2022 - Q2 | SÁNG THẾ

Bài Học 13, 18 — 24 Tháng 6, 2022

Y-SƠ-RA-ÊN Ở TẠI Ê-DÍP-TÔ

CÂU GỐC: “Vậy, Y-sơ-ra-ên trú ngụ tại miền Gô-sen thuộc về xứ Ê-díp-tô, gây được cơ nghiệp tại đó, sanh sản và thêm lên bội phần” (Sáng thế Ký 47:27).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 46; Rô-ma 10:12, 13; Sáng thế Ký 47; Sáng thế Ký 48; Công vụ 3:25, 26; Sáng thế Ký 49; Phi-líp 2:10; Sáng 49:29–50:21.

Sách Sáng thế Ký ghi lại những năm cuối đời của cả Gia-cốp và Giô-sép. Chúng ta thấy Gia-cốp (Y-sơ-ra-ên) rời Ca-na-an (Sáng thế Ký 46) để đến định cư ở Ê-díp-tô (Sáng thế Ký 47), và tại đó ông sẽ qua đời (Sáng thế Ký 49:29–50:21). Tuy nhiên, ngay cả trong khung cảnh của đất nước Ai Cập này, viễn ảnh về Đất Hứa vẫn còn ẩn hiện rất nhiều ở đằng sau (Sáng thế Ký 50:22–26).

Ngay khi Gia-cốp đến Ai Cập, Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn (Sáng thế Ký 47:7–10), do đó hoàn thành (dĩ nhiên một phần) lời hứa của Áp-ra-ham là nguồn phước cho các dân tộc (Sáng thế Ký 12:3). Sau đó, khi sắp chết, Gia-cốp ban phước cho các con trai của Giô-sép (Sáng thế Ký 48). Gia-cốp cũng ban phước cho các con trai của mình (Sáng thế Ký 49:1–28) và đưa ra những tiên đoán rất đáng ghi khắc về mỗi người trong bối cảnh tương lai của 12 chi phái Y-sơ-ra-ên (Sáng thế Ký 49:1–27).

Tuy nhiên, thực tế là Y-sơ-ra-ên “trú ngụ” trong cảnh lưu đày, ở đất Ai Cập như những người khách lạ, lòng ngập tràn khát khao của niềm hy vọng về Đất Hứa. Và mặc dù chính sách Sáng thế Ký kết thúc với dân Y-sơ-ra-ên ở Ai Cập, một số lời cuối cùng của Giô-sép lại hướng đến một nơi khác: “Em sẽ chết, nhưng Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em thật; đem các anh em về xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp” (Sáng thế Ký 50:24).

Đọc Sáng thế Ký 46. Việc Gia-cốp rời khỏi Ca-na-an có ý nghĩa gì?

Khi Gia-cốp rời khỏi Ca-na-an, ông tràn đầy hy vọng. Sự bảo đảm rằng ông và gia đình sẽ không còn đói và tin mừng rằng Giô-sép còn sống chắc hẳn đã là động lực cho ông để ông cần rời khỏi Đất Hứa.

Sự ra đi của Gia-cốp lặp lại kinh nghiệm của Áp-ra-ham, mặc dù trong trường hợp của Áp-ra-ham, ông đang hướng đến Đất Hứa. Gia-cốp nghe cùng lời hứa mà Áp-ra-ham đã nghe từ Đức Chúa Trời, đó là Ngài sẽ khiến ông trở thành “một nước lớn” (Sáng thế Ký 46:3; so sánh với Sáng 12:2). Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời ở đây cũng gợi nhớ đến giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham; trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Trời sử dụng những lời trấn an giống nhau “đừng sợ” (Sáng thế Ký 46:3; so sánh với Sáng thế Ký 15:1), là lời mang theo lời hứa về một tương lai huy hoàng.

Việc liệt kê đầy đủ tên của những người con của Y-sơ-ra-ên đã đến Ai Cập, kể cả các con gái của ông (Sáng thế Ký 46:7), nhắc lại lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham về việc sinh sôi nảy nở cho Áp-ra-ham ngay cả khi ông vẫn chưa có đứa con nào. Con số “bảy mươi” (bao gồm Gia-cốp, Giô-sép và hai con trai của ông) thể hiện ý tưởng về tính tổng thể. Đó là “tất cả Y-sơ-ra-ên” đi đến Ê-díp-tô. Điều quan trọng nữa là con số 70 tương ứng với số các dân tộc khác (Sáng thế Ký 10), cho thấy rằng vận mệnh của mọi dân tộc cũng nằm trong cuộc hành trình của Gia-cốp.

Lẽ thật này sẽ chỉ trở nên rõ ràng hơn phải nhiều năm sau, sau thập tự giá và sự mặc khải đầy đủ hơn về kế hoạch cứu rỗi, dĩ nhiên là dành cho toàn thể nhân loại, ở mọi nơi, chứ không chỉ dành cho con cháu Áp-ra-ham.

Nói cách khác, dầu những câu chuyện về gia đình này, dòng dõi của Áp-ra-ham, có kỳ thú đến đâu, và bất cứ bài học tâm linh nào mà chúng ta có thể học được từ chúng — những câu chuyện này nằm trong Lời Chúa vì chúng là một phần của lịch sử cứu rỗi; chúng là một phần trong kế hoạch của Đức Chúa Trời nhằm mang lại sự cứu chuộc cho nhiều người nhất có thể trên hành tinh sa ngã này.

“Trong người Giu-đa và người Gờ-réc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài. Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu” (Rô-ma 10:12, 13). Điều gì Phao-lô nói ở đây cho thấy tính phổ quát của phúc âm? Quan trọng hơn, những lời này nói gì với chúng ta về những gì chúng ta là một hội thánh nên làm để giúp rao truyền phúc âm?

Điều rất thú vị là, bất chấp tất cả những gì Gia-cốp đã được kể về việc Giô-sép còn sống ở Ai Cập, Chúa vẫn ban cho ông “sự hiện thấy ban đêm” (Sáng thế Ký 46:2) và trong đó truyền lệnh cho ông phải rời đi. Trong tất cả mọi nơi, lại chính là Đất Hứa mà Gia-cốp phải rời bỏ, và Ê-díp-tô (Ai Cập), sau này được liên kết với một nơi mà dân sự của Đức Chúa Trời không muốn đến (Phục truyền Luật lệ Ký 17:16).

Đọc Sáng thế Ký 47. Chúng ta có thể tìm thấy những nguyên tắc và lẽ thật thiêng liêng nào trong câu chuyện này?

“Giô-sép đưa năm người anh em của mình đến trình diện với Pha-ra-ôn và nhận được từ vua quyền cấp đất cho nhà tương lai của họ. Lòng biết ơn đối với thủ tướng của mình sẽ khiến nhà vua tôn vinh họ bằng các cuộc bổ nhiệm họ vào các văn phòng quốc gia; nhưng Giô-sép, trung thực với sự thờ phượng Đức Giê-hô-va, đã tìm cách cứu anh em mình khỏi những cám dỗ mà họ sẽ phải đối mặt với triều đình ngoại đạo; do đó, ông khuyên họ, khi bị nhà vua chất vấn, hãy nói thẳng với ông ta về nghề nghiệp của họ. Các con trai của Gia-cốp làm theo lời khuyên này, cũng cẩn thận nói rằng họ đã đến lưu trú tại xứ sở, không phải để trở thành cư dân lâu dài ở đó, do đó xin giữ quyền được ra đi nếu họ chọn việc ấy. Nhà vua đã giao cho họ một nơi nhận làm nhà, như đã được đề nghị, ở ‘vùng đất tốt nhất,’ là đất Gô-sen.” — Ellen G. White, Patriachs and Prophets, trang 233.

Phần Pha-ra-ôn cũng vậy, một cách khôn ngoan, vua không khuyến khích những người lữ khách này trở thành những kẻ ăn xin, sống bám vào sự giàu có của chủ nhà. Vua hỏi về “nghề” của họ (Sáng thế Ký 47:3) để họ có thể sống được trong môi trường mới. Vua cũng háo hức được dùng kiến thức chuyên môn của họ, và thậm chí còn gợi ý rằng họ làm việc cho ông ta như là những người “chăn các bầy súc vật của ta” (Sáng thế Ký 47:6).

Sau đó, mặc dù Gia-cốp, người ngoại bang, là người thấp kém, là người khách lạ, ông đã đứng trước người lãnh đạo của đất, và như lời Kinh Thánh viết, “Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn” (Sáng thế Ký 47:7). Ông ta, kẻ khách lạ thấp hèn, lại là người chúc phước cho Pha-ra-ôn, người cai trị Ai Cập hùng mạnh? Tại sao phải như vậy?

Động từ `amad lifney, “yết kiến” (Sáng thế Ký 47:7), thường được dùng trong ngữ cảnh của thầy tế lễ (Lê-vi Ký 14:11). Xét rằng ở Ai Cập cổ đại, Pha-ra-ôn có địa vị là thầy tế lễ cao nhất, điều này có nghĩa là, về mặt tâm linh, Gia-cốp đứng cao hơn thầy tế lễ cao nhất của Ai Cập, thậm chí cao hơn cả bản thân Pha-ra-ôn.

Dù chúng ta ở vị trí nào trong cuộc sống, thì điều đó có ý nghĩa gì đối với chúng ta, trong cách chúng ta đối xử với người khác, rằng chúng ta là “chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 2:9)? Đức tin của chúng ta đặt lên chúng ta những nghĩa vụ nào?

Khi Gia-cốp cận kề cái chết, ông nhớ lại lần trở lại Bê-tên trước đó (Sáng thế Ký 35:1–15), khi ông nhận được từ Đức Chúa Trời lời hứa mới về “cơ nghiệp đời đời” (Sáng thế Ký 48:4) đã được ban cho Áp-ra-ham (Sáng thế Ký 17:8). Vì vậy, hy vọng về Đất Hứa là một ý nghĩ an ủi nuôi dưỡng hy vọng của ông khi ông cảm thấy cái chết sắp đến. Sau đó, Gia-cốp hướng về hai đứa con trai của Giô-sép, những đứa trẻ sinh ra ở Ai Cập, và ban phước cho chúng, nhưng ông làm như vậy trong bối cảnh lời hứa trong tương lai liên quan đến dòng dõi của ông.

Đọc Sáng thế Ký 48. Tại sao Gia-cốp ban phước cho hai con trai của Giô-sép ở đây, chứ không phải các cháu trai khác của ông?

Hai con trai của Giô-sép, Ma-na-se và Ép-ra-im, là những cháu trai duy nhất mà Gia-cốp ban phước. Do đó, họ được nâng từ địa vị cháu trai lên địa vị con trai (Sáng thế Ký 48:5). Mặc dù phước lành của Gia-cốp ngụ ý sự nổi trội hơn của đứa em (Ép-ra-im) hơn đứa thứ nhất (Ma-na-se), nhưng trong căn bản, phước lành của Gia-cốp liên quan đến Giô-sép (Sáng thế Ký 48:15).

Những gì chúng ta thấy ở đây là lời chứng cá nhân về sự trung thành của Đức Chúa Trời đối với họ trong quá khứ và lời hứa của Ngài dành cho họ trong tương lai. Gia-cốp nhắc đến Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và Y-sác (Sáng thế Ký 48:15), Đấng đã cung cấp thực phẩm và sự bảo vệ cho họ. Chính Đức Chúa Trời là Đấng “đã cứu tôi ra ngoài vòng hoạn nạn” (Sáng thế Ký 48:16). Gia-cốp cũng nghĩ đến “Đức Chúa Trời của Bê-tên” (Sáng thế Ký 31:13), đấng mà ông đã vật lộn (Sáng thế Ký 32:29) và đã đổi tên ông từ Gia-cốp thành “Y-sơ-ra-ên” (Sáng thế Ký 32:26–29).

Bằng cách đề cập đến tất cả những kinh nghiệm mà Đức Chúa Trời biến điều ác thành điều tốt, Gia-cốp bày tỏ hy vọng rằng không chỉ Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc cuộc sống hiện tại của các cháu trai ông, giống như Ngài đã làm cho ông và Giô-sép, ông còn nghĩ đến tương lai, khi con cháu của ông sẽ trở lại Ca-na-an. Hy vọng này là rõ ràng khi ông nhắc đến Si-chem (Sáng thế Ký 48:22), đây không chỉ là một mảnh đất mà ông đã mua được (Sáng thế Ký 33:19) mà còn là nơi mà hài cốt của Giô-sép đã được chôn (Giô-suê 24 :32) và nơi đất đai sẽ được phân phối cho các chi phái Y-sơ-ra-ên (Giô-suê 24:1). Ngay cả giữa tất cả những gì đã xảy ra, Gia-cốp vẫn ghi nhớ những lời hứa của Đức Chúa Trời, Đấng đã phán rằng qua gia đình này “các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Sáng thế Ký 12:3).

Đọc Công vụ 3:25, 26. Theo Phi-e-rơ, lời hứa này trong Sáng thế Ký 12:3 đã được thực hiện như thế nào? Bản thân chúng ta đã nhận được phước lành này như thế nào?

