểu về sự cứu rỗi bởi đức tin, chứ chẳng phải bởi những việc làm của luật pháp, là gì? Nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát là biểu hiện của sự cứu rỗi bởi ân điển như thế nào?

Điều rất có ý nghĩa là Phao-lô trong thư Hê-bơ-rơ đã dùng sự yên nghỉ Sa-bát, chứ không phải ngày Thứ Nhất, như một biểu tượng của sự cứu rỗi qua ân điển mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Việc dùng sự yên nghỉ Sa-bát theo cách này ngụ ý rằng ngày Sa-bát đã được các tín đồ trân trọng và vâng giữ. Tuy nhiên, từ thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên trở đi, chúng ta tìm thấy bằng chứng về sự thay đổi rõ ràng trong hội thánh. Việc giữ ngày Sa-bát không còn được coi là biểu tượng của sự cứu rỗi và thay vào đó, được coi là biểu tượng của lòng trung thành với Do Thái giáo và giao ước cũ, như một điều cần phải tránh. Giữ ngày Sa-bát bị cho là tương đương với “Do Thái hóa”. Chẳng hạn, tác giả Ignatius của thành An-ti-ốt (khoảng năm 110 Sau Công Nguyên) nhận xét: “Những người sống theo trật tự cũ đã tìm thấy hy vọng mới. Họ không còn giữ ngày Sa-bát mà là Ngày của Chúa — là ngày cuộc sống của chúng ta được phục sinh với Đấng Christ.” — Jacques B. Doukhan, Israel and the Church: Two Voices for the Same God (Peabody, MA: Hendrickson Publishers, 2002), trang 42. Tương tự, Marcion ra lệnh cho những người theo ông kiêng ăn ngày Sa-bát như một dấu hiệu chối bỏ người Do Thái và Đức Chúa Trời của họ, và Victorinus không muốn tỏ ra rằng ông đã “tuân theo ngày Sa-bát của người Do Thái” (Xem Israel and the Church, trang 41–45). Chính việc mất đi sự hiểu biết về việc tuân thủ ngày Sa-bát như một biểu tượng của sự cứu rỗi bởi ân điển, đã dẫn đến sự sụp đổ của nó trong hội thánh Cơ Đốc giáo.

“Ngày Sa-bát là dấu chỉ quyền năng của Đấng Christ để làm cho chúng ta nên thánh. Và nó được ban cho tất cả những người mà Đấng Christ làm cho thánh. Như một dấu hiệu của quyền năng thánh hóa của Ngài, ngày Sa-bát được ban cho tất cả những ai nhờ Đấng Christ mà trở thành một phần của dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời . . .

“Ngày Sa-bát chỉ cho họ những công trình sáng tạo như một bằng chứng về quyền năng cứu chuộc của Ngài. Trong khi nó gợi nhớ đến sự yên bình đã mất của Ê-đen, nó nói về sự yên bình được phục hồi qua Đấng Cứu Rỗi. Và mọi tạo vật trong thiên nhiên lặp lại lời mời gọi của Ngài, ‘Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ’ (Ma-thi-ơ 11:28).” — Ellen G. White, Desire of Ages, trang 288, 289.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Mối quan hệ giữa việc tuân giữ ngày Sa-bát và sự xưng công bình bằng đức tin là gì?

2. Sự khác biệt giữa việc tuân giữ ngày Sa-bát thật và việc tuân giữ ngày Sa-bát hợp pháp là gì? Làm thế nào chúng ta có thể không chỉ biết sự khác biệt mà còn trải nghiệm sự khác biệt đó trong việc tuân giữ ngày Sa-bát của chính mình?

Bài Học 4, 15 — 21 Tháng 1, 2022

Chúa Giê-su, Người Anh Chung Thủy

CÂU GỐC: “Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Đức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ” (Hê-bơ-rơ 2:14).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Lê-vi Ký 25:25–27; Hê-bơ-rơ 2:14–16; Hê-bơ-rơ 11:24–26; 1 Cô-rinh-tô 15:50; Hê-bơ-rơ 5:8, 9; Hê-bơ-rơ 12:1–4.

Hê-bơ-rơ đọan 1 nói về Đức Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời, Đấng cai trị trên các thiên sứ, và là “sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:3). Trong Hê-bơ-rơ 2, Đức Chúa Giê-su là Con của loài người, phải bị chịu hạ thấp thua các thiên sứ và là Đấng đã chấp nhận bản chất con người với tất cả sự yếu đuối của nó, thậm chí cho đến chết (Hê-bơ-rơ 2:7).

Hê-bơ-rơ 1:5, Đức Chúa Trời nói về Đức Chúa Giê-su: “Con là Con Ta”. Hê-bơ-rơ 2:12, Đức Chúa Giê-su ám chỉ con cái loài người là “anh em” của Ngài. Hê-bơ-rơ 1:8–12, Đức Chúa Cha tuyên bố quyền cai trị thiêng liêng của Con. Hê-bơ-rơ 2:13, Đức Chúa Con khẳng định sự trung thành của Ngài đối với Cha;

Trong Hê-bơ-rơ 1, Đức Chúa Giê-su là Chúa thiêng liêng, Đấng Tạo Hóa, Đấng Bảo Hộ và Đấng Tối Cao. Trong Hê-bơ-rơ 2, Đức Chúa Giê-su là thầy tế lễ thượng phẩm của loài người, nhân từ và trung thành.

Tóm lại, việc mô tả về Đức Chúa Giê-su như một người anh trung thành và nhân từ được nhắc đến khi mô tả về Đức Chúa Con là biểu hiện tối thượng của Đức Chúa Trời sáng tạo vĩnh cửu (Hê-bơ-rơ 1:1–4).

Đọc Lê-vi Ký 25:25–27, 47–49. Ai có thể cứu chuộc một người đã mất tài sản hoặc quyền tự do của mình vì nghèo?

Luật pháp Môi-se quy định rằng khi một người nghèo đến mức phải bán tài sản của mình — hoặc thậm chí cả bản thân — để sống còn, thì người ấy sẽ nhận lại tài sản đó hoặc sự tự do của mình sau mỗi năm mươi năm, vào năm hân hỉ. Năm hân hỉ, một năm Sa-bát “lớn”, trong đó các khoản nợ được tha, tài sản được đòi lại và quyền tự do được công bố cho những người bị giam cầm.

Tuy nhiên, 50 năm là một thời gian dài để chờ đợi. Đó là lý do tại sao Luật Môi-se cũng quy định rằng người họ hàng gần nhất có thể trả phần còn nợ, và do đó, họ sẽ chuộc người thân của mình sớm hơn nhiều.

Người thân gần nhất cũng là người đảm bảo công lý được thực hiện trong một vụ án mạng. Anh ta phải là kẻ báo thù huyết cho thân nhân mình, và anh ta sẽ truy đuổi kẻ giết người thân của mình và trừng phạt nó (Dân số Ký 35:9–15).

Đọc Hê-bơ-rơ 2:14–16. Đức Chúa Giê-su và chúng ta được mô tả như thế nào trong các câu này?

Các câu này mô tả chúng ta là nô lệ của ma quỷ, nhưng Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta. Khi A-đam phạm tội, loài người rơi vào quyền lực của Sa-tan. Kết quả là chúng ta không có sức mạnh để chống lại tội lỗi (Rô-ma 7:14–24). Tệ hơn nữa, có một án tử hình mà sự vi phạm của chúng ta đã mang đến mà chúng ta không thể trả được (Rô-ma 6:23). Như thế, hoàn cảnh của chúng ta rõ ràng là vô vọng.

Tuy nhiên, Đức Chúa Giê-su đã chấp nhận bản chất con người của chúng ta và trở nên bằng xương bằng thịt như chúng ta. Ngài đã trở thành người thân nhân gần nhất của chúng ta và cứu chuộc chúng ta. Ngài đã không xấu hổ khi gọi chúng ta là “anh em” (Hê-bơ-rơ 2:11).

Nghịch lý thay, bằng cách lấy bản chất của chúng ta và cứu chuộc chúng ta, Đức Chúa Giê-su cũng đã tiết lộ bản chất thiêng liêng của Ngài. Trong Cựu Ước, Đấng cứu chuộc thực sự của Y-sơ-ra-ên, thân nhân gần nhất của họ, là Yahweh (Đức Giê-hô-va, thí dụ: Thi thiên 19:14, Ê-sai 41:14, Ê-sai 43:14, Ê-sai 44:22, Giê-rê-mi 31:11, Ô-sê 13:14).

Có những các nào mà bạn có thể học để trải nghiệm sâu sắc hơn về thực tế ấy, về việc Đấng Christ có thể gần gũi bạn đến mức nào? Tại sao có kinh nghiệm này lại quan trọng đối với đức tin của bạn?

Hê-bơ-rơ nói rằng Chúa Giê-su không xấu hổ khi gọi chúng ta là anh em của Ngài (Hê-bơ-rơ 2:11). Mặc dù là một với Đức Chúa Trời hoàn thiện, nhưng Đức Chúa Giê-su đã đón nhận chúng ta như một phần của gia đình Ngài. Sự đoàn kết này trái ngược với những sự bôi xấu của công chúng mà những độc giả thư Hê-bơ-rơ phải gánh chịu trong cộng đồng của họ (Hê-bơ-rơ 10:33).

Đọc Hê-bơ-rơ 11:24–26. Cách nào mà những quyết định của Môi-se minh chứng cho những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta?

Bạn có thể tưởng tượng việc Môi-se được gọi là “con trai của công chúa Pha-ra-ôn” có ý nghĩa gì không? Ông là một nhân vật quyền lực trong đế chế hùng mạnh nhất thời bấy giờ. Ông đã nhận được đào tạo dân sự và quân sự cao cấp nhất và trở thành một nhân vật nổi tiếng. Ê-tiên nói rằng Môi-se có “lời nói và việc làm đều có tài năng” (Công vụ 7:22). Ellen G. White cũng nói rằng ông là “người được quân lực của Ai Cập yêu thích” và Pha-ra-ôn “quyết tâm đưa cháu trai nuôi của mình lên kế vị ngai vàng” (xem Patriarchs and Prophets, trang 245). Vậy mà, Môi-se đã từ bỏ tất cả đặc ân này khi ông chọn đồng hóa mình với dân Y-sơ-ra-ên, một dân tộc nô lệ không có học vấn và quyền lực.

Đọc Ma-thi-ơ 10:32, 33; 2 Ti-mô-thê 1:8, 12; và Hê-bơ-rơ 13:12–15. Chúa yêu cầu chúng ta điều gì?

Đây là một phần của vấn đề đối với các độc giả thư Hê-bơ-rơ. Sau khi bị bắt bớ và bị chối bỏ, nhiều người trong số họ bắt đầu cảm thấy hổ thẹn về Chúa Giê-su. Bởi hành động của họ, một số có nguy cơ sẽ “làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường” thay vì tôn vinh Ngài (Hê-bơ-rơ 6:6). Vì lẽ ấy, Phao-lô đã không ngừng kêu gọi độc giả mình hãy “hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin” (Hê-bơ-rơ 4:14; 10:23).

Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời và là người anh của chúng ta. Là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, Đức Chúa Giê-su đã trả nợ cho chúng ta; là anh em của chúng ta, Ngài đã chỉ cho chúng ta cách mình nên sống để chúng ta “nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em” (Rô-ma 8:29).

Hãy để vài phút suy nghĩ về quyết định mà Đức Chúa Giê-su phải có để xem chúng ta là “anh chị em” của Ngài. Tại sao những gì Chúa Giê-su đã làm lại hạ mình hơn rất nhiều so với những gì Môi-se đã làm, và điều này dạy chúng ta điều gì về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta?

Hê-bơ-rơ nói rằng Chúa Giê-su đã chấp nhận bản chất con người của chúng ta để Ngài có thể đại diện cho chúng ta và có thể chết thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:9, 14–16; Hê-bơ-rơ 10:5–10). Đây là nền tảng của kế hoạch cứu rỗi và hy vọng duy nhất của chúng ta về cuộc sống vĩnh cửu.

Đọc Ma-thi-ơ 16:17, Ga-la-ti 1:16, 1 Cô-rinh-tô 15:50 và Ê-phê-sô 6:12. Những khiếm khuyết nào của bản chất con người mà những đoạn văn này xem như thành ngữ “thịt và huyết”?