Đọc Sáng thế Ký 49:1–28. Ý nghĩa thiêng liêng của việc Gia-cốp chúc phước cho các con trai của ông là gì?

Ngoài những lời tiên tri liên quan đến lịch sử trước mắt của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, Gia-cốp nhìn thấy Đấng Mê-si và niềm hy vọng cuối cùng của sự cứu rỗi. Niềm hy vọng này đã được thể hiện trong lời mở đầu của Gia-cốp, khi dùng cụm từ “ngày sau” (Sáng thế Ký 49:1), một cách diễn đạt kỹ thuật ám chỉ sự xuất hiện của vua Đấng Mê-si (Ê-sai 2:2, Đa-ni-ên 10:14).

Rồi đoạn nối tiếp đi qua dòng tương lai của mỗi người con trai. Đây không phải là những số phận đã định trước, như cách Đức Chúa Trời muốn rằng mỗi người họ sẽ phải đối diện với những gì họ phải đối mặt; đúng hơn, chúng là biểu hiện của những gì cá tính của họ và cá tính của con cháu họ sẽ mang lại. Chẳng hạn, việc Chúa biết rằng ai đó sẽ giết một người vô tội thì hoàn toàn khác với việc cho rằng ý Chúa để kẻ giết người sẽ làm điều đó.

Đọc Sáng thế Ký 49:8–12. Lời tiên tri nào được đưa ra ở đây, và tại sao nó lại quan trọng?

Cao hơn ý chí tự do của con người, Đức Chúa Trời biết trước tương lai, và Ngài đã sắp xếp rằng Đấng Mê-si sẽ đến qua dòng dõi Giu-đa. Giu-đa (Sáng thế Ký 49:8–12), người được tượng trưng bởi một con sư tử (Sáng thế Ký 49:9), ý chỉ về vương quyền và sự ca ngợi. Giu-đa sẽ sinh ra vua Đa-vít, và cũng cả Đấng Si-lô “Cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới,” Si-lô, tức là đấng sẽ mang lại shalom, “sự bình an” (Ê-sai 9:6, 7) và “các dân vâng phục Đấng đó” (Sáng thế Ký 49:10).

Người Do Thái từ lâu đã coi đây là một lời tiên tri về Đấng Mê-si, chỉ về Đấng Mê-si sắp đến, và các Cơ Đốc nhân cũng coi văn bản này là chỉ về Chúa Giê-su. “Mọi người sẽ được tập hợp lại cùng Ngài” (Sáng thế Ký 49:10), có lẽ là tiền thân của lời hứa trong Tân Ước “hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống” (Phi-líp 2:10).

Như Ellen G. White đã viết: “Sư tử, vua của rừng xanh, là một biểu tượng phù hợp của chi phái này, từ đó đã sinh ra Đa-vít, và Con trai của Đa-vít, Si-lô, đích thực ‘Sư tử của chi tộc Giu-đa,’ là đấng mà tất cả các cường quốc, cuối cùng sẽ cúi đầu và tất cả các quốc gia cung kính.” — Patriachs and Prophets, trang 236.

Tại sao chúng ta phải bày tỏ sự tôn kính đối với Đức Chúa Giê-su ngay bây giờ, ngay cả trước khi mọi dân tộc sẽ làm điều đó?

Đọc Sáng thế Ký 49:29–50:21. Chủ đề hy vọng lớn nào được tìm thấy trong phần kết của sách Sáng thế Ký?

Kết luận của Sáng thế Ký gồm ba sự kiện chứa đầy hy vọng.

Thứ nhất, đó là hy vọng rằng Y-sơ-ra-ên sẽ trở lại Đất Hứa. Môi-se, tác giả của sách Sáng thế Ký, mô tả cái chết và sự chôn cất của Gia-cốp và Giô-sép là những sự kiện chỉ về Đất Hứa. Ngay sau khi chúc phước và nói lời tiên tri của mình về “mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên” (Sáng thế Ký 49:28), Gia-cốp nghĩ đến cái chết của ông và buộc các con trai chôn ông ở Ca-na-an, tại hang Ma-kê-la, nơi Sa-ra được chôn cất (Sáng thế Ký 49:29–31). Câu chuyện mô tả đám tang tiến về Ca-na-an trở thành tiền thân của, vài thế kỷ sau, Cuộc Xuất hành từ Ai Cập.

Thứ hai, đó là hy vọng rằng Chúa sẽ biến điều ác thành điều tốt. Sau cái chết và sự mai táng của Gia-cốp, các anh trai của Giô-sép lo lắng về tương lai của họ. Họ sợ rằng giờ đây Giô-sép sẽ trả thù. Họ đến với Giô-sép và phủ phục trước mặt ông, sẵn sàng trở thành tôi tớ của ông (Sáng thế Ký 50:18), một kịch bản gợi nhớ đến những giấc mơ tiên tri của Giô-sép. Giô-sép trấn an họ và bảo họ “đừng sợ” (Sáng thế Ký 50:19), một cụm từ ám chỉ tương lai (Sáng thế Ký 15:1); bởi vì những gì “định là xấu” nghịch lại với ông, “Đức Chúa Trời đã định là tốt” (Sáng thế Ký 50:20), và chuyển hướng của các sự kiện sang hướng cứu rỗi (Sáng thế Ký 50:19–21; so sánh với Sáng 45:5, 7–9). Có nghĩa là, ngay cả khi bao nhiêu thất bại lầm lỗi của con người, sự quan phòng của Đức Chúa Trời cũng sẽ vượt trội.

Thứ ba, đó là hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu nhân loại sa ngã. Câu chuyện về cái chết của Giô-sép trong câu cuối cùng của Sáng thế Ký này sâu rộng hơn chỉ là về cái chết của Giô-sép. Thật kỳ lạ, Giô-sép không ra lệnh chôn cất xương của mình. Thay vào đó, ông chỉ vào thời gian “Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em; xin anh em hãy dời hài cốt tôi khỏi xứ nầy” (Sáng thế Ký 50:25), điều mà họ đã làm, nhiều năm sau đó, trực tiếp tuân theo những lời đó (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 13:19). Cuối cùng, niềm hy vọng về Đất Hứa, Ca-na-an, là một biểu tượng, một tiền thân, cho hy vọng cuối cùng về sự cứu rỗi, về sự phục hồi, về một Giê-ru-sa-lem mới trên trời mới và đất mới — niềm hy vọng cuối cùng của tất cả chúng ta, một niềm hy vọng trở thành chắc chắn bởi cái chết của Đấng Si-lô.

Đọc Khải huyền 21:1–4. Làm thế nào những câu này thể hiện niềm hy vọng lớn nhất mà chúng ta có? Nếu không có lời hứa này, chúng ta còn hy vọng nào khác ngoài cái chết một mình là dấu chấm hết cho mọi vấn đề của chúng ta?

“Cuộc đời của Giô-sép minh họa cuộc đời của Đấng Christ. Chính lòng đố kỵ đã khiến anh em của Giô-sép bán ông làm nô lệ; họ hy vọng ngăn ông trở nên vĩ đại hơn họ. Và khi ông bị mang qua Ai Cập, họ tự tán thưởng mình rằng họ sẽ không còn gặp rắc rối với những giấc mơ của ông nữa, rằng họ đã loại bỏ tất cả khả năng các giấc mơ ấy được thực hiện. Nhưng con đường của họ đã bị Đức Chúa Trời bỏ qua để dẫn đến chính điều mà họ mưu toan cản trở. Cũng vậy, các thầy tế lễ và trưởng lão Do Thái ganh tị với Đấng Christ, sợ rằng Ngài sẽ thu hút và dành của họ sự chú ý của dân chúng. Họ đã xử tử Ngài, để ngăn Ngài trở thành vua, nhưng do đó họ đã mang lại chính kết quả mà họ muốn đừng xảy đến.

“Giô-sép, qua sự nô lệ ở Ai Cập, đã trở thành vị cứu tinh cho gia đình cha mình; Tuy nhiên, sự thật này không làm giảm bớt mặc cảm tội lỗi của các anh người. Cũng vậy, sự đóng đinh trên thập tự giá của Đấng Christ bởi kẻ thù của Ngài đã biến Ngài trở thành Đấng Cứu Chuộc của nhân loại, Đấng Cứu Rỗi của dòng dõi sa ngã, và là Đấng thống trị trên toàn thế giới; nhưng tội ác của những kẻ giết Ngài cũng khủng khiếp như thể bàn tay quan phòng của Đức Chúa Trời đã không điều khiển nổi các sự kiện cho sự vinh hiển của Ngài và lợi ích của con người.

“Như Giô-sép bị chính anh em mình bán cho kẻ ngoại đạo, thì Đấng Christ đã bị một trong các môn đồ của Ngài bán cho những kẻ thù ghét Ngài nhất. Giô-sép bị buộc tội oan và bị tống vào tù vì đức hạnh của mình; cũng vậy Đấng Christ bị khinh thường và bị từ chối bởi vì sự sống công bình, sự tự chối bỏ thân mình của Ngài là một sự quở trách đối với tội lỗi; và mặc dù không có tội gì sai, nhưng Ngài đã bị kết án vì lời khai của các nhân chứng giả. Và sự kiên nhẫn và hiền lành của Giô-sép trước sự bất công và áp bức, sự sẵn sàng tha thứ và lòng nhân từ cao cả đối với những người anh em không bình thường của mình, đại diện cho sự chịu đựng không than trách của Đấng Cứu Rỗi đối với sự ác độc và áp bức của những kẻ gian ác, và sự tha thứ của Ngài, không chỉ đối với những kẻ giết Ngài, mà còn đối với tất cả những ai đến với Ngài để xưng mọi tội lỗi của họ và tìm kiếm sự tha thứ.” — Ellen G. White, Patriachs and Prophets, trang 239, 240.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Sau khi Gia-cốp qua đời, các anh của Giô-sép sợ rằng giờ đây Giô-sép sẽ trả thù. Điều này dạy gì về cảm giác tội lỗi mà họ vẫn nuôi dưỡng? Phản ứng của Giô-sép dạy chúng ta điều gì về sự tha thứ cho người có tội?
  2. Bạn có thể tìm thấy những điểm tương đồng nào khác giữa cuộc đời của Giô-sép và Đức Chúa Giê-su?
  3. Tập trung vào sự thật rằng mặc dù Đức Chúa Trời biết trước tương lai một cách tỏ tường, chúng ta vẫn tự do trong những lựa chọn mà chúng ta đưa ra. Làm thế nào để chúng ta dung hòa hai ý tưởng này?
Bài Học 12, 11 — 17 Tháng 6, 2022

GIÔ-SÉP, HOÀNG TỬ XỨ Ê-DÍP-TÔ

CÂU GỐC: “Hãy xem! Ta sẽ lập ngươi cầm quyền trên cả xứ Ê-díp-tô” (Sáng thế Ký 41:41).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 41:37–46; 1 Các Vua 3:12; Sáng thế Ký 42; Ro-ma 5:7–11; Sáng thế Ký 43; Sáng thế Ký 44, Sáng thế Ký 45.

Giô-sép nay là người lãnh đạo của toàn xứ Ai Cập, và các anh em của ông sẽ cúi đầu trước mặt ông mà không biết ông là ai (Sáng thế Ký 42). Các anh của Giô-sép sẽ chịu phải hạ mình khi Giô-sép buộc họ phải trở sang lần tới với Bên-gia-min (Sáng thế Ký 43), và — khi vì sự an toàn của Bên-gia-min họ đã sợ hãi và cảm thấy bị đe dọa (Sáng thế Ký 44) — họ sẽ cầu xin ân điển trước người đàn ông uy quyền này, người mà họ xem chẳng khác nào “Pha-ra-ôn”. Cuối cùng, khi Giô-sép tiết lộ danh tính của mình, họ sẽ hiểu rằng, bất chấp những gì họ đã làm, Đức Chúa Trời đã mang lại điều tốt lành trong tất cả sự chẳng lành.

Cũng rất thích thú là trong toàn bộ chuỗi các sự kiện tiếp theo này, vốn là về sự thành công của Giô-sép, lại nói lên nhiều hơn về sự ăn năn của các anh người. Các chuyến đi qua lại của họ từ Giô-sép rồi về với cha, và những trở ngại họ gặp phải, khiến họ nhớ lại những hành động gian ác của mình đối với Giô-sép và cha của họ, và họ nhận ra tội ác của mình đối với Đức Chúa Trời. Các anh của Giô-sép sống qua tất cả những sự trắc trở ấy như là một sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nhưng, cái kết cuộc xúc động khiến mọi người rơi nước mắt và vui mừng, cũng chứa đựng thông điệp về sự tha thứ cho họ, cho dầu họ đã có những hành động xấu xa không bào chữa được.

Đối với Giô-sép, những giấc mơ của Pha-ra-ôn tiết lộ những gì Đức Chúa Trời “sẽ làm” (Sáng thế Ký 41:28) trong xứ ấy. Tuy nhiên, Giô-sép không kêu gọi Pha-ra-ôn tin vào Đức Chúa Trời của mình. Thay vào đó, thái độ phản ứng tức thì của Giô-sép là hành động. Giô-sép đề nghị một chương trình kinh tế. Cũng kỳ thú là chỉ có phần kinh tế trong bài diễn văn của Giô-sép được Pha-ra-ôn giữ lại, người có vẻ quan tâm đến bài học kinh tế hơn là ý nghĩa thiêng liêng của giấc mơ và vai trò của Đức Chúa Trời trong việc gây ra giấc mơ.