Thành ngữ “thịt và huyết” nhấn mạnh tình trạng của con người, yếu đuối, khiếm khuyết (Ê-phê-sô 6:12), thiếu hiểu biết (Ma-thi-ơ 16:17, Ga-la-ti 1:16), và phải chịu khuất phục sự chết (1 Cô-rinh-tô 15:50). Hê-bơ-rơ nói rằng Đức Chúa Giê-su đã bị làm cho giống như anh em của Ngài “trong mọi sự” (Hê-bơ-rơ 2:17). Lời diễn tả này có nghĩa là Đức Chúa Giê-su đã hoàn toàn trở thành con người. Đức Chúa Giê-su không chỉ đơn giản “trông giống” hay “có vẻ là” con người; Ngài thực sự là con người, một con người như hết thảy chúng ta.

Sách Hê-bơ-rơ cũng nói rằng Đức Chúa Giê-su khác với chúng ta về tội lỗi. Thứ nhất, Đức Chúa Giê-su không phạm bất cứ tội lỗi nào (Hê-bơ-rơ 4:15). Thứ hai, Đức Chúa Giê-su có bản chất con người là “thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội” (Hê-bơ-rơ 7:26). Tất cả chúng ta đều đã phạm tội, và tất cả chúng ta đều có khuynh hướng xấu xa. Sự trói buộc của chúng ta đối với tội lỗi bắt đầu từ sâu bên trong bản chất của chính chúng ta. Chúng ta là “tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi” (Rô-ma 7:14; xem thêm Rô-ma 7:15–20). Sự kiêu ngạo và những động cơ tội lỗi khác thường làm ảnh hưởng đến những hành động tốt của chúng ta. Tuy nhiên, bản chất của Đức Chúa Giê-su đã không bị tội lỗi làm hoen ố. Và phải là như vậy. Nếu Chúa Giê-su đã “bị bán theo xác thịt, bị bán dưới tội lỗi” như chúng ta, thì Ngài cũng cần một Đấng Cứu Rỗi. Thay vào đó, Chúa Giê-su đến như một Đấng Cứu Rỗi và hiến dâng chính Ngài như một của lễ “không tì vết” cho Đức Chúa Trời cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 7:26–28, Hê-bơ-rơ 9:14).

Và rồi, Đức Chúa Giê-su đã tiêu diệt quyền lực của ma quỷ bằng cách chết như một của lễ vô tội cho tội lỗi của chúng ta, nhờ đó chúng ta có thể tha thứ và hòa thuận với Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 2:14–17). Đức Chúa Giê-su cũng phá vỡ quyền lực của tội lỗi bằng cách ban cho chúng ta quyền năng để sống một cuộc sống công bình qua việc Ngài thực hiện lời hứa trong giao ước mới là ghi luật pháp trong lòng chúng ta (Hê-bơ-rơ 8:10). Vì vậy, Đức Chúa Giê-su đã đánh bại kẻ thù và giải phóng chúng ta một cách hữu hiệu để bây giờ chúng ta có thể “hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống” (Hê-bơ-rơ 9:14). Trong khi đó, sự hủy diệt cuối cùng của Sa-tan sẽ đến với sự phán xét cuối cùng (Khải huyền 20:1–3, 10).

Vì chúng ta có lời hứa chiến thắng qua Đức Chúa Giê-su, tại sao nhiều người trong chúng ta vẫn phải giằng kéo với tội lỗi? Chúng ta đang làm gì sai, và quan trọng hơn, làm thế nào chúng ta có thể bắt đầu sống theo sự kêu gọi cao cả mà chúng ta có trong Đấng Christ?

Đọc Hê-bơ-rơ 2:10, 17, 18 và Hê-bơ-rơ 5:8, 9. Trách nhiệm phải chịu thống khổ trong đời sống của Đức Chúa Giê-su là gì?

Sứ đồ nói rằng Đức Chúa Trời đã làm cho Đức Chúa Giê-su trở nên “toàn vẹn qua những thống khổ”. Lời nói nầy thật đáng ngạc nhiên. Tác giả đã nói rằng Đức Chúa Giê-su là “là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:3) và Ngài là không tội lỗi, không tì vết, không ô uế, và Ngài thánh khiết (Hê-bơ-rơ 4:15; 7:26–28; 9:14; và 10:5–10). Đức Chúa Giê-su không phải vượt qua bất kỳ một bất toàn nào về luân lý hay đạo đức. Ngài hoàn thiện trong mọi mặt, cả mặt luân lý lẫn đạo đức.

Tuy nhiên, thư Hê-bơ-rơ nói rằng Đức Chúa Giê-su đã trải qua một quá trình “trở nên hoàn hảo” hầu Ngài mới có thể có được phương tiện để cứu chúng ta. Đức Chúa Giê-su đã được trở nên hoàn thiện trong cái nghĩa là Ngài được trang bị để trở thành Đấng Cứu Rỗi của chúng ta.

Đức Chúa Giê-su đã được “hoàn thiện” qua mọi thống khổ để trở thành Đấng Dẫn Đạo của sự cứu rỗi chúng ta (Hê-bơ-rơ 2:10). Ngài đã phải chết trên thập tự giá như một của lễ vì chỉ duy Ngài mới là phương tiện hợp pháp để Đức Chúa Cha dùng để cứu chúng ta. Đức Chúa Giê-su là của lễ hoàn hảo, là của lễ duy nhất. Là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê-su có thể phán xét chúng ta; nhưng, nhờ sự hy sinh của Ngài, Đức Chúa Giê-su cũng có thể cứu chúng ta.

Đức Chúa Giê-su học được sự vâng phục qua những đau khổ (Hê-bơ-rơ 5:8). Sự vâng lời là cần thiết cho hai điều. Đầu tiên, sự vâng lời khiến sự hy sinh của Ngài được chấp nhận (Hê-bơ-rơ 9:14; 10:5–10). Thứ hai, những đau khổ của Ngài đã giúp Ngài trở thành tấm gương của chúng ta (Hê-bơ-rơ 5:9). Đức Chúa Giê-su “học được” sự vâng phục bởi vì Ngài chưa bao giờ kinh nghiệm điều đó trước đây. Là Đức Chúa Trời, Ngài sẽ phải vâng lời ai? Với tư cách là Con vĩnh cửu và nên một với Đức Chúa Trời, Ngài được vâng phục trong tư cách là Đấng cai trị vũ trụ. Vì vậy, Đức Chúa Giê-su không tiến triển từ sự bất tuân sang sự vâng lời, nhưng từ việc làm chúa tể và quyền thống trị sang sự phục tùng và sự vâng phục. Con Đức Chúa Trời là đấng được tôn cao đã trở thành Con Người vâng phục.

Chịu đựng sự cám dỗ và chiến thắng đã giúp Đức Chúa Giê-su trở thành một thầy tế lễ Thượng phẩm nhân từ và trung thành (Hê-bơ-rơ 2:17, 18). Ngài chẳng cần phải qua những mọi thống khổ mới trở nên nhân từ hơn. Ngược lại, chính vì lòng nhân từ của Ngài mà từ đầu Ngài đã tình nguyện chết trên thập tự giá để cứu chúng ta (Hê-bơ-rơ 10:5–10; so sánh với Rô-ma 5:7, 8). Tuy nhiên, chính qua những thống khổ mà thực tại về tình yêu thương anh em của Đức Chúa Giê-su mới thực sự được phát biểu và tỏ bày.

Nếu Đấng vô tội Giê-su phải gánh chịu khổ đau, chúng ta, là những người tội lỗi, chắc chắn cũng phải gánh chịu khổ đau. Làm thế nào chúng ta có thể học cách chịu đựng những bi kịch của cuộc sống nhưng đồng thời tìm thấy niềm hy vọng và sự bảo đảm từ Chúa, Đấng đã bày tỏ tình yêu thương của Ngài cho chúng ta bằng nhiều cách thật hùng hồn?

Một lý do khác khiến Chúa Giê-su chấp nhận bản chất con người của chúng ta và sống giữa chúng ta là để Ngài có thể là tấm gương của chúng ta, là Đấng duy nhất có thể làm gương cho chúng ta về cách sống đúng đắn trước mặt Đức Chúa Trời.

Đọc Hê-bơ-rơ 12:1–4. Theo sứ đồ, chúng ta nên thực hiện cuộc đua của đời sống Cơ Đốc nhân như thế nào?

Trong các câu này, Đức Chúa Giê-su là tột đỉnh của một danh sách dài các nhân vật mà sứ đồ ghi ra như những gương mẫu về đức tin. Đoạn này gọi Đức Chúa Giê-su là “cội rễ và cuối cùng của đức tin.” Từ tiếng Hy Lạp archegos (“người sáng lập”) cũng có thể được dịch là “người tiên phong”. Đức Chúa Giê-su là đấng tiên phong trong cuộc chạy đua với ý nghĩa là Ngài chạy trước các tín đồ. Trên thực tế, Hê-bơ-rơ 6:20 gọi Ngài là “Đấng đi trước” của chúng ta. Danh từ “cuối cùng của đức tin” cho ta ý tưởng rằng Đức Chúa Giê-su đã bày tỏ đức tin nơi Đức Chúa Trời ở dạng thuần khiết nhất có thể có. Đoạn Kinh Thánh này dạy cả hai điều rằng Chúa Giê-su là người đầu tiên đã thành công trong cuộc đua của chúng ta và Ngài là người đã hoàn thiện nghệ thuật sống theo đức tin.

Hê-bơ-rơ 2:13 chép: “Ngài lại phán: Ta sẽ phó thác ta cho Chúa. Lại phán: Ta đây, ta với các con cái mà Đức Chúa Trời đã ban cho ta.” Câu này có nghĩa là Đức Chúa Giê-su đã nói rằng Ngài sẽ đặt niềm tin của mình vào Đức Chúa Trời. Tham chiếu này ám chỉ đến Ê-sai 8:17, 18.

Ê-sai đã nói những lời này khi đối mặt với mối đe dọa xâm lược khủng khiếp từ miền Bắc Y-sơ-ra-ên và Sy-ria (Ê-sai 7:1, 2). Đức tin của ông tương phản với sự thiếu đức tin của A-cha (2 Các Vua 16:5–18). Đức Chúa Trời đã khuyên A-cha tin cậy nơi Ngài và cầu một dấu hiệu cho thấy Ngài sẽ giải cứu ông (Ê-sai 7:1–11). Đức Chúa Trời đã hứa với ông rằng vì ông là con (dòng dõi) của Đa-vít, Ngài sẽ bảo vệ A-cha như con ruột của Ngài. Giờ đây, Chúa đã ban ơn cho A-cha xác nhận lời hứa đó bằng một dấu hiệu. Tuy nhiên, A-cha từ chối để xin một dấu hiệu, thay vào đó, vua sai sứ giả đến cùng Tích-la Pi-lê-se, vua của A-si-ri, nói rằng, “Tôi là kẻ tôi tớ vua, là con trai vua” (2 Các Vua 16:7). Thật đáng buồn! A-cha thích làm “con trai” của Tích-la Pi-lê-se hơn là làm con trai của Đức Chúa Trời.

Trong khi ấy, Đức Chúa Giê-su hết lòng đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời và trong lời hứa của Ngài rằng Ngài sẽ đặt kẻ thù của Đức Chúa Giê-su dưới chân Ngài (Hê-bơ-rơ 1:13; 10:12, 13). Cũng cùng lời hứa ấy, Đức Chúa Trời đã hứa với chúng ta, và chúng ta cần phải tin Ngài, giống như Đức Chúa Giê-su đã tin (Rô-ma 16:20).

Làm thế nào chúng ta có thể học cách đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời bằng cách có những sự lựa chọn trong đời sống hằng ngày của mình phản ánh sự tin cậy này? Sự lựa chọn quan trọng nào mà bạn cần thực hiện kế tiếp là gì và làm thế nào bạn có thể đảm bảo rằng sự lựa chọn ấy bày tỏ sự tin tưởng nơi Đức Chúa Trời?