Đọc Sáng thế Ký 41:37–57. Vai trò của Đức Chúa Trời trong sự thành công của Giô-sép là gì?

Pha-ra-ôn chọn Giô-sép để phụ trách không phải vì chàng đã giải thích chính xác những giấc mơ của mình và tiết lộ vấn đề sắp xảy ra của toàn xứ, mà vì chàng có giải pháp cho vấn đề đó, bởi vì “Các lời nầy đẹp ý Pha-ra-ôn và quần thần” (Sáng thế Ký 41:37), một ý kiến cũng được chia sẻ bởi các thuộc hạ của Pha-ra-ôn. Sự lựa chọn của Pha-ra-ôn dường như thực dụng hơn là tôn giáo. Tuy nhiên, Pha-ra-ôn nhận ra rằng sự hiện diện của “Thần minh của Đức Chúa Trời” (Sáng thế Ký 41:38) ở trong Giô-sép, người đủ tiêu chuẩn là “thông minh trí huệ” (Sáng thế Ký 41:39), một biểu hiện đặc trưng cho sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời ban cho (xem Sáng 41:33; so sánh với 1 Các Vua 3:12).

Tất cả các chi tiết được tường thuật trong các đoạn Kinh Thánh về trận đói kinh khủng này đều phù hợp với hoàn cảnh trong lịch sử của Ai Cập vào lúc ấy. Về mặt chính trị, việc Pha-ra-ôn bổ nhiệm Giô-sép làm người cai trị cũng không phải là điều bất thường ở Ai Cập thời cổ đại; đã có các trường hợp được chứng thực về việc người toàn quyền cai trị gốc ngoại bang được chọn.

Bảy năm tiếp theo là những năm được mùa phong phú, dư dật đến nỗi sản lượng ngũ cốc trở nên “đầy dẫy vô số” (Sáng thế Ký 41:49), một dấu hiệu của sự quan phòng siêu nhiên. Sự so sánh “như cát nơi bờ biển” (Sáng thế Ký 41:49) cho thấy đây là phước lành của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 22:17). Cá nhân Giô-sép phản chiếu ơn phước đó trong sự kết quả của chính ông, một sự trùng hợp ngẫu nhiên chứng tỏ sự hiện diện của cùng một Đức Chúa Trời đằng sau hai hiện tượng. Giô-sép có hai người con trai mà tên của chúng cho thấy kinh nghiệm của Giô-sép về sự quan phòng của Đức Chúa Trời, điều này đã biến ký ức đau đớn thành sự vui mừng (Ma-na-se) và nỗi đau trước đây thành hoa trái (Ép-ra-im). Thật là một ví dụ mạnh mẽ về cách Đức Chúa Trời biến một số điều xấu thành một điều gì đó rất tốt!

Có những cách nào mà người khác có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời là thật qua cách sống trong đời sống của chúng ta?

Đọc Sáng thế Ký 42. Điều gì đã xảy ra ở đây, và làm thế nào nó tiết lộ sự quan phòng của Đức Chúa Trời, ngay cả khi con người xấu xa và làm điều ác?

Nạn đói buộc Gia-cốp phải gửi các con trai của mình đến Ai Cập để mua ngũ cốc. Trớ trêu thay, chính Gia-cốp là người khởi xướng việc này (Sáng thế Ký 42:1). Vị trưởng tộc lão thành và bất hạnh, một nạn nhân của những hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát của mình, vô tình khởi sự cho một chuỗi các sự kiện đầy kinh ngạc để dẫn đến việc ông được đoàn tụ với đứa con trai mà ông đã thương tiếc bấy lâu nay.

Tính chất quan phòng thiên thượng của cuộc gặp gỡ này đã nổi bật qua hai yếu tố chính. Thứ nhất, nó cho thấy sự thực thi của các điềm chiêm bao tiên tri của Giô-sép thời trẻ tuổi. Sự kiện “bó lúa của các anh đều đến ở chung quanh, sấp mình xuống trước bó lúa tôi” (Sáng thế Ký 37:7) nay đang diễn ra. Giô-sép nay được xem là người “cai trị trong nước” (Sáng thế Ký 42:6) và “chúa tại xứ” (Sáng thế Ký 42:30, 33). Vị trí quyền lực của Giô-sép trái ngược với những người anh em túng thiếu của ông: “Các anh Giô-sép bèn đến, sấp mình xuống trước mặt người” (Sáng thế Ký 42:6). Đây chính 10 người anh đã chế nhạo Giô-sép về giấc mơ của chàng và nghi ngờ nó có bao giờ thành sự thật (Sáng thế Ký 37:8).

Thứ hai, cuộc gặp gỡ mà thiên thượng sắp đặt được mô tả như một phản ứng. Ngôn ngữ và chủ đề của hai sự kiện nhấn mạnh tính cách của quả báo. Cũng cùng cụm từ “họ bèn nói với nhau” (Sáng thế Ký 42:21) đã được dùng khi họ bắt đầu âm mưu chống lại Giô-sép (Sáng thế Ký 37:19). Việc bị giam giữ tạm thời của hai người trong vòng họ (Sáng thế Ký 42:17) lặp lại sự tù đày của Giô-sép (Sáng thế Ký 40:3, 4). Thật thế, các anh của Giô-sép liên hệ những gì hiện đang xảy ra với họ với những gì họ đã làm với đứa em trai của mình, có lẽ 20 năm trước. “Họ bèn nói với nhau rằng: Quả thật chúng ta cam tội cùng em ta rồi; vì lúc trước ta thấy tâm hồn nó buồn thảm khi nó xin nhờ ơn, nhưng ta không khứng cho; vậy nên tai vạ nầy mới xảy đến cho chúng ta” (Sáng thế Ký 42:21).

Những lời của Ru-bên, “nên bây giờ huyết nó đòi chúng ta thường lại” (Sáng thế Ký 42:22), lặp lại lời cảnh báo trong quá khứ của mình là “Chúng ta chớ nên làm đổ máu ra” (Sáng thế Ký 37:22), cho thấy rõ mối liên kết giữa những gì họ đang phải đối mặt và những gì họ đã làm.

Chắc chắn hầu hết chúng ta đều đã có làm những điều mà chúng ta rất hối tiếc. Làm thế nào, dầu ở bất cứ mức độ nào đó, chúng ta có thể bù đắp cho những gì mình đã làm? Ngoài ra, tại sao việc chấp nhận lời hứa tha thứ của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-su lại rất quan trọng đối với chúng ta (xin xem Rô-ma 5:7–11)?

Việc để cho Bên-gia-min đi xa mình là điều Gia-cốp không thể dễ dàng cho phép. Đây là đứa con duy nhất của ông với Ra-chên người vợ yêu quí của mình, mà còn ở với ông. Ông sợ rằng mình sẽ mất nó, vì ông đã mất Giô-sép (Sáng thế Ký 43:6–8). Chỉ khi không còn lương thực (Sáng thế Ký 43:2) và khi Giu-đa cam kết bảo đảm sự trở về của Bên-gia-min (Sáng thế Ký 43:9), Gia-cốp cuối cùng mới đồng ý cho chuyến đi thứ hai của các con mình đến Ai Cập và cho phép Bên-gia-min đi cùng với các anh.

Đọc Sáng thế Ký 43. Sự hiện diện của Bên-gia-min có ảnh hưởng gì đến diễn biến của các sự kiện?

Sự hiện diện của Bên-gia-min đã thống trị các sự kiện. Khi tất cả anh em đứng trước mặt Giô-sép, Bên-gia-min là người duy nhất mà Giô-sép nhìn thấy (Sáng thế Ký 43:16). Bên-gia-min là người duy nhất được gọi là “em ruột” (Sáng thế Ký 43:29). Trong khi Bên-gia-min được nhận diện và có tên, tất cả các anh em khác không được xác định danh tính; họ đơn giản được gọi là “các người nầy” (Sáng thế Ký 43:16).

Giô-sép gọi Bên-gia-min là “con út” như một cách thể hiện tình cảm đặc biệt đầy thương mến (Sáng thế Ký 43:29; so sánh với Sáng 22:8). Sự chúc phước của Giô-sép đề cập đến “ân điển” (Sáng thế Ký 43:29), gợi nhớ đến việc ông cầu xin ân điển mà chẳng được ban cho (Sáng thế Ký 42:21). Giô-sép cho Bên-gia-min ân điển mà chàng đã không nhận được từ các anh của mình.

Trong khi các anh trai của Giô-sép sợ rằng họ sẽ bị tống vào tù vì số tiền mua thốc lúa đã được bỏ lại trong bao của họ, thì Giô-sép chuẩn bị một bữa tiệc cho họ vì sự hiện diện của Bên-gia-min. Như thể Bên-gia-min đã có tác dụng cứu chuộc cho tình huống này. Khi tất cả các anh em đều được ngồi đúng với lứa tuổi của mình và tôn trọng các quy tắc về danh dự, thì Bên-gia-min, người trẻ nhất, được phục vụ nhiều hơn tất cả các anh em khác năm lần (Sáng thế Ký 43:33, 34). Tuy nhiên, sự thiên vị này không khiến họ bận tâm, không giống như khi Giô-sép được cha mình yêu thích nhiều năm trước mà đã dẫn đến những hành động kinh tởm của họ đối với đứa em cùng cha khác mẹ và đối với cha ruột của họ (Sáng thế Ký 37:3, 4).

“Bằng sự ưu ái này dành cho Bên-gia-min, Giô-sép hy vọng có thể xác định chắc chắn liệu đứa em út có bị ganh tị và thù hận như bản thân người đã nhận chịu ngày trước hay không. Vẫn tưởng Giô-sép không hiểu ngôn ngữ của họ, các anh em thoải mái trò chuyện với nhau; do đó người có cơ hội tốt để tìm hiểu tình cảm thật của lòng họ. Nhưng Gia-sép vẫn muốn thử họ thêm nữa, và trước khi họ ra đi, người đã ra lệnh rằng phải giấu chiếc chén uống nước bằng bạc của chính mình trong bao lúa của người trẻ nhất.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 228, 229.

Đọc Sáng thế Ký 44. Tại sao Giô-sép lại để cái chén bạc trong bao của Bên-gia-min mà không phải trong bao của các anh em khác?

Câu chuyện này cũng như câu chuyện trước. Như trước đây, Giô-sép ra những lệnh cụ thể; và một lần nữa, ông cho chất đầy thốc lúa vào bao của mọi người. Tuy nhiên, lần này, Giô-sép thêm một mệnh lệnh kỳ lạ là đặt chiếc chén bạc quý giá của mình vào bao của Bên-gia-min.

Vì lẽ ấy, các sự kiện diễn ra theo một hướng khác. Trong khi sau chuyến đi trước, các anh đã trở về Ca-na-an để dẫn Bên-gia-min đi cùng, thì bây giờ họ phải trở lại Ai Cập để đối mặt với Giô-sép. Trong khi trong tình huống trước đó, tất cả các anh em đều tìm thấy trong bao họ giống nhau, nay chỉ có Bên-gia-min được xem là người có chén của Giô-sép. Thật bất ngờ, Bên-gia-min, là người đã được tiếp đãi như là vị khách danh dự, lại là người bị nghi ngờ và bị buộc tội vì đã đánh cắp chiếc chén quý giá đó của Giô-sép. Chàng ta sẽ vào tù.

Việc Giô-sép có một chiếc chén để trò chuyện với thần linh không có nghĩa là người tin vào quyền năng của nó. Giô-sép “chưa bao giờ tuyên bố về quyền năng của bói toán, nhưng sẵn sàng để họ tin rằng người có thể đọc được những bí mật của cuộc đời họ.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 229.

Chiếc cốc ma thuật đối với Giô-sép là một cái cớ để gợi lên lãnh vực siêu nhiên, và do đó đánh thức trong lòng các anh em của ông cảm giác tội lỗi đối với Đức Chúa Trời. Đây là cách Giu-đa giải thích ngụ ý của thông điệp của Giô-sép, vì ông ám chỉ đến sự gian ác mà Đức Chúa Trời đã tìm thấy nơi họ (Sáng thế Ký 44:16). Ngoài ra, việc đánh cắp chiếc chén quý báu ấy xứng đáng cho một hình phạt nghiêm khắc và do đó thử thách sự suy nghĩ của các anh.

Cường độ cảm xúc của các anh và phản ứng của họ là rất đáng kể. Tất cả đều đồng nhất với nhau trong cùng một nỗi đau, cùng lo sợ cho Bên-gia-min, người sẽ bị mất tích giống như Giô-sép, và như chàng phải trở thành nô lệ ở Ai Cập mặc dù đứa em út, giống như anh nó, là vô tội. Đây là lý do tại sao Giu-đa đề nghị xin bắt ông làm nô lệ “thế” cho Bên-gia-min (Sáng thế Ký 44:33), giống như con chiên đực đã bị hiến tế “thế” cho Y-sác vô tội (so sánh với Sáng thế Ký 22:13). Giu-đa tự mang mình ra như một vật hy sinh, một vật thay thế, mà mục đích chính là để chống trả tai họa tàn ác sẽ hủy hại cha ông (Sáng thế Ký 44:34).