Hê-bơ-rơ 2:13 chứa những lời của Đức Chúa Giê-su với Cha Ngài nói về anh em của Ngài: “Ta đây, ta với các con cái mà Đức Chúa Trời đã ban cho ta.” Tác già Patrick Gray gợi ý rằng Đức Chúa Giê-su được mô tả ở đây như là người bảo hộ các anh em của Ngài. Trong văn hóa La Mã thời ấy, hệ thống tutela impuberum của luật pháp La Mã xác định “quyền huynh thế phụ”, rằng khi người cha qua đời, “Một người gia sư, thường là một người anh trai, trở thành người chịu trách nhiệm chăm sóc những đứa trẻ vị thành niên và quyền thừa kế của chúng cho đến khi chúng đến tuổi trưởng thành, do đó nâng cao bổn phận tự nhiên của người anh trai, phải chăm sóc những đứa em của mình.” — trích God Fear: The Epistle to the Hebrews and Greco – Roman Critiques of Superstition [Atlanta: Society of Biblical Literature, 2003), trang 126. Điều này giải thích tại sao thư Hê-bơ-rơ đề cập đến chúng ta vừa là anh chị em của Đức Chúa Giê-su, vừa là con cái của Ngài. Như người anh trai của chúng ta, Đức Chúa Giê-su là gia sư, người giám hộ và người bảo vệ của chúng ta.

“Đấng Christ đã đến thế gian, lấy nhân tánh và làm đại diện cho loài người, để cho thấy trong cuộc đấu tranh với Sa-tan, rằng con người, là kẻ được Đức Chúa Trời tạo dựng, được kết nối với Cha và Con, có thể tuân theo mọi đòi hỏi của Đức Chúa Trời.” — Ellen G. White, Selected Messages, cuốn 1, trang 253.

“Trong cuộc đời và các bài học Ngài dạy, Đấng Christ đã nêu gương hoàn hảo về chức vụ vô vị kỷ phát nguồn từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không sống cho chính Ngài. Bằng cách tạo dựng thế gian, và bằng cách nâng đỡ mọi vật, Ngài không ngừng phục vụ cho kẻ khác. “Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Ma-thi-ơ 5:45). Mục vụ lý tưởng này đã được Đức Chúa Trời cam kết với Con Ngài. Đức Chúa Giê-su được ban cho nhân loại để đứng đầu họ, hầu bởi gương của Ngài, Ngài có thể dạy ý nghĩa của sự phục vụ.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 649.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Hê-bơ-rơ nói với chúng ta rằng Đức Chúa Giê-su đã trở thành anh em của chúng ta để cứu chúng ta. Hãy suy gẫm về tư tưởng ấy, và nó có nghĩa gì về những gì Đức Chúa Trời đã làm để cứu chúng ta. Vậy tại sao việc quay lưng lại với thực tế diệu kỳ này sẽ là một sai lầm bi thảm?

2. Tại sao rất quan trọng cho chúng ta là Đức Chúa Giê-su không sinh ra và “bị bán cho tội lỗi” như chúng ta (Rô-ma 7:14)? Hãy nghĩ đến Môi-se, và tại sao điều quan trọng đối với dân Y-sơ-ra-ên là ông đã không phải là nô lệ như họ. Câu chuyện của Môi-se, trên một phương diện nhỏ bé, cũng có thể giúp chúng ta hiểu những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta?

3. Hãy suy nghĩ đến vai trò của sự thống khổ trong cuộc sống của chúng ta. Tại sao chúng ta không được bao giờ nghĩ rằng sự thống khổ, tự bản chất và tự nó, là tốt, ngay cả khi đôi khi một số điều tốt có thể đến từ nó?

Bài Học 3, 8 — 14 Tháng 1, 2022

Con Trai Của Lời Hứa

CÂU GỐC: “Rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian; Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:2, 3). 

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Ê-sai 2:2, 3; Hê-bơ-rơ 1:1–4; Xuất Ê-díp-tô Ký 24:16, 17; Ê-sai 44:24; Hê-bơ-rơ 1:10; Lu-ca 1:31, 32; Hêbơ-rơ 1:5.

Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, Đức Chúa Trời đã hứa với họ một “Dòng dõi”, một Con Trai sẽ giải cứu họ khỏi kẻ thù, khôi phục cơ nghiệp đã bị mất và hoàn tất mục đích mà họ đã được tạo ra (Sáng thế Ký 3:15). Con Trai này sẽ đại diện và cứu chuộc họ bằng cách thay thế họ và cuối cùng, bằng cách tiêu diệt con rắn. 

“Khi A-đam và Ê-va lần đầu tiên nghe lời hứa, họ đã tìm kiếm sự thành tựu nhanh chóng của nó. Họ hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng với hy vọng rằng con ấy có thể là Người Giải phóng. Nhưng việc thực hiện lời hứa đã bị lu mờ.” — Elen G. White, The Desire of Ages, trang 31. Lời hứa ấy, về sau đã được hứa chắc với Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời đã thề với ông rằng ông sẽ có một “dòng dõi”, một Con Trai mà qua đó tất cả các dân tộc trên trái đất sẽ được ban phước (Sáng thế Ký 22:16–18, Ga-la-ti 3:16). Và Đức Chúa Trời cũng làm như vậy với Đa-vít. Ông hứa với Đa-vít rằng dòng dõi của ông sẽ được Đức Chúa Trời đặt để làm Con Trai của Ngài và sẽ được thiết lập làm một đấng cai trị công minh trên tất cả các vua trên trái đất (2 Sa-mu-ên 7:12–14, Thi thiên 89:27–29). Tuy nhiên, điều mà cả A-đam và Ê-va, Áp-ra-ham hay Đa-vít có lẽ không bao giờ tưởng tượng được là Con Trai Cứu Chuộc của họ sẽ là chính Đức Chúa Trời.
Đoạn đầu tiên của sách Hê-bơ-rơ cho thấy Phao-lô tin rằng ông đang sống trong “những ngày sau rốt”. Kinh Thánh dùng hai cách diễn đạt về tương lai và chúng có ý nghĩa khác nhau. Các nhà tiên tri đã sử dụng cụm từ “những ngày cuối cùng” hoặc “những ngày sau rốt” để nói chung về tương lai (Phục truyền 4:30, 31; Giê-rê-mi 23:20). Tiên tri Đa-ni-ên sử dụng cách diễn đạt thứ hai, “thời kỳ cuối cùng” để nói cụ thể hơn về những ngày cuối cùng của lịch sử địa cầu (Đa-ni-ên 8:17, Đa-ni-ên 12:4). 
 
Đọc Dân số Ký 24:14–19 và Ê-sai 2:2, 3. Đức Chúa Trời hứa Ngài sẽ làm gì cho dân Ngài trong “ngày sau cùng”? 
 
Một số các tiên tri trong Cựu Ước đã công bố rằng trong “ngày sau cùng” Đức Chúa Trời sẽ dựng lên một vị Vua là đấng sẽ tiêu diệt kẻ thù của dân Ngài (Dân số Ký 24:14–19) và đấng ấy sẽ thu hút các dân tộc đến với Y-sơ-ra-ên (Ê-sai 2:2, 3). Phao-lô nói rằng những lời hứa này đã được ứng nghiệm trong Đức Chúa Giê-su. Ngài đã đánh bại Sa-tan, và qua việc công bố Phúc Âm, Ngài đang thu hút mọi dân tộc đến với Ngài (Cô-lô-se 2:15, Giăng 12:32). Vì vậy, theo nghĩa này, “những ngày sau rốt” đã bắt đầu bởi vì Đức Chúa Giê-su đã hoàn tất lời hứa của Đức Chúa Trời. 
 
Các tổ phụ thuộc linh của chúng ta đã chết trong đức tin. Họ đã nhìn thấy và chào đón những lời hứa từ “xa”, nhưng không nhận được. Phần chúng ta, chúng ta đã thấy sự ứng nghiệm của các lời hứa ấy trong Đức Chúa Giê-su. 
 
Hãy dành vài phút suy nghĩ về những lời hứa của Đức Chúa Trời và về Đức Chúa Giê-su. Chúa Cha đã hứa rằng Ngài sẽ phục sinh các con cái Ngài (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:15, 16). Tin tuyệt vời là Ngài đã khởi xướng sự phục sinh của con cái Ngài với sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su (1 Cô-rinh-tô 15:20, Ma-thi-ơ 27:51–53). Đức Chúa Cha cũng hứa về một sự sáng tạo mới (Ê-sai 65:17). Ngài đã bắt đầu thực hiện lời hứa đó bằng cách tạo ra một đời sống thiêng liêng mới trong chúng ta (2 Cô-rinh-tô 5:17, Ga-la-ti 6:15). Ngài hứa rằng Ngài sẽ thiết lập vương quốc cuối cùng của Ngài (Đa-ni-ên 2:44). Ngài đã khánh thành vương quốc ấy bằng cách giải cứu chúng ta khỏi quyền lực của Sa-tan và đặt Đức Chúa Giê-su làm đấng cai trị của chúng ta (Ma-thi-ơ 12:28–30, Lu-ca 10:18–20). Tuy nhiên, đây chỉ là sự khởi đầu. Những gì Cha đã bắt đầu làm trong lần giáng lâm thứ nhất của Đức Chúa Giê-su, thì Ngài sẽ hoàn tất vào lần thứ nhì. 
 
Hãy nhìn vào tất cả mọi lời Chúa đã hứa trong quá khứ. Việc này sẽ giúp chúng ta tin cậy Ngài như thế nào vào những lời hứa chưa được thực hiện?
Đọc Hê-bơ-rơ 1:1–4. Ý tưởng chính của những câu này là gì? 
 
Trong nguyên bản tiếng Hy Lạp, Hê-bơ-rơ 1:1–4 chỉ là một câu, và người ta đã lập luận rằng nó là câu văn đẹp nhất trong tất cả Tân Ước theo quan điểm nghệ thuật hùng biện của nó. Sự khẳng định chính của câu văn ấy là Đức Chúa Trời đã truyền phán với chúng ta qua Con của Ngài, Đức Chúa Giê-su. 
 
Với người Do Thái vào thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, lời Chúa đã không được nghe trong một thời gian dài. Sự mặc khải cuối cùng được bày tỏ trong Lời Viết xuống của Đức Chúa Trời đã đến qua nhà tiên tri Ma-la-chi và các mục vụ của E-xơ-ra và Nê-hê-mi bốn thế kỷ trước. Nhưng bây giờ, qua Đức Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đang nói chuyện với họ một lần nữa. 
 
Tuy nhiên, sự mặc khải của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giê-su cao xa hơn sự mặc khải mà Đức Chúa Trời đã ban qua các tiên tri vì Đức Chúa Giê-su là một phương tiện mặc khải lớn hơn. Ngài là chính Đức Chúa Trời, Đấng tạo dựng trời đất và cai trị vũ trụ. Đối với Phao-lô, ông không nghi ngờ gì về thần tính của Đấng Christ. Điều ấy luôn là việc đương nhiên. 
 
Ngoài ra, đối với Phao-lô, Cựu Ước là Lời của Đức Chúa Trời. Một Đức Chúa Trời đã tuyên phán trong quá khứ và nay tiếp tục tuyên phán trong hiện tại. Cựu Ước truyền đạt kiến thức thật về ý muốn của Đức Chúa Trời. 
 
Tuy nhiên, chỉ khi Đức Chúa Con đến thế gian thì ý nghĩa đầy đủ của ý muốn Đức Chúa Cha mới được hiểu rõ hơn. Theo suy nghĩ của tác giả, sự mặc khải của Cha nơi Con đã cung cấp chìa khóa để hiểu bề rộng thực sự của Cựu Ước, như bức tranh in trên hộp của trò chơi ghép hình là chìa khóa để tìm vị trí chính xác cho mỗi mảnh ghép của nó. Chúa Giê-su đã làm sáng tỏ Cựu Ước. 
 
Đồng thời, Đức Chúa Giê-su đã trở thành Đấng Đại Diện và là Đấng Cứu Rỗi của chúng ta. Ngài sẽ thay thế chúng ta trong cuộc chiến và đánh bại con rắn. Tương tự, trong tiếng Hê-bơ-rơ, Đức Chúa Giê-su là “người tiên phong” hoặc “đội trưởng” và “đấng đi trước” của các tín đồ (Hê-bơrơ 2:10, Hê-bơ-rơ 6:20). Ngài chiến đấu vì chúng ta và đại diện cho chúng ta. Điều này cũng có nghĩa là những gì Đức Chúa Trời đã làm cho Đức Chúa Giê-su, Vị Đại Diện của chúng ta, thì Đức Chúa Cha cũng muốn làm cho chúng ta. Đấng đã tôn cao Đức Chúa Giê-su ở bên hữu Ngài cũng muốn chúng ta ngồi cùng với Đức Chúa Giê-su nơi ngôi Ngài (Khải huyền 3:21). Thông điệp của Đức Chúa Trời cho chúng ta trong Đức Chúa Giêsu không chỉ gồm những gì Đức Chúa Giê-su đã nói mà còn cả những gì Chúa Cha đã làm qua Ngài và với Ngài, tất cả đều vì lợi ích trong đời tạm này và cả đời vĩnh cửu của chúng ta. 
 