Nguyên tắc nào của tình yêu thương, như được nêu trong câu trả lời của Giu-đa, được ngụ ý trong việc xin làm kẻ thay thế? Làm thế nào loại tình yêu này giải thích thần học Kinh Thánh về sự cứu rỗi? (Xem Rô-ma 5:8).

Đọc Sáng thế Ký 45. Những bài học nào về tình yêu thương, đức tin và hy vọng có thể được tìm thấy trong câu chuyện này?

Chính ngay lúc ấy, khi Giu-đa nói, “Ôi, tôi nỡ nào thấy điều tai họa của cha tôi ư!” (Sáng thế Ký 44:34), Giô-sép không cầm lòng được đã “cất tiếng lên khóc” (Sáng thế Ký 45:2) và sau đó “tỏ thật” cho các anh em mình được biết mình là ai. Cách diễn đạt này, thường được dùng để chỉ sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 6:3, Ê-xê-chi-ên 20:9), gợi ý rằng chính Đức Chúa Trời cũng đã bày tỏ chính Ngài ở đây. Có nghĩa là, Chúa đã cho thấy rằng sự quan phòng của Ngài ngự trị, ngay cả khi con người không muốn.

Anh em của Giô-sép không thể tin những gì họ đang nghe và nhìn thấy. Vì vậy, Giô-sép phải lặp lại, “Tôi là Giô-sép,” (Sáng thế Ký 45:4), và chỉ vào lần thứ hai, khi họ nghe những lời chính xác “em mà các anh đã bán đặng bị dẫn qua xứ Ê-díp-tô” ( Sáng thế Ký 45:4), thì họ mới tin.

Sau đó, Giô-sép tuyên bố: “đừng sầu não và cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị dẫn đến xứ nầy; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh” (Sáng thế Ký 45:5). Việc nhắc đến Đức Chúa Trời có một mục đích kép. Nó không chỉ giúp trấn an anh em của mình rằng Giô-sép không có cảm xúc xấu về họ; nó cũng là một lời tuyên xưng đức tin sâu sắc, và là một biểu hiện của hy vọng, bởi vì những gì họ đã làm là cần thiết cho “sự giải cứu lớn” và “còn nối dòng trên mặt đất” (Sáng thế Ký 45:7).

Sau đó, Giô-sép thúc giục các anh em của mình trở về cùng cha để chuẩn bị cho ông đến Ai Cập. Người kèm theo lời kêu gọi của mình với những lời cụ thể liên quan đến nơi họ sẽ cư ngụ, đó là Gô-sen, nổi tiếng với đồng cỏ trù phú, “màu mỡ của đất” (Sáng thế Ký 45:10, 18). Người cũng lo việc vận chuyển: xe được cung cấp, điều này cuối cùng sẽ thuyết phục Gia-cốp rằng các con trai của ông không nói dối ông về những gì họ vừa trải qua (Sáng thế Ký 45:27). Gia-cốp xem các chứng minh hữu hình này làm bằng chứng hiển nhiên rằng Giô-sép còn sống, và điều này đủ để làm ông như hồi sinh (so sánh với Sáng thế Ký 37:35, Sáng thế Ký 44:29).

Mọi điều nay thật tốt lành. Tất cả 12 người con trai của Gia-cốp còn sống. Gia-cốp ngày nay được gọi là “Y-sơ-ra-ên” (Sáng thế Ký 45:28), và sự quan phòng của Đức Chúa Trời đã được thể hiện một cách hùng hồn.

Quả thật, Giô-sép đã rất nhân từ đối với các anh của mình. Người có thể đủ điều kiện để làm vậy. Tuy nhiên, làm thế nào chúng ta học được cách nhân từ đối với những người mà sự tàn ác họ đối với chúng ta không trở nên tốt đẹp như đối với Giô-sép?

“Ba ngày bị giam giữ là những ngày đau khổ cay đắng với các con trai của Gia-cốp. Họ suy ngẫm về con đường sai lầm trong quá khứ của họ, nhất là về sự tàn nhẫn của họ đối với Giô-sép. Họ biết nếu họ bị kết tội là gián điệp, và họ không thể mang chứng cứ ra để thanh minh, họ sẽ phải chết, hoặc trở thành nô lệ. Họ chẳng biết có nỗ lực nào mà bất kỳ ai trong vòng họ có thể làm để khiến cha họ đồng ý cho Bên-gia-min ra đi khỏi mình hay không, sau cái chết tàn nhẫn, như ông đã tưởng, mà Giô-sép đã phải chịu. Họ bán Giô-sép làm nô lệ, và họ sợ rằng Đức Chúa Trời định trừng phạt họ bằng cách làm khổ họ để trở thành nô lệ. Giô-sép nghĩ thương cha mình và gia đình của các anh em mình có thể đang phải khổ sở vì thiếu ăn, và người tin chắc rằng các anh của mình đã ăn năn về sự đối xử tàn ác của họ đối với mình, và trong bất kể thế nào, họ sẽ không đối xử với Bên-gia-min như họ đã đối xử với người.” — Ellen G. White, Spiritual Gifts, cuốn 3, trang 155, 156.

“Giô-sép đã hài lòng. Người đã minh chứng được lòng dạ các anh của mình, và đã nhìn thấy ở họ thành quả của sự ăn năn thật sự đối với tội lỗi của họ.” — Ellen G. White, Spiritual Gifts, cuốn 3, trang 165.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Trong lớp, hãy tập trung vào câu hỏi vào cuối buổi học Thứ Năm. Bạn có nghĩ rằng Giô-sép cũng ân cần với các anh mình nếu cuộc đời người đã chẳng được tốt đẹp như vậy không? Dĩ nhiên, chúng ta không thể biết chắc được, nhưng trong toàn câu chuyện của Giô-sép, có những dấu hiệu nào, nếu có, tiết lộ cho chúng ta biết cá tính của Giô-sép, điều này có thể giúp giải thích sự nhân từ của người?
  2. Qua những cách nào, chúng ta có thể thấy nơi Giô-sép là một tiền thân của Đấng Christ và những gì Đấng Christ đã trải qua?
  3. Giô-sép đã thử nghiệm anh em mình. Đức Chúa Trời thử thách chúng ta theo những cách tương tự nào?
  4. Ngay cả sau ngần ấy năm, các anh em vẫn ý thức được tội lỗi của họ về những gì họ đã làm với Giô-sép. Điều này dạy chúng ta điều gì về mặc cảm tội lỗi có thể mạnh mẽ ngần nào? Và mặc dù chúng ta có thể được tha thứ và chấp nhận sự tha thứ của Đức Chúa Trời, nhưng làm thế nào để chúng ta học cách tha thứ cho chính mình, cho dù chúng ta không xứng đáng với sự tha thứ đó như thế nào?
Bài Học 11, 4 — 10 Tháng 6, 2022

GIÔ-SÉP, NGƯỜI CỦA NHỮNG GIẤC CHIÊM BAO

CÂU GỐC: “Chúng bèn nói nhau rằng: Kìa, thằng nằm mộng đến kia!” (Sáng thế Ký 37:19).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 37; Ma-thi-ơ 20:26, 27; Công vụ 7:9; Sáng thế Ký 38; Sáng thế Ký 39; Sáng thế Ký 40:1–41:36.

Câu chuyện về Giô-sép (Sáng thế Ký 37–50) là gồm hết phần chót của sách Sáng thế Ký, từ những giấc chiêm bao đầu tiên của ông ở Ca-na-an (Sáng thế Ký 37:1–11) cho đến khi ông qua đời ở Ai Cập (Sáng thế Ký 50:26). Trên thực tế, Giô-sép chiếm nhiều chỗ trong sách Sáng thế Ký hơn bất kỳ tộc trưởng nào khác. Mặc dù Giô-sép chỉ là một trong những con trai của Gia-cốp, nhưng ông được thể hiện trong Sáng thế Ký như một tộc trưởng vĩ đại, giống như Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.

Như chúng ta sẽ thấy, cuộc đời của Giô-sép làm nổi bật hai lẽ thật thần học quan trọng:thứ nhất, Đức Chúa Trời luôn thực hiện những lời hứa của Ngài; thứ hai, Chúa có thể biến điều ác thành điều tốt.

Trong nghiên cứu tuần này, chúng ta sẽ tập trung vào cuộc đời ban đầu của Giô-sép. Chàng thanh niên là con trai yêu quí nhất của Gia-cốp, người có biệt danh trớ trêu là ba‘al hakhalomot, “người nằm mộng” (Sáng thế Ký 37:19), có nghĩa đen là “bậc thầy của những điềm chiêm bao”, ngụ ý rằng chàng ta là một chuyên gia về những giấc mơ. Danh hiệu này rất phù hợp với chàng, bởi vì Giô-sép không chỉ tiếp nhận, hiểu và giải thích những giấc mơ tiên tri, mà chàng còn thực thi chúng trong cuộc sống của mình.

Trong các đoạn này, một lần nữa, chúng ta sẽ thấy rằng sự quan phòng của Đức Chúa Trời được khẳng định, ngay cả khi lòng con người xấu xa và gian ác.

Cuối cùng thì Gia-cốp cũng đã định cư ở vùng đất này. Trong khi Y-sác chỉ là “một khách lạ,” kiều ngụ trên đất, đoạn văn cũng nói rằng Gia-cốp “ở tại xứ của cha mình đã kiều ngụ” (Sáng thế Ký 37:1). Tuy nhiên, khi ông đang ổn định cuộc sống ở đất này, những rắc rối bắt đầu xảy ra, lần này là từ bên trong gia đình. Cuộc tranh chấp không liên quan đến việc sở hữu đất hay sử dụng giếng nước; nó, chủ yếu, là tâm linh.

Đọc Sáng thế Ký 37:1–11. Hoàn cảnh gia đình nào khiến các anh của Giô-sép ghét chàng ta đến vậy?

Ngay từ đầu, chúng ta hiểu rằng Giô-sép, con trai của Gia-cốp khi ông cao tuổi (Sáng thế Ký 37:3), có mối quan hệ đặc biệt với cha mình, người “thương yêu Giô-sép hơn những con trai khác”. Ông thậm chí còn đi xa đến mức may cho Giô-sép một chiếc “áo dài có nhiều sắc” (Sáng thế Ký 37:3), áo của hoàng tử (2 Sa-mu-ên 13:18), một dấu hiệu cho thấy ý định bí mật của Gia-cốp nhằm nâng cao Giô-sép, con trai đầu của Ra-chên, thành trưởng nam.

Quả thật, tương lai sẽ xác nhận mong muốn của Gia-cốp vì Giô-sép cuối cùng sẽ nhận được những quyền của đứa con đầu lòng (1 Sử Ký 5:2). Vì vậy, chẳng gì ngạc nhiên khi các anh trai của Giô-sép cực kỳ ghét chàng đến độ chẳng thể có được cả một lời tử tế và trò chuyện hòa hoãn với chàng (Sáng thế Ký 37:4).

Lại nữa, Giô-sép còn mách lại cho cha mình về bất kỳ hành vi đáng chê trách nào của các anh (Sáng thế Ký 37:2). Có ai mà thích một kẻ hay thóc mách!

Vì vậy, khi Giô-sép chia sẻ những giấc chiêm bao của mình, gợi ý rằng Đức Chúa Trời sẽ đặt chàng ở một vị trí cao hơn, và họ, những người anh em của chàng, sẽ cúi đầu trước chàng, họ lại càng ghét cay ghét đắng đứa em mình. Tính cách tiên tri chân chính của những giấc mộng này không chỉ xảy ra một lần (xem Sáng thế Ký 41:32). Mặc dù Gia-cốp công khai khiển trách con trai mình (Sáng thế Ký 37:10), nhưng ông vẫn giữ sự việc này trong tâm trí, suy ngẫm về ý nghĩa của nó và chờ đợi sự việc xảy ra (Sáng thế Ký 37:11). Ngụ ý là, có lẽ, trong tận đáy lòng, ông nghĩ rằng có thể có điều gì đó xảy ra với những giấc chiêm bao này. Ông đã đúng, tuy nhiên vào thời điểm đó, ông không thể biết được điều ấy.

Đọc Ma-thi-ơ 20:26, 27. Nguyên tắc quan trọng nào được tiết lộ ở đây, và làm thế nào chúng ta có thể học cách thể hiện điều đó trong cuộc sống của mình?

Dầu những sự kiện xảy ra sau đó thật kinh khiếp, chúng cũng có thể dễ hiểu. Ở gần, và thậm chí có quan hệ họ hàng, một người mà bạn ghét chắc chắn không chóng thì chày sẽ dẫn đến rắc rối và bất ổn.
Và điều ấy đã xảy đến.

Đọc Sáng thế Ký 37:12–36. Điều này dạy chúng ta điều gì về những tấm lòng không tái sinh thì nguy hiểm và xấu xa như thế nào và chúng có thể khiến bất kỳ ai trong chúng ta làm gì?

Các anh ghét Giô-sép vì họ ghen tị với sự ưu ái của Đức Chúa Trời (Công vụ 7:9), một sự ban ơn sẽ được khẳng định ở mỗi bước trong các diễn biến tiếp theo. Khi Giô-sép bị lạc đường, có một người đàn ông thấy chàng và chỉ đường cho chàng (Sáng thế Ký 37:15). Khi các anh trai của Giô-sép âm mưu giết chàng, anh cả Ru-bên đã can thiệp và đề nghị rằng họ nên ném đứa em xuống một cái hố khô thì tốt hơn (Sáng thế Ký 37:20–22).

Thật khó để tưởng tượng loại lòng căm thù được thể hiện ở đây, nhất là đối với một người ruột thịt của mình. Làm thế nào mà những anh này có thể làm điều độc ác đến vậy? Sao họ đã không nghĩ, dù chỉ trong một vài khoảnh khắc, rằng điều này sẽ ảnh hưởng đến cha của chính họ như thế nào? Bất cứ điều gì họ có thể có đối với cha mình chỉ vì ông đã ưu ái cho Giô-sép hơn, thì hành động của những người con của ông, thực sự là đáng khinh bỉ. Câu chuyện này thật là một biểu hiện mạnh mẽ cho thấy con người có thể xấu xa đến độ nào.

“Nhưng một vài người trong đám họ [các người anh] không hoàn toàn thoải mái; họ không cảm thấy thỏa mãn mà họ đã dự tính trước từ việc trả thù của họ. Ngay sau đó, họ thấy xa xa làm một đoàn khách thương gia. Đó là một đoàn lữ hành gồm những người dòng dõi Ích-ma-ên từ bên kia Giô-đanh, đang trên đường đến Ai Cập mang theo hàng hóa cùng với các loại gia vị, Giu-đa đề nghị bán em trai mình cho những thương nhân ngoại đạo này thay vì để nó chết. Làm điều này họ nghĩ đã dẹp bỏ được thằng em mà tay mình không bị vấy máu cốt nhục của nó.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 211.

Sau khi họ ném chàng xuống hố, định một lát trở lại giết chàng, thì một đoàn lữ hành đi qua, và Giu-đa đề nghị với anh em của mình bán Giô-sép cho họ (Sáng thế Ký 37:26, 27). Sau khi Giô-sép bị bán cho người Mê-đi-an (Sáng thế Ký 37:28), người Mê-đi-an bán chàng cho một khách hàng ở Ai Cập (Sáng thế Ký 37:36), và điều ấy đưa đến sự vinh quang trong tương lai của chàng.

Tại sao việc tìm cầu quyền năng của Đức Chúa Trời lại quan trọng đến vậy để thay đổi những cá tính xấu trước khi chúng có thể biểu hiện thành một số hành vi mà tại một thời điểm nào đó trong đời, bạn sẽ không bao giờ tưởng tượng được mình sẽ làm điều gì đó?

Câu chuyện về Tha-ma không phải là lạc đề. Sự việc này diễn ra theo trình tự thời gian việc bán Giô-sép sang Ai Cập (Sáng thế Ký 38:1), và nó phù hợp với việc Giu-đa vừa rời bỏ các anh em mình, điều này cho thấy có sự bất đồng của ông với họ. Ngoài ra, câu chuyện này cũng có chung một số từ ngữ và mô hình với đoạn trước, và nó mang cùng một bài học thần học: một hành động gian ác đã được biến thành một sự kiện tích cực liên kết với sự cứu rỗi.

Đọc Sáng thế Ký 38. So sánh hành vi của Giu-đa với hành vi của Tha-ma người Ca-na-an. Ai trong hai người là người công bình hơn, và tại sao?

Giu-đa tìm được một người vợ Ca-na-an để tìm con nối dõi (Sáng thế Ký 38:2), và bà ta sinh cho ông ba con trai: Ê-rơ, Ô-nan và Sê-la. Ê-rơ có vợ người Ca-na-an tên là Tha-ma. Nhưng Ê-rơ hung ác nên Đức Chúa Trời phạt Ê-rơ chết sớm không con. Để nối dõi cho Ê-rơ, theo phong tục thời ấy, Giu-đa trao Tha-ma người Ca-na-an cho Ô-nan để cho nàng sinh con nối dõi dòng Ê-rơ. Ô-nan vì gian ác không muốn làm điều ấy nên bị Chúa giết. Giu-đa hứa với Tha-ma khi đứa con út của ông là Sê-la đủ tuổi thì ông sẽ cho nàng có cơ hội có con nối dõi Ê-rơ.

Sau một thời gian, Giu-đa dường như đã quên lời hứa của mình, thì vợ ông qua đời. Để an ủi thân mình sau khi mất vợ, ông đi tìm một người gái điếm. Tha-ma ở quê cha nàng, khi hay tin Giu-đa sẽ về vùng quê ấy, thì bèn giả dạng làm một cô gái điếm để buộc Giu-đa phải thực lời hứa của mình. Vì Giu-đa không sẵn tiền để trả cho cô gái điếm, người mà ông không nhận ra, nên ông hứa sẽ gửi cho cô ta một con dê tơ từ bầy của mình.

Tha-ma (trong vai cô gái điếm) đòi Giu-đa phải để lại một tín vật để làm chứng về món nợ cần được thanh toán. Nàng yêu cầu ông để lại cho nàng con dấu, sợi dây và cây gậy của ông để bảo đảm. Tha-ma có thai từ cuộc gặp gỡ duy nhất này. Sau đó, khi vì chửa hoang, nàng bị buộc tội lăng loàn. Có người báo tin cho Giu-đa là con dâu ông chửa hoang, Giu-đa ra lệnh phải trừng phạt dâm phụ bằng thiêu sống nàng. Trước khi bị xử tử, Tha-ma xin gởi lại các tín vật nàng đã giữ của Giu-đa và nói rằng đó là của người đã làm nàng mang thai. Lúc ấy Giu-đa hiểu rõ lỗi lầm của mình là đã thất hứa không gã nàng cho con trai Sê-la để nàng có con nối dõi cho chồng nàng. Ông xin lỗi nàng và không để nàng bị xử tử và ông cũng không ăn ở cùng nàng nữa.

Kết luận của câu chuyện đầy nhơ bẩn này là sự ra đời của Phê-rết, tên người có nghĩa là “đột phá”, người, giống như Gia-cốp, đứa ra sau của hai bé song sinh, và trở thành đứa đầu, và được lưu danh trong lịch sử cứu rỗi là tổ tiên của Đa-vít (Ru-tơ 4:18–22), và cuối cùng là của Đức Chúa Giê-su Christ (Ma-thi-ơ 1:3). Về phần Tha-ma, bà là người đầu tiên trong bốn người phụ nữ — tiếp theo là Ra-háp (Ma-thi-ơ 1:5), Ru-tơ (Ma-thi-ơ 1:5, 6) và vợ của U-ri (Ma-thi-ơ 1:6) theo gia phả. Ma-ri, mẹ của Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 1:16).

Một bài học mà chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện này: cũng như Đức Chúa Trời đã cứu Tha-ma nhờ ân điển của Ngài, biến điều ác thành điều tốt, thì Ngài cũng sẽ cứu dân Ngài qua thập tự giá của Đức Chúa Giê-su. Và trong trường hợp của Giô-sép, Ngài sẽ biến những khó khăn của Giô-sép thành sự cứu rỗi của Gia-cốp và các con trai của ông.

Bây giờ chúng ta tiếp tục dòng câu chuyện của Giô-sép, vốn đã bị “gián đoạn” bởi sự cố Tha-ma. Giô-sép hiện đang làm nô lệ cho “Quan thị vệ”, người phụ trách nhà tù cho các quan chức hoàng gia (Sáng thế Ký 40:3, 4; Sáng 41:10–12).

Đọc Sáng thế Ký 39. Theo gương của Giô-sép khi làm quản lý dưới thời Phô-ti-pha, đâu là yếu tố dẫn đến thành công như vậy?

Gần như tức thì, Giô-sép được mô tả là một người thành công (Sáng thế Ký 39:2, 3). Đức Chúa Trời phù hộ chàng và chàng rất tốt và được chủ tin tưởng đến nỗi “Giô-sép được ơn trước mặt chủ mình; chủ cắt chàng hầu việc, đặt cai quản cửa nhà, và phó của cải mình cho chàng hết” (Sáng thế Ký 39:4).

Tuy nhiên, thành công của Giô-sép không làm chàng hư hỏng. Khi vợ của Phô-ti-pha để ý đến chàng và muốn quyến dụ chàng ngủ với cô ta, Giô-sép khẳng khái từ chối và thà mất việc làm và sự an toàn của mình hơn là “làm điều đại ác dường ấy, mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời” (Sáng thế Ký 39:9). Người phụ nữ, bị làm nhục bởi sự từ chối của Giô-sép, đã báo cáo sai sự thật với các đầy tớ trong nhà và chồng của mình rằng Giô-sép muốn hãm hiếp cô. Kết quả là Giô-sép bị tống vào tù.

Giô-sép cảm nghiệm ở đây điều mà tất cả chúng ta đều đã trải qua: cảm giác bị Đức Chúa Trời bỏ rơi mặc dù ngay cả trong thời điểm khó khăn này, “Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép” (Sáng thế Ký 39:21).

Cuối cùng, Chúa hành động, và Ngài đã tác động đến mối quan hệ của Giô-sép, kẻ tù nhân, với viên quản ngục. Ở đây, cũng như trong nhà của chủ mình, Chúa ban phước cho Giô-sép. Chàng rõ ràng là một người có tài năng, và mặc dù hoàn cảnh thậm chí còn tồi tệ hơn bây giờ (nói cho cùng trước kia chỉ là kẻ nô lệ, nay là tù nhân!), chàng tìm cách tận dụng nó. Tuy nhiên, bất kể tài năng của chàng là gì, lời Kinh Thánh ghi rõ rằng, cuối cùng, chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng đã mang sự thành công đến cho chàng. “Chủ ngục chẳng soát lại những việc đã ở nơi tay Giô-sép, vì có Đức Giê-hô-va phù hộ chàng, xui cho việc chi chàng làm cũng được thạnh vượng” (Sáng thế Ký 39:23). Điều quan trọng là tất cả những người có năng khiếu, tất cả những người “thành công”, hãy nhớ rằng tất cả đều bắt nguồn từ đâu!

Đọc Sáng thế Ký 39:7–12. Giô-sép đã chống lại sự tấn công của vợ chủ như thế nào? Tại sao Giô-sép lại nói rõ ràng rằng nếu chàng làm điều bà ta yêu cầu sẽ là phạm tội cùng Đức Chúa Trời? Chàng cho thấy sự hiểu biết nào về bản chất của tội lỗi và nó là gì?

Đọc Sáng thế Ký 40:1–41:36. Những giấc mộng của Pha-ra-ôn có liên quan thế nào các điềm chiêm bao của hai quan cận thần? Ý nghĩa của việc các giấc mộng được kể ở đây là gì?

Tính cách quan phòng thiên thượng vẫn tiếp tục. Theo thời gian, Giô-sép được giao trách nhiệm quản lý các tù nhân, hai người trong số họ là cựu cận thần của Pha-ra-ôn, một người là quan thượng thiện lo việc làm thức ăn cho vua (Sáng thế Ký 41:9–11), và một người là quan tửu chánh hầu rượu cho vua. Cả hai người đều nằm mơ có những giấc mơ lạ lùng làm rối lòng mà họ không thể hiểu được, bởi vì “không ai bàn giùm” (Sáng thế Ký 40:8). Giô-sép, sau đó đã giải thích những giấc mơ của họ.

Tương tự như hai giấc mơ của hai vị quan này, Pha-ra-ôn cũng có hai điềm chiêm bao mà không ai có thể giải thích được (Sáng thế Ký 41:1–8). Vào lúc đó, quan tửu chánh mới chợt nhớ đến Giô-sép và đề nghị chàng với Pha-ra-ôn (Sáng thế Ký 41:9–13).

Cũng như hai điềm mộng của các quan, Pha-ra-ôn cũng gặp băn khoăn và bất an vì những giấc mộng của mình và cũng muốn được có ai giải thích chúng (Sáng thế Ký 41:14–24), và Giô-sép giải thích chúng. Giống như giấc mơ của các quan, giấc mơ của Pha-ra-ôn cũng cho thấy các biểu tượng: hai nhóm hình ảnh của bảy con bò (béo và gầy) cũng như hai nhóm hình ảnh của bảy gié lúa (mập và lép) đại diện cho hai nhóm của bảy năm, một tốt và một xấu. Bảy con bò song song với bảy gié lúa, lặp lại cùng một thông điệp, là một bằng chứng về sự khải thị từ thiên thượng của chúng, không khác nào những giấc mơ của Giô-sép thời trẻ tuổi (Sáng thế Ký 41:32; so sánh với Sáng 37:9).