Hãy suy nghĩ về ý nghĩa của việc Đức Chúa Giê-su — là Đức Chúa Trời — đến thế gian này. Vì sao lẽ thật này lại mang đến cho chúng ta nhiều hy vọng?
Đọc Hê-bơ-rơ 1:2–4. Câu này dạy chúng ta một số điều gì về Đức Chúa Giê-su? 
 
Trong phần này, chúng ta sẽ tập trung vào phần nói rằng, “Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:3). 
 
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 24:16, 17; Thi thiên 4:6; Thi thiên 36:9; và Thi thiên 89:15. Làm thế nào những câu này giúp chúng ta hiểu được sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là gì? 
 
Trong Cựu Ước, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ám chỉ sự hiện diện hữu hình của Ngài giữa dân sự của Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:7; Xuất Ê-díp-tô Ký 24:16, 17; Lê-vi Ký 9:23; Dân số Ký 14:10). Sự hiện diện này thường bày tỏ đến ánh sáng hoặc sự rạng rỡ. 
 
Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Giê-su là ánh sáng đã đến thế gian này để bày tỏ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 1:3; Giăng 1:6–9, 14–18; 2 Cô-rinh-tô 4:6). Chẳng hạn, hãy nghĩ về cách Đức Chúa Giê-su xuất hiện trong sự hóa hình. “Ngài biến hóa trước mặt các người ấy, mặt Ngài sáng lòa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng” (Ma-thi-ơ 17:2). 
 
Giống như mặt trời không thể nhìn được ngoại trừ ánh sáng chói lọi của nó, Đức Chúa Trời được biết đến qua Đức Chúa Giê-su. Từ quan điểm của chúng ta, cả hai là một. Vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là ánh sáng, nên không có sự khác biệt nào giữa Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su về bản thể và tính cách, cũng như không có sự khác biệt giữa ánh sáng và sự chói lọi của nó. 
 
Hê-bơ-rơ cũng nói rằng Chúa Giê-su là hình bóng hay đại diện chính xác của bản chất của Đức Chúa Cha (Hê-bơ-rơ 1:3). Ý của ẩn dụ ấy là có một sự tương ứng hoàn hảo về bản thể — hay bản chất — giữa Cha và Con. Lưu ý rằng loài người mang hình ảnh của Đức Chúa Trời nhưng không mang bản chất của Ngài (Sáng thế Ký 1:26). Nhưng Đức Chúa Con chia sẻ cùng một bản chất với Đức Chúa Cha. Bởi chính Đức Chúa Giê-su đã phán, “Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha” (Giăng 14:9). 
 
Tại sao việc Đức Chúa Giê-su bày tỏ bản tính và sự vinh hiển của Đức Chúa Cha cho chúng ta lại là một tin mừng lớn? Ngài cho chúng ta biết Đức Chúa Cha là như thế nào?
Hê-bơ-rơ khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã tạo ra thế gian “qua” hoặc “bởi” Đức Chúa Giê-su và rằng Đức Chúa Giê-su nâng đỡ thế giới bằng lời quyền năng của Ngài. 
 
Đọc Ê-sai 44:24, Ê-sai 45:18 và Nê-hê-mi 9:6. Bởi vì trong Cựu Ước, Chúa khẳng định rằng Ngài đã tạo ra thế giới “một mình” và Ngài là “Đức Chúa Trời duy nhất”, làm thế nào chúng ta có thể dung hòa lời khẳng định này với lời khẳng định trong Tân Ước rằng Đức Chúa Trời đã tạo ra vũ trụ “qua” Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 1:2, 3)? 
 
Một số người nghĩ rằng Đức Chúa Giê-su chỉ là công cụ mà qua Ngài Đức Chúa Trời đã tạo dựng muôn vật. Điều này là không thể được. Thứ nhất, đối với Phao-lô, Đức Chúa Giê-su là Chúa đã tạo ra thế gian; Ngài không phải là một người giúp đỡ. Hê-bơ-rơ 1:10 nói rằng Đức Chúa Giêsu là Chúa đã tạo ra trái đất và các tầng trời, và Phao-lô cũng áp dụng cho Ngài những gì Thi thiên 102:25–27 nói về Đức Giê-hô-va (Yahweh) là Đấng Tạo Hóa. Thứ hai, Hê-bơ-rơ 2:10 nói rằng vũ trụ được tạo ra “bởi” hoặc “qua” Đức Chúa Cha. (Cũng cùng những cách diễn đạt tương tự được áp dụng cho Đức Chúa Giê-su trong Hê-bơ-rơ 1:2). Đức Chúa Cha tạo dựng và Đức Chúa Giê-su tạo dựng. Có một thỏa thuận hoàn hảo giữa Cha và Con về mục đích và hoạt động. Đây là một phần của sự mầu nhiệm về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giê-su đã tạo dựng và Đức Chúa Trời đã tạo dựng, nhưng chỉ có một Đấng Tạo Hóa là Đức Chúa Trời — điều đó ngụ ý rằng Đức Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời. 
 
Trong khi đó Hê-bơ-rơ 4:13 cho thấy Đức Chúa Giê-su cũng là Quan Án. Quyền cai trị và phán xét của Ngài bắt nguồn từ sự kiện Đức Chúa Trời tạo ra mọi vật và duy trì vũ trụ (Ê-sai 44:24–28). 
 
Hê-bơ-rơ 1:3 và Cô-lô-se 1:17 khẳng định rằng Chúa Giê-su cũng nâng đỡ vũ trụ. Hành động bảo tồn này có thể bao gồm ý tưởng về hướng dẫn hoặc quản trị. Từ tiếng Hy Lạp pheron (nâng đỡ, chở che) được dùng để mô tả gió lái con thuyền (Công vụ 27:15, 17) hoặc Đức Chúa Trời dẫn dắt các nhà tiên tri (2 Phi-e-rơ 1:21). Như vậy, theo một nghĩa thực tế, Đức Chúa Giê-su không chỉ tạo ra chúng ta mà còn nâng đỡ chúng ta nữa. Mỗi hơi thở, mỗi nhịp tim, mỗi khoảnh khắc tồn tại của chúng ta đều được tìm thấy trong Ngài, Đức Chúa Giê-su, nền móng của sự hiện hữu của mọi tạo vật. 
 
Tra cứu Công vụ 17:28. Câu này nói gì về Đức Chúa Giê-su và quyền năng Ngài? Rồi hãy nghĩ về ý nghĩa của việc chính Đức Chúa Giê-su này đã chết trên thập tự giá vì tội lỗi của chúng ta. Lẽ thật này dạy chúng ta điều gì về bản tính quên mình của Chúa chúng ta?
Hê-bơ-rơ 1:5 ghi lại những lời sau đây của Đức Chúa Cha với Đức Chúa Giê-su: “Ngươi là Con Ta, ngày nay Ta đã sanh Ngươi”. Việc Đức Chúa Giê-su “được sanh ra” có nghĩa là gì và điều này xảy ra khi nào? Phải chăng điều này nói rằng Đức Chúa Giê-su đã được Đức Chúa Trời tạo ra bằng cách nào đó trong quá khứ, như nhiều người tin? 
 
Đọc Hê-bơ-rơ 1:5; 2 Sa-mu-ên 7:12–14; Thi thiên 2:7; và Lu-ca 1:31, 32. Phao-lô trong thư gởi cho người Hê-bơ-rơ đã áp dụng lời hứa nào với Đa-vít cho Chúa Giê-su? 
 
Đức Chúa Giê-su “được sinh ra” theo nghĩa là Ngài đã được Đức Chúa Trời đặt để, hay “nhận nuôi” vào chức vị người cai trị theo lời hứa, con trai của Đa-vít. Khái niệm về việc người cai trị được thần linh nhận nuôi là văn hóa phổ biến trong thế giới Hy Lạp – La Mã và phương đông thời ấy. Nó mang lại cho kẻ cai trị tính cách hợp pháp và quyền uy trên đất. 
 
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã hứa với Đa-vít rằng Con Ngài sẽ là đấng cai trị hợp pháp thật của mọi dân trên đất. Ngài sẽ “nhận” con trai của Đavít làm Con của Ngài. Thông qua quá trình này, Vì Vua từ dòng dõi Đa-vít sẽ trở thành kẻ được Đức Chúa Trời bảo hộ và là kẻ thừa kế của Ngài. Giao ước được hoàn tất nơi Đức Chúa Giê-su là Con (dòng dõi) Vua Đa-vít. Đức Chúa Trời sẽ đánh bại kẻ thù của Ngài và ban cho Ngài các quốc gia làm cơ nghiệp của Ngài (Thi thiên 89:27; Thi thiên 2:7, 8). 
 
Như chúng ta có thể đọc trong Rô-ma 1:3, 4 và Công vụ 13:32, 33, Chúa Giê-su được tiết lộ công khai là Con của Đức Chúa Trời. Phép báp têm và sự biến hình của Chúa Giê-su là những khoảnh khắc khi Đức Chúa Trời xác định và công bố Chúa Giê-su là Con của Ngài (Ma-thi-ơ 3:17, Ma-thi-ơ 17:5). 
 
Tuy nhiên, theo Tân Ước, Đức Chúa Giê-su đã trở thành “Con Đức Chúa Trời quyền năng” khi Ngài phục sinh và ngự bên hữu Đức Chúa Trời. Đó chính là lúc Đức Chúa Trời đã hoàn tất lời hứa Ngài có cho Đa-vít rằng con trai ông sẽ được nhận làm Con của chính Đức Chúa Trời và ngôi Ngài sẽ được thiết lập đời đời trên các nước (2 Sa-mu-ên 7:12–14). 
 
Do đó, Sê-sa (tượng trưng cho La Mã) không phải là “con trai của thần hay thiên tử” hay là kẻ cai trị hợp pháp của mọi dân tộc. Nhưng chính Đức Chúa Giê-su Christ mới là. Việc “sinh ra” của Đức Chúa Giê-su là đề cập đến sự khởi đầu của sự cai trị của Ngài trên các nước, chứ không phải sự khởi đầu của sự hiện hữu của Ngài, bởi vì Đức Chúa Giê-su đã luôn luôn hiện hữu. Không bao giờ có bất cứ thời điểm nào mà Ngài đã không hiện hữu, bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời. 
 
Trên thực tế, Hê-bơ-rơ 7:3 nói rằng Chúa Giê-su “không có ngày đầu mới sanh, cũng không có ngày rốt qua đời” (xem Hê-bơ-rơ 13:8) bởi vì Ngài là vĩnh cửu. Do đó, ý tưởng về Đức Chúa Giê-su là “con một” của Đức Chúa Trời không liên quan đến bản chất của Đấng Christ là thần linh mà là về vai trò của Ngài trong kế hoạch cứu rỗi. Qua việc nhập thể, Đấng Christ đã hoàn tất mọi lời hứa trong giao ước.
Việc Chúa Giê-su đến thế gian này với tư cách là Con Đức Chúa Trời đã hoàn tất một số vai trò và phận sự cùng một lúc. Ngay từ đầu, với tư cách là Con Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê-su đã đến để tỏ bày Đức Chúa Cha cho chúng ta. Qua hành động và lời nói của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã cho chúng ta thấy Đức Chúa Cha thực sự là như thế nào và tại sao chúng ta có thể tin cậy và vâng lời Ngài. 
 
Đức Chúa Giê-su cũng đến với tư cách là Con của lời hứa cho Đa-vít, Áp-ra-ham và A-đam, qua con ấy, Đức Chúa Trời đã hứa Ngài sẽ đánh bại kẻ thù và thống trị thế gian. Vì vậy, Đức Chúa Giê-su đến để thay thế A-đam đặng đứng đầu nhân loại và hoàn thành mục đích ban đầu mà Đức Chúa Trời dành cho loài người (Sáng thế Ký 1:26–28, Thi thiên 8:3–8). Đức Chúa Giê-su trở thành người cai trị công bình mà Đức Chúa Trời đã luôn muốn thế gian này có được. 
 