Mặc dù Giô-sép là người giải thích giấc mơ cho Pha-ra-ôn, nhưng Giô-sép muốn cho Pha-ra-ôn biết tỏ tường rằng chính Đức Chúa Trời, Elohim, là đấng đã chỉ cho vua những điều mà Ngài, Đức Chúa Trời, sẽ làm (Sáng thế Ký 41:25, 28). Dường như Pha-ra-ôn, hiểu được. Có vẻ như Pha-ra-ôn cũng nhận thức được thông điệp ấy, bởi vì, khi ông quyết định chỉ định một người nào đó cai quản cả nước mình, đã lập luận như sau: “Vì Đức Chúa Trời xui cho ngươi biết mọi việc nầy, thì chẳng còn ai được thông minh trí huệ như ngươi nữa. Vậy, ngươi sẽ lên cai trị nhà trẫm; hết thảy dân sự của trẫm đều sẽ vâng theo lời ngươi. Trẫm lớn hơn ngươi chỉ vì ngự ngôi vua mà thôi” (Sáng thế Ký 41:39, 40).

Thật lạ lùng làm sao: nhờ ơn Chúa, Giô-sép từ người cai quản nhà Phô-ti-pha trở thành người cai quản nhà tù đến thành người cai trị trên toàn cõi Ai Cập. Thật là một câu chuyện phi thường về, dầu trong cảnh ngộ nào, ngay cả trong những hoàn cảnh thật tệ hại khủng khiếp, sự quan phòng của Đức Chúa Trời được tỏ bày.

Làm thế nào chúng ta có thể học biết trông cậy Đức Chúa Trời và bám vào những lời hứa của Ngài khi dầu mọi sự xảy ra dường như không có bàn tay thiên thượng, hay cả, Đức Chúa Trời dường như im lặng?

“Trong thời niên thiếu, khi họ đang từ tuổi thanh niên bước vào tuổi thành nhơn, Giô-sép và Đa-ni-ên đã bị buộc phải lìa gia đình và bị bắt làm phu tù hay nô lệ ở trong vùng đất ngoại đạo. Nhất là Giô-sép phải chịu nhiều cám dỗ để đưa đến những thay đổi lớn về tương lai mình. Trong nhà cha, chàng là một đứa trẻ được yêu thương dịu dàng; trong nhà của Phô-ti-pha, chàng là một nô lệ, sau đó làm người được tin cậy và là bạn tù đồng cảnh ngộ; một người đàn ông của các vấn đề, sự giáo dục của chàng có được là bằng sự học hỏi, quan sát, và giao tiếp với những người quanh mình; trong ngục tối của Pha-ra-ôn, chàng là một tù nhân quốc gia bị kết án bất công, không có hy vọng được minh oan hoặc có triển vọng được phóng thích; rồi thành người đươc kêu gọi để lãnh đạo quốc gia khi đất nước phải đối diện với một cuộc khủng hoảng vĩ đại — điều gì đã giúp Giô-sép giữ được sự chính trực của mình? . . .

“Thời thơ ấu, Giô-sép đã được dạy về tình yêu thương của Đức Chúa Trời và sự kính sợ Ngài. Thường trong lều của cha mình, dưới các vì sao của núi đồi Syria, chàng đã được nghe kể câu chuyện về giấc mơ trong đêm ở Bê-tên, về bậc thang từ trời xuống đất, và các thiên sứ đi xuống và đi lên, và về Đấng từ ngôi trên đã mặc khải chính Ngài cho Gia-cốp. Chàng đã được kể câu chuyện về cuộc vật lộn xung đột gần Gia-bốc, khi từ bỏ những tội lỗi mà mình thường trân quí, Gia-cốp đã đứng lên từ bỏ chúng, và chiến thắng, để được nhận danh hiệu hoàng tử với Chúa.

“Là một cậu bé chăn cừu, chăm sóc bầy đàn của cha mình, cuộc đời trong sáng và giản dị của Giô-sép đã tạo điều kiện cho sự phát triển cả về sức mạnh thể chất lẫn tinh thần. Bằng sự thông giao với Đức Chúa Trời qua thiên nhiên và sự học hỏi về những lẽ thật vĩ đại được truyền lại như một gia tài cha trao cho con trai mình trong sự tin cậy thiêng liêng, chàng đã có được sức mạnh của trí tuệ và sự vững vàng về nguyên tắc.

“Trong cơn khủng hoảng của cuộc đời, khi phải đi trong cuộc hành trình kinh hoàng rời xa ngôi nhà thời thơ ấu của mình ở Ca-na-an đến nếp đời nô lệ đang chờ đợi chàng ở Ai Cập, đưa mắt nhìn cố tìm kiếm lần cuối cùng hình ảnh những chiếc lều của nhà mình phía sau các ngọn đồi đang dần khuất, Giô-sép nhớ đến Đức Chúa Trời của cha mình. Chàng nhớ lại những bài học thời thơ ấu của mình, và tâm hồn chàng rộn ràng với lòng quyết tâm chứng minh sự trung chính của mình – qua mỗi hành động vì mình là một con dân của Vua thiên đàng.” — Ellen G. White, Education, trang 51, 52.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. So sánh Giô-sép với Đa-ni-ên và Đức Chúa Giê-su. Họ có cùng những điểm chung nào? Theo cách riêng của mỗi người, Giô-sép và Đa-ni-ên phô bày những khía cạnh của Đức Chúa Giê-su và Đức Chúa Giê-su sẽ như thế nào?
  2. Trong lớp, hãy thảo luận về câu hỏi vào cuối buổi học Thứ Năm. Làm thế nào để chúng ta học cách tin cậy nơi Đức Chúa Trời khi mọi điều không diễn ra tốt đẹp cho chúng ta và có được như chung cuộc của Giô-sép?
Bài Học 10, 28 Tháng 5 — 3 Tháng 6, 2022

GIA-CỐP — Y-SƠ-RA-ÊN

CÂU GỐC: “Người lại nói: Tên ngươi sẽ chẳng là Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng” (Sáng thế Ký 32:28).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 32:22–31; Ô-sê 12:3, 4; Giê-rê-mi 30:5–7; Sáng thế Ký 33; Sáng thế Ký 34:30–35:29.

Câu chuyện về gia đình của Gia-cốp vẫn tiếp tục, cả điều tốt lẫn điều xấu. Tuy nhiên, qua tất cả, bàn tay của Đức Chúa Trời và sự trung thành của Ngài đối với các lời hứa của giao ước đã được bày tỏ.

Tuần này kể về Gia-cốp nhiều hơn, giờ đây ông đã rời nhà La-ban để trở về nhà, phải đối mặt với Ê-sau, nạn nhân của sự lừa dối của Gia-cốp. Người anh mà ông đã hại nặng nề, bây giờ sẽ làm gì với ông?

May mắn thay cho Gia-cốp, giữa lúc đang lo sợ về những gì sắp xảy đến, CHÚA là Đức Chúa Trời của tổ phụ ông lại xuất hiện với ông trong một sự kiện mà đấy là một điều cho thấy trước mà sau này tiên tri Giê-rê-mi gọi đấy là “kỳ tai hại của Gia-cốp!” (xin xem Giê-rê-mi 30:5–7). Và đêm đó Gia-cốp, kẻ tiếm vị, đã trở thành “Y-sơ-ra-ên”, một cái tên mới cho một khởi đầu mới, một khởi đầu mà cuối cùng dẫn đến việc thành lập một quốc gia mang tên ông.

Nói cách khác, bất chấp mọi điều xảy ra, câu chuyện về các tộc trưởng và gia đình của họ được kể trong Kinh Thánh để cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời trung thành thực hiện những gì Ngài đã hứa và Ngài sẽ làm như vậy cho dù có những điều, đôi khi, dường như, chính dân sự Ngài lại cố tình để làm tất cả những gì họ có thể làm được để ngăn chặn ý định của Chúa được thành tựu.

Thoát khỏi La-ban, Gia-cốp liền có một kinh nghiệm khác với Chúa. Biết rằng anh của mình là Ê-sau, đang đến, và cùng với “bốn trăm người” (Sáng thế Ký 32:6). Gia-cốp nhiệt thành cầu nguyện Chúa, mặc dù ông thừa nhận: “Tôi lấy làm hèn mọn không đáng chịu các ân huệ và các điều thành thực mà Ngài đã làm cho kẻ tôi tớ Ngài; vì lúc trước khi qua sông Giô-đanh chỉ có cây gậy tôi, mà ngày nay tôi lại trở nên hai đội quân nầy” (Sáng thế Ký 32:10). Gia-cốp, thực sự, đang hiểu rõ hơn về ân điển của Chúa. Và CHÚA đã trả lời như thế nào?

Đọc Sáng thế Ký 32:22–31 và Ô-sê 12:3, 4. Ý nghĩa thiêng liêng của câu chuyện diệu kỳ này là gì?

Ai cũng hiểu được hiện trạng của Gia-cốp lúc này. Lòng ông đầy sự lo âu trước những điều có thể xảy đến. Sau khi đã làm hết sức mình để tăng cường sự bảo vệ cho gia đình mình, ông dựng trại qua đêm. Rồi, bất thình lình ông bị tấn công bởi “một Người” (Sáng thế Ký 32:24). Đây là một thuật ngữ có thể có những hàm ý đặc biệt, gợi lên sự hiện diện của thần linh (xin xem Ê-sai 53:3). Đa-ni-ên dùng nó để chỉ thầy tế lễ Mi-ca-ên của thiên đàng (Đa-ni-ên 10:5); đó cũng là danh từ được Giô-suê sử dụng để mô tả “tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va”, chính là CHÚA YHWH (Giê-hô-va) (Giô-suê 5:13–15).

Thật vậy, giữa cuộc vật lộn, Gia-cốp hẳn đã thấy rõ rằng ông đang chống cự với chính Đức Chúa Trời, như lời ông nói, “Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi” (Sáng thế Ký 32:26) tiết lộ. Tuy nhiên, ông nhất định bám chặt vào đấng ấy là Đức Chúa Trời, sự từ chối không buông bỏ Ngài, cũng bộc lộ niềm khát vọng được sự tha thứ và được xem là đúng với Chúa của mình.

“Lỗi lầm đã dẫn đến tội lỗi của Gia-cốp trong việc giành lấy quyền trưởng nam bằng cách gian lận giờ đã được đặt ra trước mắt ông một cách rõ ràng. Ông đã không tin tưởng vào những lời hứa của Đức Chúa Trời, nhưng đã cố gắng bằng chính nỗ lực của mình để mang lại điều mà Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành trong thời gian và cách thức của riêng Ngài.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 197, 198.

Và bằng cớ cho thấy Gia-cốp đã được tha thứ là việc đổi tên, từ cái tên nhắc nhở về tội lỗi của người, thành cái tên đánh dấu và kỷ niệm sự chiến thắng của người. “Người lại nói: Tên ngươi sẽ chẳng là Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng” (Sáng thế Ký 32:28).

Bạn đã có bao giờ kinh nghiệm khi mình cố vật lộn cùng Chúa? Làm điều đó có nghĩa là gì, và tại sao đôi khi cũng rất quan trọng là chúng ta phải có kinh nghiệm này?

“Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, vì nói rằng: Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu” (Sáng thế Ký 32:30). Từ đó, Gia-cốp chuyển đến để gặp anh mình. Sau 20 năm xa cách, Gia-cốp thấy Ê-sau đến với 400 người (Sáng thế Ký 33:1). Gia-cốp lo lắng và do đó chuẩn bị tinh thần cho bản thân và gia đình bất kể điều gì có thể xảy ra.

Đọc Sáng thế Ký 33. Có mối liên hệ nào giữa kinh nghiệm của Gia-cốp khi nhìn thấy gương mặt của Đức Chúa Trời tại Phê-ni-ên và kinh nghiệm của Gia-cốp khi nhìn thấy gương mặt của anh trai mình? Mối liên hệ này có ý nghĩa gì đối với mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời và mối quan hệ của chúng ta với “anh em mình”, dù họ có thể là ai?

Gia-cốp sấp mình bảy lần trước anh trai mình, người mà ông gọi nhiều lần là “chúa” (Sáng thế Ký 33:8, 13, 15) và tự nhận mình là “tôi tớ” của anh (Sáng thế Ký 33:5; so sánh với Sáng 32:4, 18, 20). Đáng chú ý, bảy cái sấp mình của Gia-cốp lặp lại bảy phước lành của cha ông (Sáng thế Ký 27:27–29); còn hơn thế, khi sấp mình chào, ông đặc biệt đảo ngược lời chúc phước của cha mình, về việc “Các nước phải quì lạy [sấp mình] trước mặt con!” (Sáng thế Ký 27:29).

Dường như ý định của Gia-cốp là trả lại nợ cho anh mình và trả lại phước lành mà ông đã cướp mất (xem Sáng 33:11). Khi Ê-sau nhìn thấy em mình, ngược lại mọi sự mong đợi, ông chạy đến với Gia-cốp và thay vì giết Gia-cốp, ông “ôm choàng cổ mà hôn, rồi hai anh em đều khóc” (Sáng thế Ký 33:4).

Sau đó, Gia-cốp nhận xét với Ê-sau: “vì em thấy được mặt anh khác nào người ta thấy được mặt Đức Chúa Trời, và anh đã đẹp lòng tiếp rước em” (Sáng thế Ký 33:10). Lý do cho câu nói phi thường của Gia-cốp là ông hiểu rằng Ê-sau đã tha thứ cho ông. Động từ Ratsah trong tiếng Hê-bơ-rơ, “đẹp lòng” (Sáng thế Ký 33:10) là một thuật ngữ thần học đề cập đến bất kỳ sự hy sinh nào “đẹp lòng”, được Đức Chúa Trời “chấp nhận”, sau đó ngụ ý sự tha thứ của Đức Chúa Trời (Lê-vi Ký 22:27, A-mốt 5:22).

Kinh nghiệm của Gia-cốp về sự tha thứ của Đức Chúa Trời tại Phê-ni-ê, nơi ông nhìn thấy gương mặt của Đức Chúa Trời, giờ đây được lặp lại trong kinh nghiệm của ông về sự tha thứ của anh mình, điều mà ông xác định như thể ông nhìn thấy mặt Đức Chúa Trời. Gia-cốp sống lại một Phê-ni-ê thứ hai, lần thứ nhất đã chuẩn bị cho lần thứ nhì. Gia-cốp đã được Đức Chúa Trời và anh mình tha thứ. Quả thật bây giờ hẳn ông đã hiểu, thậm chí còn hơn trước nhiều hơn nữa, ý nghĩa của ân điển.

Bạn đã học được gì về ân điển qua việc những người khác (ngoài Chúa) đã tha thứ cho bạn như thế nào?

Bây giờ Gia-cốp đã làm hòa được với anh mình, ông muốn đến định cư yên ổn ở xứ Ca-na-an. Chữ shalem “an toàn” (Sáng thế Ký 33:18), đến từ chữ gốc là shalom, “bình an”, lần đầu tiên được dùng để mô tả cuộc hành trình của Gia-cốp.

Sau khi mua một mảnh đất từ trong xứ ấy (Sáng thế Ký 33:19), ông dựng một bàn thờ tại đó, để bày tỏ đức tin và sự ý thức của ộng về việc mình thật sự phụ thuộc vào Chúa như thế nào. Mỗi một của lễ được dâng lên, đều là một hành động thờ phượng.

Tuy nhiên, lần đầu trong đời, Gia-cốp — Y-sơ-ra-ên phải trải qua những rắc rối khi định cư ở xứ người. Giống như Y-sác tại Ghê-ra với A-bi-mê-léc (Sáng thế Ký 26:1–33), Gia-cốp cố gắng tìm chỗ ở với người Ca-na-an.

Đọc Sáng thế Ký 34. Điều gì đã xảy ra làm đảo lộn kế hoạch an cư của Gia-cốp?

Một câu chuyện tồi tệ, bệnh hoạn cho thấy qua các nhân vật trong chuyện, tích cách và hành động của con người không hẳn hoàn toàn trắng hoặc đen tỏ tường. Si-chem đa tình, người xâm phạm tiết hạnh Đi-na, cũng được tả là chân thành và yêu thương Đi-na, và muốn cố gắng để sửa đổi lầm lỡ mình. Chàng ta thậm chí sẵn sàng chịu phép cắt bì của giao ước.

Trong khi đó, Si-mê-ôn và Lê-vi, những người tự thể hiện mình là những người bảo vệ Đức Chúa Trời và các điều răn của Ngài, và chống lại việc kết hôn với người Ca-na-an (Lê-vi Ký 19:29), dùng lời nói dối và lừa dối (Sáng thế Ký 34:13) sẵn sàng giết người và cướp bóc (Sáng thế Ký 34:25–27). Hành động của họ không chỉ đáng khinh (tại sao không trừng phạt chỉ kẻ đã làm tội lỗi?) mà còn có thể đưa đến thêm nhiều vấn đề khác.

Về phần Gia-cốp, ông chỉ quan tâm đến yên bình. Khi được báo cho biết việc con gái mình bị hãm hiếp, ông đã làm thinh (Sáng thế Ký 34:5). Tuy nhiên, sau khi nghe về những gì các con trai mình đã làm, ông công khai quở trách họ vì những điều có thể xảy ra sau đây: “Bây xui cho tao bối rối, làm cho dân xứ nầy, là người Ca-na-an và người Phê-rê-sít, oán ghét tao vậy. Tao đây chỉ có ít người; nếu họ hiệp lại đánh tao, thì chắc tao và nội nhà đều bị tàn hại” (Sáng thế Ký 34:30).

Qua các câu chuyện trong Sáng thế Ký, chúng ta cứ thấy những sự gian dối và lọc lừa, và cũng thấy những hành động nhân từ và ân điển. Điều này cho chúng ta biết gì về bản chất con người?

Đọc Sáng thế Ký 34:30–35:15. Chúng ta có thể rút ra bài học nào về sự thờ phượng thật từ những gì đã xảy ra ở đây?

Ngay sau khi Gia-cốp phàn nàn rằng sự an cư của ông với dân Ca-na-an đã bị tổn hại (Sáng thế Ký 34:30), và sau khi hai con trai của ông bị quở trách (Sáng thế Ký 34:30), Đức Chúa Trời thúc giục Gia-cốp hãy rời Si-chem và trở về Bê-tên để tái lập giao ước của mình. Chính vậy, Chúa nói với ông rằng, một khi đến đó, ông cần phải xây dựng một bàn thờ.

Trong khi đó, điều đầu tiên được ghi lại sau mệnh lệnh của Đức Chúa Trời là việc Gia-cốp biểu toàn gia quyến mình hãy dẹp bỏ các thần tượng của người Ca-na-an, các thứ họ đã cướp đoạt trong thành Si-chem và các thần hộ mệnh mà Ra-chên đã đánh cắp (Sáng thế Ký 31:19, 32). Tất cả những điều này cũng rất quan trọng đối với ý tưởng về giao ước với Đức Chúa Trời.

Những thần tượng này đã được lưu giữ và có lẽ được thờ cúng bất chấp sự cam kết của Gia-cốp với Đức Chúa Trời. Việc Gia-cốp rời Si-chem để thoát khỏi ảnh hưởng của dân Ca-na-an cũng chưa đủ. Gia-cốp phải loại bỏ mọi thần tượng trong trại và trong lòng mọi người trong toàn gia quyến mình.

Quá trình ăn năn không chỉ là từ bỏ một chỗ ở để dọn về một nơi khác, hay đổi từ một giáo hội này sang giáo hội khác. Quan trọng nhất, đó là chúng ta tìm kiếm nhờ ân điển của Đức Chúa Trời để xóa sạch mọi sự thờ hình tượng trong lòng, bất kể chúng ta sống ở đâu, bởi vì chúng ta có thể biến bất cứ điều gì thành thần tượng của mình.

Khi Gia-cốp vâng lời Đức Chúa Trời và lên đường theo lệnh truyền của Ngài, thì cuối cùng Đức Chúa Trời đã can thiệp và “bèn giáng sự kinh hãi cho các thành ở chung quanh đó, nên họ chẳng dám đuổi theo các con trai của Gia-cốp” (Sáng thế Ký 35:5). Do đó, Gia-cốp sẵn sàng thờ phượng với “cùng mọi kẻ đi theo” (Sáng thế Ký 35:6), cho thấy rằng sự hiệp nhất trong gia đình đã được khôi phục. Gia-cốp đặt cho nơi này cái tên Ên-Bê-tên, một lời nhắc nhở về giấc mơ của ông về chiếc thang, một dấu hiệu cho thấy mối liên hệ giữa trời và đất, vốn đã bị đứt gãy một thời gian, nay đã được khôi phục.

Lần này, sự nhấn mạnh là về Đức Chúa Trời của Bê-tên hơn là về địa điểm. Sự nhắc nhở cho cá nhân này vang lên một lần nữa, khi Đức Chúa Trời nhắc Gia-cốp về tên của ông là “Y-sơ-ra-ên” (Sáng thế Ký 35:10), với hai lời hứa kèm theo của ơn phước này ngụ ý. Thứ nhất, phước lành của Gia-cốp có nghĩa là sự sinh hoa kết trái, sự truyền lại dòng dõi Đấng Mê-si và nhiều dân tộc (Sáng thế Ký 35:11); và thứ hai, nó chỉ về Đất Hứa (Sáng thế Ký 35:12).

Việc thờ lạy hình tượng có thể nhẹ nhàng đi vào lòng chúng ta bằng những cách nào, và chúng ta có thể làm gì với điều đó?

Đọc Sáng thế Ký 35:15–29. Gia-cốp đã phải đối diện với những tai ương nào khác trong gia đình vốn rối loạn chức năng của mình?

Ngay sau khi Gia-cốp rời Bê-tên, ba sự việc liên quan đến nhau đánh dấu bước cuối cùng trong cuộc hành trình của ông đến Đất Hứa: đứa con trai út của Gia-cốp ra đời; Ra-chên qua đời; và Ru-bên, con trai đầu lòng của Gia-cốp với Lê-a, ngủ với người vợ lẽ của Gia-cốp. Mặc dù văn bản không nói lý do tại sao người thanh niên trẻ lại làm một điều xấu xa như vậy, nhưng có thể là chàng ta muốn bằng cách nào đó làm ô uế sự ra đời của đứa con trai út của Gia-cốp và làm nhục kỷ niệm về Ra-chên. Chúng ta không biết.

Sự ra đời của con trai út của Gia-cốp có liên quan đến Bết-lê-hem (Sáng thế Ký 35:19) là thị trấn nằm trong vùng của Đất Hứa. Do đó, sự ra đời này là sự thực hiện lời hứa đầu tiên của Đức Chúa Trời đối với tương lai của Y-sơ-ra-ên. Bà đỡ đã nói với Ra-chên, như một lời tiên tri, bằng chính những lời mà Đức Chúa Trời dùng để trấn an Áp-ra-ham: “Đừng sợ chi” (Sáng thế Ký 35:17, so sánh với Sáng 15:1).

Đáng chú ý là Gia-cốp đổi cái tên mà Ra-chên trong khi hấp hối đã đặt cho con trai mình, Bê-nô-ni, có nghĩa là “đứa con của nỗi buồn tôi” để nói lên nỗi đau đớn trong khi sinh nở của nàng, thành Bên-gia-min, có nghĩa là “con trai của cánh tay phải,” có lẽ ngụ ý hướng về phương nam để bày tỏ niềm hy vọng của mình vào Đất Hứa và tất cả những gì Đức Chúa Trời phán rằng Ngài sẽ làm cho dân Ngài sau khi họ đã định cư ở đó.

Nhưng đáng tiếc, trong thời gian này, Ru-bên lại có quan hệ tình dục với Bi-la, nàng hầu và vợ lẽ của cha mình, và là người hầu gái của Ra-chên (Sáng thế Ký 35:25, Sáng thế Ký 30:3). Chúng ta chỉ không biết tại sao chàng thanh niên lại làm hành động tai tiếng này, ngoại trừ đây là thêm một ví dụ khác về sự sa đọa của con người.

Thật ngạc nhiên, Gia-cốp không có phản ứng về sự vi phạm khủng khiếp này, mặc dù ông đã nghe người nói cho hay (Sáng thế Ký 35:22). Có lẽ tại thời điểm này trong cuộc đời của mình, Gia-cốp tin cậy Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ thực hiện lời của Ngài bất chấp tội lỗi và sự dữ luôn xảy ra xung quanh ông.

Bài học đức tin chính xác này được ngụ ý trong danh sách 12 người con trai của Gia-cốp, những người sẽ là tổ tiên và tộc trưởng của Y-sơ-ra-ên (Sáng thế Ký 35:22–26). Không phải là những người mặn mà và tốt bụng nhất, như chúng ta sẽ thấy. Tuy nhiên, bất chấp mọi vấn đề, mọi rối loạn chức năng trong gia đình, thậm chí là hoàn toàn xấu xa, chẳng hạn như Ru-bên và Bi-la, ý muốn của Chúa sẽ được thực hiện thông qua gia đình của Gia-cốp, bất kể nó thực sự hư hỏng đến mức nào.

Ngay cả khi loài người sai lầm, mục đích cuối cùng của Đức Chúa Trời cũng sẽ được hoàn thành. Thử tưởng tượng nếu mọi người hợp tác, nếu họ vâng lời Ngài, thì cục diện sẽ là thế nào. Dễ dàng hơn biết bao; nghĩa là, khi con người bớt đau khổ, căng thẳng và trì hoãn, ý muốn của Đức Chúa Trời có thể được thành tựu không?