“Lời đã được tuyên phán với Đức Chúa Giê-su tại sông Giô-đanh, “Này là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng ta mọi đàng,” bao trùm nhân loại. Đức Chúa Trời đã nói chuyện với Đức Chúa Giê-su với tư cách là đại diện của chúng ta. Với tất cả tội lỗi và sự yếu đuối của mình, chúng ta không bị quăng bỏ đi như là vô giá trị. ‘Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài!’ (Ê-phê-sô 1:6). Sự vinh hiển ngự trên Đấng Christ là một lời cam kết về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta . . . Ánh sáng chiếu xuống từ mão triều trên đầu của Đấng Cứu Rỗi của chúng ta sẽ chiếu xuống chúng ta khi chúng ta cầu nguyện để được giúp đỡ đặng chống lại sự cám dỗ. Tiếng nói đã nói với Đức Chúa Giê-su nói với mọi linh hồn biết tin rằng: Này là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng ta mọi đàng” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 113. 
 
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: 
 
1. Chúng ta đã học được rằng hiểu rõ hơn về những lời nói và hành động của Đức Chúa Giê-su sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Đức Chúa Cha. Hiểu rõ hơn về Đức Chúa Giê-su làm mối quan hệ của bạn với Đức Chúa Cha thêm phong phú qua những cách thực tế nào? 
 
2. Chúng ta học được rằng cách Đức Chúa Trời nói chuyện và đối xử với Đức Chúa Giê-su là cách Ngài muốn nói chuyện và đối xử với chúng ta. Điều đó cho chúng ta biết gì về cách chúng ta nên đối xử với người khác? 
 
3. Hãy tập trung vào tầm quan trọng của thần tính vĩnh cửu của Đấng Christ. Có sự mất mát nào nếu chúng ta tin rằng, bằng cách nào đó, Đức Chúa Giê-su cũng là một sinh vật thọ tạo, giống như chúng ta, nhưng đã đi đến thập tự giá? Hãy so sánh ý tưởng này với thực tế rằng chính Đấng Christ là Đức Chúa Trời đời đời, và chính Ngài đã bước đến thập tự giá. Sự khác biệt lớn giữa hai ý tưởng này là gì? 
 
4. Trong lớp, hãy nói về việc dâng vinh quang cho Chúa. Đọc Khải huyền 14:7. Làm thế nào việc tôn vinh Đức Chúa Trời là một phần của lẽ thật hiện tại và các sứ điệp của ba thiên sứ?
Bài Học 2, 1 — 7 Tháng 1, 2022

Sứ Điệp Của Sách Hê-bơ-rơ

CÂU GỐC: “Chúng ta có một thầy tế lễ thượng phẩm, ngồi bên hữu ngai của Đấng tôn nghiêm trong các từng trời” (Hê-bơ-rơ 8:1).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 1:5–14, Lu-ca 1:30–33, Thi thiên 132:1–5, Hê-bơ-rơ 2:14–16, Hê-bơ-rơ 5:1–4, 1 Phi-e-rơ 2:9, Hê-bơ-rơ 8:8–12.

Một văn tự được viết sau thư Hê-bơ-rơ vài thập kỷ, vào khoảng năm 100 sau Chúa, có một lời cầu nguyện: “Hỡi Chúa, tôi đã nói tất cả những điều này trước mặt Ngài, bởi vì Chúa đã nói rằng chính vì chúng tôi mà Ngài đã tạo ra thế gian này . . . Và bây giờ, lạy Chúa, kìa, những nước này, vốn là chẳng ra gì, nay cai trị chúng tôi và cắn nuốt chúng tôi. Nhưng chúng tôi, dân của Ngài, là những kẻ mà Ngài đã gọi là con đầu lòng và con một của Ngài, sốt sắng với Ngài, và là con yêu quý nhất, đã bị trao vào tay chúng.” — James H. Charlesworth, ed., The Old Testament Pseudepigrapha, quyển 1, [New York: Hendrickson Publishers, 1983], trang 536.

Độc giả thư Hê-bơ-rơ có lẽ cũng cảm thấy điều gì đó tương tự. Nếu họ là con của Đức Chúa Trời, tại sao họ lại phải trải qua những đau khổ như vậy?

Vì thế, Phao-lô đã viết thư Hê-bơ-rơ để củng cố đức tin của các tín đồ giữa lúc họ gặp thử thách. Ông nhắc nhở họ (và chúng ta) rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện qua Đức Chúa Giê-su, Đấng ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và là Đấng sẽ sớm đưa chúng ta về nhà. Trong khi chờ đợi, Đức Chúa Giê-su làm trung bảo các phước lành của Đức Chúa Cha cho chúng ta. Vì vậy, chúng ta cần phải giữ vững niềm tin của mình cho đến cùng.

Điểm chính của thư Hê-bơ-rơ là Đức Chúa Giê-su là Đấng Cai trị, là Đấng ngồi bên hữu của Đức Chúa Cha (Hê-bơ-rơ 8:1). Như Đức Chúa Trời, Ngài đã luôn là Đấng cai trị của toàn vũ trụ. Nhưng khi A-đam và Ê-va phạm tội, Sa-tan đã trở thành chủ tể của địa cầu này (Giăng 12:31, Giăng 14:30, Giăng 16:11). Tuy nhiên, Đức Chúa Giê-su đã đến và đánh bại Sa-tan nơi thập tự giá, giành lại quyền cai trị những kẻ chấp nhận Ngài là Cứu Chúa của họ (Cô-lô-se 2:13–15).

Hai đoạn đầu của sách Hê-bơ-rơ đặc biệt chú ý vào sự đăng quang của Đức Chúa Giê-su là Vua.

Đọc Hê-bơ-rơ 1:5–14. Điều gì đang xảy ra trong đoạn này?

Các câu này được sắp xếp thành ba phân đoạn. Mỗi phân đoạn là một phần của nghi lễ lên ngôi của Đức Chúa Con. Trước hết, Đức Chúa Trời đặt để Đức Chúa Giê-su là Con của Ngài (câu 5). Kế đến, Đức Chúa Trời giới thiệu Con trước mặt thiên đình, và họ thờ lạy Ngài (câu 6, 8) khi Đức Chúa Cha tuyên bố quyền tạo hóa đời đời và sự cai trị của Đức Chúa Con (câu 8–12). Và thứ ba là Đức Chúa Cha truyền ngôi cho Con — sự trao quyền thực sự của địa cầu (câu 13, 14).

Một trong những niềm tin quan trọng nhất của Tân Ước là qua Đức Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã thực thi những lời hứa của Ngài với Đa-vít (xin xem 2 Sa-mu-ên 7:8–16 và Lu-ca 1:30–33). Đức Chúa Giê-su sinh ra từ dòng dõi Đa-vít tại thành Đa-vít (Ma-thi-ơ 1:1–16; Lu-ca 2:10, 11). Trong suốt thánh chức của Ngài, người ta thường gọi Ngài là “con vua Đa-vít”. Ngài đã bị xử tử vì bị lên án là Ngài tự xưng mình là “vua dân Do Thái” (Ma-thi-ơ 27:37). Phi-e-rơ và Phao-lô rao giảng rằng Đức Chúa Giê-su đã sống lại từ sự chết để thực hiện những lời hứa đã hứa với Đa-vít (Công vụ 2:22–36, Công vụ 13:22–37). Và Giăng đã xác định Chúa Giê-su là “Sư tử của chi phái Giu-đa” (Khải huyền 5:5).

Tất nhiên, sách Hê-bơ-rơ cũng đồng ý, Đức Chúa Trời đã thực hiện những lời hứa của Ngài với Đa-vít trong Đức Chúa Giê-su: Đức Chúa Trời ban cho Ngài một “danh xưng” vĩ đại (Hê-bơ-rơ 1:4), đặt Ngài, vốn là Con của Ngài (câu 5), khẳng định Ngài mãi mãi là Đấng Tạo Hóa và là Chúa (câu 8–12), và đặt Ngài ở “bên hữu” của Đức Chúa Trời (câu 13, 14). Hơn nữa, theo Hê-bơ-rơ 4, Chúa Giê-su dẫn dân sự vào lại sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời và nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giê-su là người xây dựng nhà của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 3:3, 4).
Đức Chúa Giê-su, vì lẽ ấy, là người cai trị hợp pháp của địa cầu này, đã tham gia vào một cuộc chiến với Sa-tan, kẻ soán ngôi, để giành lấy lại sự trung thành của chúng ta.

Làm thế nào chúng ta có thể nhận được niềm an ủi, nhất là giữa những thử thách, khi biết rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng cai trị vũ trụ?

Có một khái niệm thú vị của thần học Cựu Ước là Vì Vua của lời hứa thuộc nhà Đa-vít sẽ đại diện cho nước ngài trước mặt Đức Chúa Trời.

So sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 4:22, 23 với 2 Sa-mu-ên 7:12–14; Phục truyền 12:8–10 với 2 Sa-mu-ên 7:9–11; và Phục truyền 12:13, 14 với Thi thiên 132:1–5, 11–14. Những lời hứa nào với Y-sơ-ra-ên sẽ được thực hiện qua Vì Vua của lời hứa thuộc nhà Đa-vít?

Y-sơ-ra-ên là con của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ một nơi để họ nghỉ ngơi khỏi kẻ thù. Đức Chúa Trời cũng sẽ chọn một nơi trong vòng họ, nơi danh Ngài sẽ ngự. Các lời hứa này dành cho Y-sơ-ra-ên nay đã được thực hiện qua Vì Vua của lời hứa thuộc nhà Đa-vít. Vua ấy sẽ được nhận làm con của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ cho người được yên nghỉ khỏi kẻ thù của mình, và người sẽ xây dựng một đền thờ cho Đức Chúa Trời ở Si-ôn, nơi danh Đức Chúa Trời sẽ ngự. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ thực hiện những lời hứa của Ngài với Y-sơ-ra-ên qua Vì Vua của lời hứa thuộc nhà Đa-vít. Vua ấy sẽ đại diện cho Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Chúa Trời.

Việc đưa một người đại diện vào mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên đã làm cho mối quan hệ giao ước ấy có thể được duy trì lâu dài. Giao ước Môi-se đòi hỏi sự trung thành của toàn thể dân Y-sơ-ra-ên để nhận được sự bảo vệ và ban phước của Đức Chúa Trời (xin xem Giô-suê 7:1–13). Tuy nhiên, giao ước Đa-vít bảo đảm các phước lành theo giao ước của Đức Chúa Trời trên dân Y-sơ-ra-ên thông qua sự trung thành của một người, Vì Vua thuộc nhà Đa-vít.

Thật không may, phần lớn các vua nhà Đa-vít đã không trung thành, và Đức Chúa Trời không thể ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên như Ngài muốn. Cựu Ước chứa đầy những lời tường thuật về việc nhiều vị vua trong nhóm ấy đã thực sự bất trung như thế nào.

Tin mừng là Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài sinh ra làm Con Vua Đa-vít, và Ngài trung thành trọn vẹn. Vì vậy, trong Ngài, Đức Chúa Trời có thể thực thi tất cả những gì Ngài đã hứa với dân sự của Ngài. Khi Đức Chúa Trời ban phước cho nhà vua, tất cả thần dân của nhà vua đều được hưởng lợi ích. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Giê-su là Đấng Trung Bảo cho sự ban phước của Đức Chúa Trời cho chúng ta. Ngài là Đấng Trung Bảo vì qua Ngài, phước hạnh của Đức Chúa Trời tuôn chảy. Niềm hy vọng tối thượng về sự cứu rỗi của chúng ta chỉ được tìm thấy trong Đức Chúa Giê-su và những gì Ngài đã làm cho chúng ta.

Hãy nghĩ về việc bạn đã không trung thành về phần của mình trong giao ước đã xảy ra thường xuyên như thế nào. Điều này dạy chúng ta điều gì về việc chúng ta phải chỉ có thể dựa vào duy nhất Đức Chúa Giê-su để được cứu?

So sánh 1 Sa-mu-ên 8:19, 20 và Hê-bơ-rơ 2:14–16. Dân Y-sơ-ra-ên tìm kiếm điều gì ở một vị vua, và những mong muốn này đã được thực thi qua Đức Chúa Giê-su như thế nào?

Dân Y-sơ-ra-ên muốn có một vị vua làm quan xét và là người lãnh đạo của họ nơi chiến trường vì họ quên rằng Đức Chúa Trời là vua của họ. Đức Chúa Giê-su là sự khôi phục toàn quyền cai trị của Đức Chúa Trời trên dân Ngài. Là Vua của chúng ta, Đức Chúa Giê-su lãnh đạo chúng ta trong cuộc chiến chống lại kẻ thù.

Hê-bơ-rơ 2:14–16 mô tả Đức Chúa Giê-su là nhà vô địch của nhân loại yếu đuối. Đấng Christ, một mình đương đầu và đánh bại ma quỷ trong một cuộc chiến và giải thoát chúng ta khỏi sự cầm giữ của nó. Sự mô tả này gợi cho chúng ta nhớ đến trận chiến giữa Đa-vít và Gô-li-át. Sau khi được Sa-mu-ên xức dầu để làm vua (1 Sa-mu-ên 16), Đa-vít đã cứu các anh em của mình khỏi ách nô lệ bằng cách đánh bại Gô-li-át. Các điều khoản của cuộc tranh chiến lúc ấy đã xác định rằng phe thắng trận sẽ bắt người của bên kia làm nô lệ (1 Sa-mu-ên 17:8–10). Vì vậy, Đa-vít đã hành động như một nhà vô địch của Y-sơ-ra-ên. Người đã đại diện cho họ.

Đọc Ê-sai 42:13 và Ê-sai 59:15–20. Trong các câu này, Đức Giê-hô-va mô tả chính Ngài như thế nào?

Hê-bơ-rơ 2:14–16 ám chỉ ý niệm rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu dân Y-sơ-ra-ên trong một trận chiến đơn lẻ. Hãy lưu ý đoạn văn này từ Ê-sai: “Song Đức Giê-hô-va phán như vầy: Thật, những kẻ bị người mạnh bạo bắt lấy, sẽ được cứu thoát, mồi của người đáng sợ sẽ bị giựt lại. Vì ta sẽ chống cự kẻ đối địch ngươi, và chính ta sẽ giải cứu con cái ngươi” (Ê-sai 49:25).

Là Cơ Đốc nhân, chúng ta thường nghĩ rằng mình đang phải một mình chiến đấu với Sa-tan. Khi đọc Ê-phê-sô 6:10–18, chúng ta thấy rằng, phải, chúng ta đang đánh trận với ma quỷ. Nhưng Đức Chúa Trời là đấng vô địch của chúng ta, và Ngài đi trước chúng ta ra chốn trận tiền. Chúng ta thuộc về đạo quân của Ngài; đó là lý do tại sao chúng ta phải dùng áo giáp của Ngài. Và nữa, chúng ta không chiến đấu một mình. Chữ “anh em” hay “các ngươi” trong Ê-phê-sô 6 là số nhiều. Với tư cách là một hội thánh, chúng ta mặc áo giáp và cùng nhau chiến đấu đằng sau nhà vô địch của chúng ta, chính là Đức Chúa Trời.

Mặc lấy áo giáp của Đức Chúa Trời có nghĩa là gì? Nghĩa là, trong cuộc đấu tranh hàng ngày với bản ngã, sự cám dỗ, v.v., làm thế nào chúng ta có thể để mình nhận được năng quyền có thể giúp chúng ta giữ sự tín trung qua sức mạnh của Đức Chúa Trời?

Hê-bơ-rơ 5 – 7 giới thiệu chức vụ thứ nhì của Đức Chúa Giê-su. Ngài là thầy tế lễ cả của chúng ta. Tác giả giải thích rằng điều này thực thi lời hứa mà Đức Chúa Trời đã hứa với vua Đa-vít đã hứa, rằng Ngài sẽ là “làm thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc” (Thi thiên 110:4, như được trích dẫn trong Hê-bơ-rơ 5:5, 6).

Đọc Lê-vi Ký 1:1–9, Lê-vi Ký 10:8–11, Ma-la-chi 2:7, Dân số Ký 6:22–26 và Hê-bơ-rơ 5:1–4. Các chức vụ nào mà một thầy tế lễ phải làm trọn?

Các thầy tế lễ được chỉ định để thay mặt con người để đại diện cho họ và làm trung gian cho mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời và những điều liên quan đến Ngài. Chức tế lễ là một vai trò làm người trung bảo. Điều này đúng với bất kỳ hệ thống chức tư tế hoặc thầy tu, dù là Do Thái, Hy Lạp, La Mã hay bất kỳ hệ thống nào khác. Thầy tế lễ giúp chúng ta có thể liên hệ với Đức Chúa Trời, và mọi việc thầy tế lễ làm đều có mục đích tạo điều kiện cho mối quan hệ giữa chúng ta và Đức Chúa Trời.

Thầy tế lễ thay mặt con người dâng lễ vật. Dân chúng không thể tự mình đem những của lễ này dâng lên Đức Chúa Trời. Thầy tế lễ biết làm thế nào chúng ta có thể dâng của lễ “có thể chấp nhận được” để những của lễ của chúng ta có thể được Đức Chúa Trời chấp nhận hầu chúng ta được thanh sạch và tha thứ.

Các thầy tế lễ cũng giảng dạy luật pháp của Đức Chúa Trời cho dân chúng. Họ là những chuyên gia về các điều răn của Đức Chúa Trời và chịu trách nhiệm giải thích và áp dụng chúng.

Cuối cùng, các thầy tế lễ cũng có trách nhiệm ban phước nhân danh Đức Giê-hô-va. Qua họ, Đức Chúa Trời bày tỏ sự bác ái và mục đích nhân từ của Ngài đối với dân sự.

Tuy nhiên, trong 1 Phi-e-rơ 2:9, chúng ta thấy điều khác nữa. Chúng ta — là những kẻ tin vào Đức Chúa Giê-su — được gọi là “thầy tế lễ nhà vua”. Vai trò này ngụ ý những đặc quyền đáng kinh ngạc. Các thầy tế lễ có thể đến gần Đức Chúa Trời trong đền thánh. Ngày nay, chúng ta có thể tự tin đến gần Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện (Hê-bơ-rơ 4:14–16; Hê-bơ-rơ 10:19–23). Nhưng, cũng kèm theo những trách nhiệm quan trọng. Chúng ta phải cộng tác với Đức Chúa Trời trong công tác cứu thế giới của Ngài. Ngài muốn chúng ta dạy và giải thích luật pháp và giới luật của Đức Chúa Trời cho người khác. Ngài cũng muốn chúng ta dâng của lễ hy sinh bằng sự ngợi khen và làm việc lành đẹp lòng Ngài. Quả là một đặc ân và thật là một trách nhiệm!

Có gì khác biệt trong cuộc sống của chúng ta khi chúng ta thực sự là “thầy tế lễ nhà vua”? Sự thật này sẽ tác động đến cách chúng ta sống như thế nào?

Hê-bơ-rơ 8 – 10 tập trung vào chức vụ của Đức Chúa Giê-su với tư cách là Đấng Trung Bảo của một giao ước mới. Vấn đề với giao ước cũ chỉ đơn giản là nó đóng vai trò làm một điềm báo trước về những điều tốt đẹp sẽ đến. Giao ước ấy được thiết lập để làm một minh họa, một định hình trước về công việc mà Đức Chúa Giê-su sẽ làm trong tương lai. Vì vậy, các thầy tế lễ đã đóng vai trò cho thấy việc Đức Chúa Giê-su sẽ làm, nhưng họ cũng là người phàm và tội lỗi. Họ không thể mang lại sự hoàn hảo như Đức Chúa Giê-su đã làm. Và họ phục vụ trong đền thờ chỉ là một “hình và bóng” (Hê-bơ-rơ 8:5) của nơi thánh trên trời.

Đức Chúa Giê-su phục vụ trong đền thánh thật và cho chúng ta đến gần với Đức Chúa Trời. Sự hy sinh của các con sinh tế đã cho thấy trước cái chết của Đức Chúa Giê-su như một sự hy sinh thế vì chúng ta, nhưng máu của chúng không thể rửa sạch lương tâm xấu xa. Nhưng huyết của Đức Chúa Giê-su làm sạch lòng ô uế của chúng ta, và nhờ Ngài, có đức tin nơi Ngài và chấp nhận công việc trung bảo của Ngài thế cho chúng ta, chúng ta có thể mạnh dạn đến gần Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:19–22).

Đọc Hê-bơ-rơ 8:8–12. Đức Chúa Trời đã hứa gì với chúng ta trong giao ước mới?

Bằng cách chọn Đức Chúa Giê-su làm Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, Đức Chúa Cha đã khởi xướng một giao ước mới, là giao ước sẽ hoàn tất những gì mà giao ước cũ chỉ là nghĩa bóng. Giao ước mới mang lại điều mà chỉ một đấng thiên thượng trong dạng thể con người, làm thầy tế lễ hoàn thiện và vĩnh cửu mới có thể làm được. Vị Tế Lễ Thượng Phẩm này không chỉ tỏ bày luật pháp của Đức Chúa Trời mà còn cấy ghép luật pháp ấy vào lòng chúng ta. Vị Tế Lễ Thượng Phẩm này dâng một của lễ hy sinh mang lại sự tha thứ. Vị Tế Lễ Thượng Phẩm này làm thanh sạch và biến đổi chúng ta. Ngài biến trái tim chúng ta từ đá thành thịt (Ê-xê-chi-ên 36:26). Ngài thực sự tạo dựng chúng ta nên mới một lần nữa (2 Cô-rinh-tô 5:17). Vị Tế Lễ Thượng Phẩm này ban phước cho chúng ta theo cách diệu kỳ nhất, bằng cách cho chúng ta được tiếp cận với sự hiện diện của chính Đức Chúa Cha.

Đức Chúa Trời đã thiết lập giao ước cũ để nó chỉ về tương lai, về công việc của Đức Chúa Giê-su. Giao ước ấy đã toàn vẹn trong mục đích và sự thiết lập của nó. Tuy vậy, một số người đã hiểu sai mục đích của nó. Không muốn rời khỏi các biểu tượng, hình bóng đặng nắm lấy lẽ thật mà các biểu tượng hướng đến, họ đã bỏ lỡ những lợi ích tuyệt vời mà chức vụ của Đức Chúa Giê-su đã mang lại cho họ.

“Đấng Christ là nền tảng và là sự sống của đền thờ. Các nghi lễ của đền thờ là điển hình của sự hy sinh của Con Trời. Chức tế lễ được thành lập để đại diện cho đặc tính và công việc trung bảo của Đấng Christ. Toàn bộ chương trình thờ phượng và dâng của lễ hy sinh đều là để báo trước về sự chết của Đấng Cứu Thế để cứu chuộc thế gian. Các lễ vật này sẽ không còn hiệu quả nữa khi sự kiện trọng đại mà chúng đã hướng tới qua bao thời đại đã thật sự hoàn tất.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 165.

Bất chấp tất cả những lẽ thật tốt đẹp và đầy hy vọng trong sách Hê-bơ-rơ, cũng có một loạt những lời cảnh báo đưa đến đỉnh điểm trong các đoạn 10, 11, 12.

Các phần này có ít nhất hai yếu tố chung. Thứ nhất, chúng đều để so sánh thế hệ trong đồng vắng với các độc giả của Hê-bơ-rơ. Thứ hai, chúng khuyên nhủ chúng ta phải có đức tin.

Thế hệ đồng vắng là những người đã chứng kiến quyền năng vô song của Đức Chúa Trời qua những dấu và những điều kỳ diệu trong việc giải cứu họ khỏi Ê-díp-tô. Họ cũng đã nghe chính lời Đức Chúa Trời phán truyền Mười Điều Răn tại Núi Si-nai. Họ đã nhìn thấy trụ lửa ban đêm và trụ mây bảo vệ ban ngày. Họ đã ăn ma-na, bánh từ trời. Họ cũng đã uống nước tuôn trào ra từ các vầng đá ở bất cứ nơi nào họ cắm trại. Nhưng khi đến bờ biên giới Đất Hứa, họ đã không thể tin cậy Chúa. Họ thiếu đức tin, trong khi ấy là điều chính yếu nồng cốt mà Đức Chúa Trời yêu cầu. “Không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài” (Hê-bơ-rơ 11:6).

Phao-lô nói rằng chúng ta, giống như thế hệ trong đồng vắng, cũng ở bên bờ biên giới Đất Hứa (Hê-bơ-rơ 10:37–39). Tuy nhiên, đặc quyền và trách nhiệm của chúng ta lớn hơn của họ. Chúng ta không nghe tiếng Đức Chúa Trời phán ở Núi Si-nai, nhưng qua Kinh Thánh, chúng ta đã thấy sự mặc khải về một Đức Chúa Trời còn vĩ đại hơn Đấng ở Núi Si-ôn:Đức Chúa Trời bằng xương bằng thịt, Đức Chúa Giê-su Christ (Hê-bơ-rơ 12:18–24). Câu hỏi đặt ra là: Liệu chúng ta có niềm tin không? Tác giả khuyến khích chúng ta noi gương các danh nhân tuyệt vời, và đứng hàng đầu trong danh sách ấy là chính Đức Chúa Giê-su.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Chúng ta đã biết rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Vô Địch của chúng ta, Đấng đi trước chúng ta nơi trận tiền trong trận chiến chống lại ma quỷ. Làm thế nào để chúng ta, trong cương vị hội thánh Chúa, có thể chiến đấu cùng nhau, đoàn kết, sau lưng Đấng Vô Địch của chúng ta? Có những điều nào ngăn cản sự hiệp nhất? Những cách nào mà Sa-tan có thể làm suy yếu chúng ta trên cương vị một hội thánh? Trong quá khứ, Sa-tan đã làm suy yếu Y-sơ-ra-ên như thế nào?

2. Là tín hữu, chúng ta là một cộng đồng của các thầy tế lễ dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Có những cách nào mà hội thánh địa phương của bạn có thể dâng những của lễ hy sinh tốt hơn để ngợi khen và làm việc lành cho Đức Chúa Trời? Hãy nêu chúng ra cách cụ thể và thiết thực.

3. Hoàn cảnh của chúng ta giống với hoàn cảnh của thế hệ trong đồng vắng ngay trước khi họ vào Đất Hứa ở những điểm nào? Chúng ta có thể rút ra bài học nào từ những điểm tương đồng ấy?

Bài Học 1, 25 — 31 Tháng 12, 2021

Bức Thư Gửi Người Hê-bơ-rơ Và Cả Chúng Ta

CÂU GỐC: “Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình” (Hê-bơ-rơ 10:36).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Hê-bơ-rơ 2:3, 4; 1 Phi-e-rơ 4:14, 16; Hê-bơ-rơ 13:1–9, 13; 1 Các Vua 19:1–18; Hê-bơ-rơ 3:12–14; Dân số Ký 13.

Bạn đã bao giờ tưởng tượng nếu mình được nghe tận tai chính Đức Chúa Giê-su, hay một trong các sứ đồ, giảng dạy? Chúng ta có các đoạn trích và tóm tắt bằng văn tự về một số bài giảng của các vị ấy, nhưng những bài giảng này chỉ cung cấp một ý tưởng hạn chế về cảm giác khi nghe chúng. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã lưu giữ trong Kinh Thánh ít nhất một bài giảng hoàn chỉnh cho chúng ta:lá thư của Phao-lô gửi người Hê-bơ-rơ.

Phao-lô, tác giả của thư gửi người Hê-bơ-rơ, gọi tác phẩm của mình là “lời khuyên răn” (Hê-bơ-rơ 13:22). Cũng cùng từ diễn tả này đã được Phao-lô dùng để gọi bài giảng của mình, cả tại nhà hội (Công vụ 13:15) và trong sự nhóm họp thờ phượng của các tín đồ Đấng Christ (1 Ti-mô-thê 4:13). Do đó, người ta lập luận rằng sách Hê-bơ-rơ là “bài giảng Cơ Đốc hoàn chỉnh” đầu tiên mà chúng ta có. Thư Hê-bơ-rơ được truyền đạt đến với những tín đồ đã tin nhận Đức Chúa Giê-su nhưng sau đó gặp khó khăn. Một số bị công khai bêu xấu và bị ngược đãi (Hê-bơ-rơ 10:32–34). Những người khác phải đối đầu với các khó khăn về tài chính (Hê-bơ-rơ 13:5, 6). Nhiều người mệt mỏi và bắt đầu nghi ngờ đức tin của họ (Hê-bơ-rơ 3:12, 13). Ai trong chúng ta có thể cảm thông được những điều này hôm nay không?

Tuy nhiên, trong bài giảng gây xúc động này, sứ đồ đã thách thức họ (và nói chung là hết thảy chúng ta) hãy kiên trì trong đức tin nơi Đức Chúa Giê-su và hướng mắt vào Ngài, là Đấng, lúc này đang ở trong đền thánh trên trời.

Để hiểu bài giảng và áp dụng sứ điệp của nó cho bản thân mình, chúng ta cần hiểu lịch sử của hội thánh khi ấy và tình hình của họ khi họ nhận được bức thư từ sứ đồ.

Đọc Hê-bơ-rơ 2:3, 4. Kinh nghiệm của những người nghe bài giảng của sách Hê-bơ-rơ là thế nào khi họ mới được cải đạo?

Đoạn thư này ngụ ý rằng các độc giả của Hê-bơ-rơ đã không nghe chính Chúa Giê-su giảng; thay vào đó, họ đã nhận được phúc âm từ những người truyền bá phúc âm khác, những người đã thông báo cho họ tin tức về “sự cứu rỗi”.

Phao-lô cũng nói rằng các nhà truyền giáo đã “xác thực” thông điệp cho họ và rằng chính Đức Chúa Trời đã giáng sinh để “làm chứng bằng cả những dấu kỳ và điều kỳ diệu”. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời đã cung cấp sự xác thực phúc âm theo kinh nghiệm bằng các dấu và những việc quyền năng khác — trong số đó là việc phân phối “những ân tứ của Đức Thánh Linh”. Tân Ước kể rằng các dấu hiệu như chữa lành bằng phép lạ, đuổi quỉ và ban phát các ân tứ thuộc linh thường đi kèm với việc rao giảng tin lành ở các nơi mới.

Vào lúc ban đầu của Hội thánh Đấng Christ (Đấng Cơ Đốc), Đức Chúa Trời đã đổ Thánh Linh của Ngài trên các sứ đồ ở Giê-ru-sa-lem để họ có thể công bố phúc âm bằng những ngôn ngữ mà họ chưa biết trước đây và có thể làm phép lạ (Công Vụ 2, 3). Phi-líp đã thực hiện những điều kỳ diệu tương tự ở Sa-ma-ri (Công vụ 8), Phi-e-rơ ở Gióp-ba và Sê-sa-rê (Công vụ 9, 10), và Phao-lô trong suốt chức vụ sứ đồ của ông ở Tiểu Á và Châu Âu (Công vụ 13–28). Những việc làm mạnh mẽ này là bằng chứng kinh nghiệm xác thực thông điệp về “sự cứu rỗi” — sự thành lập vương quốc của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi ra khỏi sự kết án và được tự do khỏi quyền lực ma quỷ (Hê-bơ-rơ 12:25–29).

Đức Thánh Linh ban cho những tín đồ Cơ Đốc giáo ban đầu sự tin chắc rằng tội lỗi của họ đã được tha thứ; do đó, họ không sợ bị phán xét, và kết quả là lời cầu nguyện của họ đầy mạnh dạn và tự tin, và kinh nghiệm đạo giáo của họ đầy vui mừng (Công vụ 2:37–47). Đức Thánh Linh cũng giải cứu những người bị nô lệ dưới quyền lực ma quỷ, ấy là bằng chứng đáng tin về sự vượt trội của quyền năng Đức Chúa Trời so với thế lực của sự dữ, và bày tỏ rằng vương quốc của Đức Chúa Trời đã được thành lập trong cuộc sống của họ.

Câu chuyện của bạn về việc bạn tìm được Chúa và tin Ngài là gì? Bạn đã được xác nhận đức tin và niềm tin vào Đức Chúa Giê-su Christ là Đấng Cứu Rỗi và Chúa của bạn qua những cách nào? Tại sao đôi khi bạn nên nhớ lại cách Đức Chúa Trời đã làm việc lần đầu tiên trong đời bạn để đưa bạn đến với Ngài như thế nào?

Khi các tín đồ tuyên xưng đức tin của họ vào Đấng Christ và gia nhập hội thánh, họ đã đặt ra một mốc ranh giới phân biệt họ với phần còn lại của xã hội. Thật không may, điều này đã trở thành nguồn gốc của sự xung đột vì nó đã ngầm đưa ra một phán xét tiêu cực về cộng đồng của họ và các giá trị của nó.

Đọc Hê-bơ-rơ 10:32–34 và Hê-bơ-rơ 13:3. Những người nghe bài giảng của thư Hê-bơ-rơ có kinh nghiệm gì sau khi họ cải đạo?

Rất có thể những người đọc thư Hê-bơ-rơ đã phải chịu đựng những lời nhục mạ hoặc sự hành hung dưới bàn tay của đám đông đã bị những kẻ chống đối khuấy động (thí dụ:Công vụ 16:19–22, Công vụ 17:1–9). Họ cũng bị bỏ tù, và có thể họ cũng bị đánh đập, bởi vì các quan chức có quyền cho phép sự trừng phạt và giam giữ, và thường họ không tuân theo các quy tắc tư pháp phải lẽ, trong thời gian họ còn thu thập bằng chứng (thí dụ: Công vụ 16:22, 23).

Đọc Hê-bơ-rơ 11:24–26 và 1 Phi-e-rơ 4:14, 16. Kinh nghiệm của Môi-se và của những người đọc thư 1 Phi-e-rơ giúp chúng ta hiểu tại sao các tín đồ đạo Đấng Christ bị bắt bớ?

“Chịu sự sỉ nhục của Đấng Christ” chỉ đơn giản có nghĩa là đồng nhất mình với Đấng Christ và chịu đựng sự xấu hổ và áp bức mà sự dự phần này mang lại. Có những sự cam kết tôn giáo và về đời sống thuộc linh đặc biệt của các tín đồ Đấng Christ (hay Cơ Đốc nhân) đã mang lại lòng ác cảm của công chúng. Người ta có thể cảm thấy bị xúc phạm bởi các thực hành tôn giáo mà họ không hiểu hoặc bởi những người có lối sống và đạo đức có thể khiến người khác cảm thấy tội lỗi hoặc xấu hổ. Vào giữa thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, Tacitus xem các Cơ Đốc nhân là những kẻ đáng tội vì “thù ghét loài người.” — Alfred J. Church và William J. Brodribb, bản dịch, The Complete Works of Tacitus, (New York: The Modern Library, 1942). Dầu lý do chính xác cho lời buộc tội ấy là gì chăng nữa, chắc chắn lý do ấy là sai, nhưng nhiều tín đồ Đấng Christ lúc ban đầu, chẳng hạn như những người mà Phao-lô đã viết thư này, đang gặp nhiều đau khổ vì đức tin của họ.

Tất cả mọi người, dù là Cơ Đốc nhân hay không, đều gặp khổ đau. Tuy nhiên, đau khổ vì Đức Chúa Giê-su Christ có nghĩa là gì? Bao nhiêu đau khổ mà chúng ta phải đối mặt là vì lợi ích của Đấng Christ, và bao nhiêu là do sự lựa chọn của chúng ta mang lại?

Các độc giả mà Phao-lô gửi thư Hê-bơ-rơ đến, họ đã thành công trong việc giữ đức tin và sự cam kết với Đấng Christ, cho dầu họ phải bị ghét bỏ và bắt bớ. Tuy nhiên, về lâu dài, sự xung đột cũng đã gây thiệt hại. Họ đã đánh trận tốt lành và chiến thắng nhưng họ cũng mỏi mệt.

Đọc Hê-bơ-rơ 2:18; Hê-bơ-rơ 3:12, 13; Hê-bơ-rơ 4:15; Hê-bơ-rơ 10:25; Hê-bơ-rơ 12:3, 12, 13; và Hê-bơ-rơ 13:1–9, 13. Một số thử thách mà các tín đồ đang gặp phải là gì?

Thư Hê-bơ-rơ cho chúng ta biết rằng các độc giả của thư vẫn còn gặp khó khăn. Các lời bêu xấu hay các sự tấn công khác nhằm vào danh dự của họ vẫn tiếp tục (Hê-bơ-rơ 13:13). Một số tín đồ vẫn còn ở trong tù (Hê-bơ-rơ 13:3) — là điều có thể đã khiến hội thánh kiệt quệ về mặt tài chính và tâm lý. Họ mệt mỏi (Hê-bơ-rơ 12:12, 13) và có thể dễ dàng “ngã lòng” (Hê-bơ-rơ 12:3).

Thường khi, giữa các cá nhân hay đoàn thể, sau khi trải qua cảm giác phấn khởi của sự chiến thắng, thì tâm lý và lòng cảnh tỉnh khác thường nới lỏng, và họ trở nên dễ bị tổn thương hơn trước sự phản công của kẻ thù. Sức mạnh của một cá nhân hay đoàn thể để đối phó với một mối đe dọa mới sắp xảy ra thì khó hăng hái hơn khi phải huy động lần thứ nhì.
Đọc 1 Các Vua 19:1–4. Điều gì đã xảy ra với Ê-li?

“Nhưng một phản ứng thường hay xảy ra sau những giây phút có đức tin cao độ và thành công vẻ vang đã qua, nay đè nặng lên Ê-li. Ông sợ rằng cuộc cải cách bắt đầu trên Núi Cạc-mên có thể không bền lâu; và niềm trầm cảm xâm chiếm lòng ông. Ông đã oai hùng được lên đến đỉnh ngọn; giờ đây ông thấy mình như đang rơi xuống lòng thung lũng. Trong khi dưới sự soi dẫn của Đấng Toàn Năng, ông đã đứng trước thử thách nghiêm trọng nhất của đức tin; nhưng trong lúc chán nản này, với lời đe dọa của Giê-sa-bên văng vẳng bên tai, và dường như Sa-tan vẫn đang thắng thế qua âm mưu của người đàn bà gian ác này, ông đã mất sự nắm chặt lấy tay Đức Chúa Trời. Ông đã nhìn thấy sự tung hô vô lường và sự hưởng ứng vĩ đại. Quên mất Đức Chúa Trời, Ê-li chạy trốn mãi cho đến khi thấy mình ở trong một tình trạng kiệt quệ thê thảm, đơn độc.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 161, 162.

Hãy nghĩ về những lần bạn thất bại trong đời sống Cơ Đốc nhân của mình và cố gắng hiểu hoàn cảnh và các yếu tố góp phần dẫn đến sự sụp đổ. Bạn có thể làm gì khác hơn?

Sứ đồ khuyên độc giả nên làm gì trước hoàn cảnh của họ? Chúng ta có thể học được gì từ thư Hê-bơ-rơ mà hữu ích cho mình? Chúng ta hãy phân tích cách Đức Chúa Trời giúp Ê-li phục hồi sau sự nản lòng.

Đọc 1 Các Vua 19:5–18. Đức Chúa Trời đã làm gì để khôi phục đức tin của Ê-li, tôi tớ của Ngài?

Câu chuyện về cách Đức Chúa Trời đối xử với Ê-li sau sự kiện Cạc-mên thật hấp dẫn vì nó cho thấy sự quan tâm dịu dàng và sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời ban cho những ai đang gặp khó khăn và những người dày vò và tranh đấu để lấy lại đức tin. Đức Chúa Trời đã làm một số điều cho Ê-li. Đầu tiên, Ngài quan tâm đến nhu cầu thể chất của ông ta. Ngài cung cấp lương thực và để cho ông ta nghỉ ngơi. Sau đó, trong hang động, Ngài đã dịu dàng khiển trách ông, “Ngươi đang làm gì ở đây vậy, Ê-li?” — và giúp ông ta thấu hiểu tường tận hơn về cách Ngài làm việc và thực hiện các mục đích của Ngài. Đức Chúa Trời đến với Ê-li không trong ngọn gió, một cơn động đất, hay lửa hừng, nhưng bằng một giọng nói nhỏ nhẹ từ tốn. Sau đó, Đức Chúa Trời giao cho Ê-li một công tác phải làm và Ngài trấn an ông.

Đọc Hê-bơ-rơ 2:1, Hê-bơ-rơ 3:12–14, Hê-bơ-rơ 5:11 – 6:3 và Hê-bơ-rơ 10:19–25. Phao-lô đề nghị những người tin Chúa nên làm gì?

Trong sách Hê-bơ-rơ, chúng ta có thể tìm thấy một số chỉ dẫn mà sứ đồ đã mang đến cho độc giả để giúp họ khôi phục lại sức mạnh và đức tin ban đầu. Một khía cạnh mà Phao-lô nhấn mạnh là quan tâm đến nhu cầu thể chất của anh em đồng đạo. Ông gợi ý rằng họ nên thực hiện lòng hiếu khách và thăm viếng những người đang ở trong tù, điều này ngụ ý rằng cung cấp cho nhu cầu của họ. Sứ đồ khuyên độc giả hãy rộng lượng, nhớ rằng Đức Chúa Trời sẽ không bỏ rơi họ (Hê-bơ-rơ 13:1–6). Phao-lô cũng khiển trách cũng như khuyến khích họ. Ông cảnh báo họ đừng dần dần để bị “trôi dạt” (Hê-bơ-rơ 2:1) và đừng có “lòng xấu xa của sự vô tín” (Hê-bơ-rơ 3:12), và ông khuyến khích họ tăng trưởng lớn lên trong sự hiểu biết về đức tin (Hê-bơ-rơ 5:11 – 6:3). Ông cũng nhắc đến tầm quan trọng của sự nhóm họp đều đặn tại nhà thờ (Hê-bơ-rơ 10:25). Tóm lại, ông đề nghị họ hiệp tác cùng nhau, thúc dục và khích lệ lẫn nhau, khơi dậy tình yêu thương và việc lành, nhưng ông cũng xưng tụng Đức Chúa Giê-su và chức vụ của Ngài trong đền thánh trên trời (Hê-bơ-rơ 8:1, 2; Hê-bơ-rơ 12:1–4).

Đọc Hê-bơ-rơ 1:2; 9:26–28; 10:25, 36–38; và Hê-bơ-rơ 12:25–28. Phao-lô nhấn mạnh điểm nào ở đây, đặc biệt là về thời gian?

Có một yếu tố rất quan trọng mà sứ đồ nhấn mạnh đã làm tăng thêm tính cấp bách cho lời khuyên của ông: các độc giả đang sống trong “những ngày sau rốt” (Hê-bơ-rơ 1:2) và các lời hứa sắp được thành tựu (Hê-bơ-rơ 10:36–38). Như chúng ta sẽ thấy, điều thú vị là trong toàn thư mình, Phao-lô so sánh những người nghe bài giảng của mình với thế hệ đã đi trong đồng vắng và họ nay đang đứng ngay bên bờ biên giới đất Ca-na-an, sẵn sàng để bước vào Đất Hứa. Ông nhắc họ, “Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, Thì Đấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu” (Hê-bơ-rơ 10:37). Và rồi ông khuyến khích họ: “Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi” (Hê-bơ-rơ 10:39). Lời khuyến dụ cuối cùng này nhắc nhở độc giả, và chính chúng ta, về những nguy hiểm mà dân Chúa đã trải qua trong lịch sử ngay trước khi những lời hứa của Đức Chúa Trời được thành tựu.

Sách Dân số Ký đã nói về điều này. Kinh Thánh cho biết hai lần, ngay trước khi bước chân vào Đất Hứa, dân Y-sơ-ra-ên đã phải chịu những thất bại quan trọng. Lần đầu, được ghi lại trong Dân số Ký 13 và 14, cho chúng ta biết về những hồ nghi mà một số các nhà lãnh đạo đã lan truyền qua hội mạc và khiến Y-sơ-ra-ên bị mất đức tin. Kết quả là hội mạc quyết định bổ nhiệm một người lãnh đạo mới và quay trở về Ê-díp-tô, đúng vào lúc mà họ lẽ ra chuẩn bị tiến vào Ca-na-an.

Lần thứ hai, dân Y-sơ-ra-ên vướng vào nhục dục và sự thờ phượng giả dối tại Ba-anh Phê-ô (Dân số Ký 24, 25). Trong khi Ba-la-am không thể mang lời rủa sả cho dân Y-sơ-ra-ên, thì Sa-tan đã dùng những cám dỗ về tình dục để dẫn dân Y-sơ-ra-ên đến sự thờ phượng lầm lạc và phạm tội, đồng thời khiến Đức Chúa Trời không hài lòng với họ.

Phao-lô cảnh báo độc giả Hê-bơ-rơ về cả hai mối nguy hiểm ấy. Trước hết, ông khuyến khích họ giữ vững lời tuyên xưng đức tin và hướng mắt vào Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 4:14, Hê-bơ-rơ 10:23, Hê-bơ-rơ 12:1–4). Kế đến, ông khuyên họ chống lại sự vô luân và lòng tham muốn (Hê-bơ-rơ 13:4–6). Cuối cùng, ông khuyến khích họ tuân theo và vâng lời những người lãnh đạo của họ (Hê-bơ-rơ 13:7, 17).

Xem xét sự hiểu biết của chúng ta về tình trạng của người chết — và rằng ngay khi chúng ta nhắm mắt lìa đời, điều tiếp theo mà chúng ta biết là Sự Tái lâm — vì sao chúng ta có thể nói rằng tất cả mọi người đều đã sống trong “những ngày sau rốt”?

David A. deSilva giải thích rõ ràng lý do tại sao các Cơ Đốc nhân ban đầu phải chịu sự bắt bớ:“Các Cơ Đốc nhân đã áp dụng một lối sống mà . . . đã bị xem là phản xã hội và thậm chí phản loạn. Lòng trung thành với các thần, bày tỏ bằng sự sùng kính tham gia các buổi tế lễ và những thứ tương tự, được xem như một biểu tượng cho lòng trung thành với quốc gia, chính quyền, bạn bè và gia đình. Việc thờ cúng các vị thần là một cái gì đó biểu tượng cho sự thành tín hết lòng của một người đối với các mối quan hệ giữ cho xã hội ổn định và thịnh vượng. Bằng cách tránh không làm những điều ấy, các Cơ Đốc nhân (như người Do Thái) bị nghi ngờ là những kẻ có tiềm tàng sự phạm pháp và [là] những phần tử muốn phản loạn trong vương quốc.” — Perseverance in Gratitude (Grand Rapids, MI: Eerdmans Publishing Company, 2000), trang 12).

“Đối với những người chán nản, có một phương thuốc chắc chắn — đức tin, cầu nguyện, làm việc. Niềm tin và hoạt động sẽ mang lại sự an lòng và niềm thỏa lòng, và chúng sẽ tăng lên từng ngày. Bạn có bị cám dỗ trong việc để mình bị những cảm giác lo lắng về tương lai hay hoàn toàn tuyệt vọng chiếm ngự không? Trong những ngày đen tối nhất, khi mọi sự dường như chẳng tỏ tường mà đầy u ám, đừng sợ. Hãy đặt đức tin nơi Chúa. Ngài biết nhu cầu của bạn. Ngài có mọi quyền uy. Tình yêu và lòng nhân từ vô hạn của Ngài không bao giờ hao mòn. Đừng sợ rằng Ngài sẽ không thực hiện lời hứa của Ngài. Ngài là chân lý vĩnh cửu. Ngài sẽ không bao giờ thay đổi giao ước mà Ngài đã lập với những ai yêu mến Ngài. Và Ngài sẽ ban cho những tôi tớ trung thành của Ngài mọi điều mà nhu cầu của họ đòi hỏi. Sứ đồ Phao-lô đã làm chứng: ‘Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối . . . Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ’ (2 Cô-rinh-tô 12:9, 10).” — Ellen G. White, Prophets and Kings, trang 164, 165.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Có thể nào sống “khác biệt” vì sự quyết tâm cam kết của đời Cơ Đốc nhân, mà vẫn không bị buộc tội là “tách biệt” và chẳng để ý đến nhu cầu người khác không? Nếu có, thì như thế nào?

2. Từ ngữ “khuyến khích” trong Kinh Thánh có thể ngụ ý cả lời quở trách hoặc lời khích lệ. Chúng ta nên quan tâm đến điều gì khi khiển trách một người chán nản chùn chân?

3. Bạn tìm thấy điểm tương đồng nào giữa kinh nghiệm của độc giả Hê-bơ-rơ và kinh nghiệm của hội thánh Lao-đi-xê trong sách Khải huyền 3:14–22? Kinh nghiệm của chúng ta ngày nay, hai nghìn năm sau, giống với kinh nghiệm của họ theo những cách nào, và chúng ta có thể học được gì từ những điểm tương đồng của họ?