“Kinh nghiệm của Gia-cốp trong đêm vật lộn và đau khổ ấy thể hiện thử thách mà dân Đức Chúa Trời phải vượt qua ngay trước khi Đấng Christ tái lâm . . . Đó sẽ là kinh nghiệm của con dân Chúa trong cuộc đấu tranh cuối cùng của họ với quyền lực của sự ác. Đức Chúa Trời sẽ thử thách đức tin, lòng kiên trì, và sự tin cậy vững vàng của họ nơi quyền năng của Ngài để giải cứu họ. Sa-tan sẽ cố gắng làm họ khiếp sợ với lối suy nghĩ rằng trường hợp của họ là vô vọng; rằng tội lỗi của họ quá lớn để nhận được sự ân xá. Họ sẽ hiểu sâu sắc về những thiếu sót của mình, và khi họ xem xét lại cuộc sống của mình, hy vọng của họ sẽ chìm sâu. Nhưng khi nhớ đến sự vĩ đại của lòng thương xót của Đức Chúa Trời, và sự ăn năn chân thành của chính họ, họ sẽ cầu xin những lời hứa của Ngài đã được thực hiện qua Đấng Christ cho những người tội lỗi không biết ăn năn. Đức tin của họ sẽ không ngã quỵ dầu khi lời cầu nguyện của họ không được đáp lại tức thì. Họ sẽ nắm giữ quyền năng của Đức Chúa Trời, như Gia-cốp đã nắm giữ Đấng Thiên Thần, và những lời của linh hồn họ sẽ là: ‘Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi’ . . .

“Tuy nhiên, lịch sử của Gia-cốp là sự bảo đảm rằng Đức Chúa Trời sẽ không bỏ những kẻ đã bị phản bội để đi vào tội lỗi, nhưng đã trở lại với Ngài với lòng ăn năn chân thật. Chính bằng sự tự đầu hàng và đức tin ông tuyên xưng, Gia-cốp đã đạt được điều mà ông đã không đạt được bằng chính sức của mình. Do đó, Đức Chúa Trời đã dạy tôi tớ của Ngài rằng chỉ có quyền năng và ân điển thiên thượng mới có thể ban cho ông ta phước lành mà ông hằng khao khát. Tương tự thể ấy với những người sống trong thời kỳ cuối cùng. Khi những nguy hiểm vây quanh họ, và nỗi tuyệt vọng chiếm lấy linh hồn, họ phải hoàn toàn phụ thuộc vào giá trị của sự chuộc tội. Chúng ta không thể tự làm gì cho chính mình.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 201–203.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Tại sao sự yếu đuối của Gia-cốp lại là cơ hội cho ân điển của Đức Chúa Trời? Kinh nghiệm của Gia-cốp liên quan như thế nào đến câu nói của Phao-lô, “vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (2 Cô-rinh-tô 12:10)?
  2. Bạn nghĩ tại sao Kinh Thánh tiết lộ quá nhiều chi tiết tồi tệ về cuộc đời của nhiều nhân vật trong Kinh Thánh? Làm vậy để đạt được mục tiêu nào? Chúng ta có thể rút ra thông điệp gì từ cách Kinh Thánh phô bày thế này?
  3. Để ý nhiều hơn vào vấn đề thờ hình tượng. Thần tượng của nền văn hóa của chúng ta, nền văn minh của chúng ta là gì? Làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn rằng mình không thờ phượng bất cứ ai hoặc bất cứ điều gì khác ngoài Chúa?
Bài Học 9, 21 — 27 Tháng 5, 2022

GIA-CỐP KẺ TIẾM VỊ

CÂU GỐC: “Ê-sau liền nói rằng: Có phải vì người ta gọi nó là Gia-cốp mà nó hai lần chiếm lấy vị tôi rồi chăng? Nó đã chiếm quyền trưởng nam tôi, và lại bây giờ còn chiếm sự phước lành của tôi nữa. Tiếp rằng: Cha chẳng có dành sự chúc phước chi cho tôi sao?” (Sáng thế Ký 27:36).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 25:21–34, Sáng thế Ký 28:10–22, Sáng thế Ký 11:1–9, Sáng thế Ký 29:1–30; 30:25–32.

Bây giờ chúng ta tiếp tục tìm hiểu về lịch sử gia đình của Y-sác, đứa con của phép lạ và là tổ tiên ban đầu của hạt giống đã hứa. Tuy nhiên, câu chuyện không nhất thiết bắt đầu hay ho lắm. Bản tính không hoàn toàn của con ông là Gia-cốp sẽ được thể hiện trong sự cạnh tranh giữa hai anh em về quyền trưởng nam (Sáng thế Ký 25:27–34) và do đó là về quyền có được nhận phước lành của Y-sác (Sáng thế Ký 27).

Vì Gia-cốp lừa dối cha mình và đánh cắp phước lành từ anh trai mình, nên chàng ta sẽ phải chạy trốn để cứu mạng sống của mình. Khi bị lưu đày, Đức Chúa Trời đối đầu với chàng tại Bê-tên (Sáng thế Ký 28:10–22). Kể từ đó, Gia-cốp, kẻ lừa dối, sẽ tự mình sẽ phải trải qua nhiều lần bị lừa dối. Thay vì Ra-chên, người mà Gia-cốp yêu thương (Sáng thế Ký 29), chàng bị gạt phải lấy Lê-a là cô chị, và để lấy được người mình yêu làm vợ, chàng sẽ phải làm việc 14 năm dài.

Tuy nhiên, Gia-cốp cũng sẽ cảm nghiệm được phước lành của Đức Chúa Trời, vì trong thời lưu đày, ông sẽ có được 11 người con trai, và Đức Chúa Trời sẽ gia tăng sự giàu có của ông.

Vì vậy, bất cứ điều gì khác chúng ta có thể thấy trong câu chuyện này, chúng ta có thể thấy cách Đức Chúa Trời sẽ thực hiện các lời hứa trong giao ước của Ngài, bằng cách này hay cách khác, bất kể dân Ngài thường thất bại như thế nào.

Đọc Sáng thế Ký 25:21–34. So sánh hai nhân vật Gia-cốp và Ê-sau và cá tính họ. Những đức tính nào của Gia-cốp cho thấy ông xứng đáng được Y-sác ban phước?

Ngay từ khi họ còn trong bụng mẹ, chúng ta đã hiểu rằng Gia-cốp và Ê-sau khác nhau và sẽ đấu tranh chống lại nhau. Trong khi Ê-sau được mô tả là một thợ săn tài ba dũng cảm giong ruỗi ngoài đồng ruộng, thì Gia-cốp được xem là một người “hiền hòa” thích ngồi trong lều và học hỏi. Từ ngữ tam trong tiếng Hê-bơ-rơ, được dịch là “hiền hòa”, là động từ tương tự được áp dụng cho Gióp và cho Nô-ê, được dịch là “không chê trách được” cho Gióp (Gióp 1:8) và “hoàn hảo” cho Nô-ê (Sáng thế Ký 6:9).

Sự khác biệt về cá tính này càng bộc lộ rõ sau này trong cuộc sống của họ (Sáng thế Ký 27:1–28:5). Khi Ê-sau về nhà mệt và đói, Gia-cốp nấu nồi canh đậu lăng cho anh mình. Đối với Ê-sau, việc thưởng thức thức ăn “ngày nay” (Sáng thế Ký 25:31) liền khi thì quan trọng hơn phước lành trong tương lai gắn liền với quyền trưởng nam của ông (so sánh với Hê-bơ-rơ 12:16, 17).

“Những lời hứa với Áp-ra-ham và xác nhận với con trai ông đã được Y-sác và Rê-bê-ca xem như là đối tượng cao quí nhất của ước muốn và hy vọng của họ. Với những lời hứa này, Ê-sau và Gia-cốp đã quá quen thuộc. Họ được dạy phải coi quyền trưởng nam là một điều quan trọng, vì nó không chỉ bao gồm quyền thừa kế của cải thế gian mà còn là sự ưu việt về mặt tinh thần. Người đã nhận nó sẽ phải dẫn dắt gia đình mình, và trong dòng dõi và hậu thế của người ấy, Đấng Cứu Chuộc của thế gian sẽ đến.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 177.

Đối với Gia-cốp, trái với anh mình, ý nghĩa thiêng liêng của phước lành trong tương lai mới là điều quan trọng. Nhưng, về sau, dưới sự xúi giục của mẹ mình (xem Sáng thế Ký 27), Gia-cốp công khai và cố ý lừa dối cha mình, thậm chí sử dụng danh nghĩa “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha” (Sáng thế Ký 27:20) để thực hiện sự lừa dối đó. Chàng ta phạm điều dối gian khủng khiếp này, mặc dù đó là vì một điều gì đó mà chàng ta biết là tốt.

Kết quả thật bi thảm, tạo thêm các lớp rối loạn chức năng hoàn toàn mới cho một gia đình vốn đã rối loạn chức năng.

Gia-cốp muốn điều tốt, điều gì đó có giá trị và việc ấy thật đáng ngưỡng mộ (nhất là khi so sánh với thái độ của anh trai mình). Tuy nhiên, chàng ta đã dùng sự lọc lừa và dối trá để có được nó. Làm thế nào chúng ta có thể tránh rơi vào một cái bẫy tương tự của việc làm xấu để “điều tốt” có thể đến?

Ngay khi Ê-sau biết rằng Gia-cốp đã nhận được phước lành của cha mình, chàng hiểu rằng mình đã bị em mình lừa dối và tiếm vị (Sáng thế Ký 27:36), và chàng muốn giết hắn (Sáng thế Ký 27:42). Rê-bê-ca lo lắng và muốn ngăn chặn tội ác có thể gây tử vong cho cả hai con trai (Sáng thế Ký 27:45). Vì vậy, với sự hỗ trợ của Y-sác (Sáng thế Ký 28:5), bà thúc giục Gia-cốp chạy trốn về trú ẩn với gia đình của bà (Sáng thế Ký 27:43). Trên đường lưu đày, Gia-cốp gặp Đức Chúa Trời trong một giấc mơ tại một nơi mà chàng sẽ gọi là Bê-tên, “nhà của Đức Chúa Trời”, và ở đó sẽ lập một lời thề.

Đọc Sáng thế Ký 28:10–22. So sánh với Sáng thế Ký 11:1–9. Bê-tên khác với Ba-bên như thế nào? Chúng ta có thể rút ra bài học nào về mối quan hệ của mình với Đức Chúa Trời từ kinh nghiệm của Gia-cốp tại Bê-tên và những gì đã xảy ra tại Ba-bên?

Trong giấc mơ này, Gia-cốp thấy một chiếc thang lạ lùng nối liền với Đức Chúa Trời. Cùng một động từ trong tiếng Hê-bơ-rơ, natsav, được dùng để chỉ cái thang được “bắc từ dưới đất” (Sáng thế Ký 28:12) và Đức Giê-hô-va “ngự” trên đầu thang (Sáng thế Ký 28:13), như thể cái thang và CHÚA là cùng một điều.

Chiếc thang nhắc lại sự kiện của nỗ lực trước kia để lên đến thiên đàng của Ba-bên. Giống như Tháp Ba-bên, thang lên đến “tận trời”. Nhưng trong khi Tháp Ba-bên đại diện cho nỗ lực của con người để đi lên đặng với đến Chúa, thì bậc thang của Bê-tên nhấn mạnh rằng chỉ có thể đến được với Chúa khi Chúa đến với chúng ta chứ không phải nhờ nỗ lực của con người.

Đối với “hòn đá” mà Gia-cốp đã gối đầu và nằm mơ, nó trở thành biểu tượng của beth-El, “đền Đức Chúa Trời” (Sáng thế Ký 28:17; so sánh với Sáng 28:22), chỉ về đền thờ, đền thánh, trung tâm của hoạt động cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho nhân loại.

Tuy nhiên, Gia-cốp không giới hạn sự linh thiêng và huyền bí khi bày tỏ sự thờ phượng và cảm giác kinh sợ về những gì đã xảy ra với mình. Ấy là, chàng muốn phúc đáp bằng những điều gì thực tiễn, có hình thể. Vì vậy, Gia-cốp quyết định “dâng một phần mười” cho Đức Chúa Trời, không phải để nhận được phước hạnh của Ngài mà là một đền đáp của lòng cảm tạ với món quà của Chúa, món quà mà đã được ban cho chàng rồi. Ở đây một lần nữa chúng ta thấy ý tưởng về phần mười rất lâu trước khi dân tộc Y-sơ-ra-ên lập quốc.

Đọc lại Sáng thế Ký 28:22. “Phần mười” được lấy từ “mọi của cải mà Ngài sẽ cho tôi” (Sáng thế Ký 28:22). Chúng ta nên rút ra điểm quan trọng nào từ những gì Gia-cốp nói ở đây về phần mười và nó là gì?

Đọc Sáng thế Ký 29:1–30. Làm thế nào và tại sao Đức Chúa Trời cho phép sự lường gạt của La-ban? Gia-cốp đã học được những bài học gì?

Điều đầu tiên mà Gia-cốp nhìn thấy khi đến nơi mình phải đến là một hòn đá, có lẽ là một gợi ý ám chỉ lại hòn đá Bê-tên, biểu thị sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 28:18, 19). Sau cùng, chính viên đá này sẽ cho Gia-cốp cơ hội tiếp xúc với Ra-chên. Khi Gia-cốp nghe những kẻ chăn chiên đang đứng nói rằng Ra-chên đang mang bầy chiên của nàng đến để cho chúng uống nước, chàng đã thúc giục những người chăn chiên lăn đá đi. Họ từ chối, điều này cho Gia-cốp có cơ hội làm việc ấy một mình và tự giới thiệu mình với Ra-chên (Sáng thế Ký 29:11).

Ra-chên đáp lại bằng cách chạy về báo tin cho gia đình mình. Lần tiếp xúc đầu tiên này giữa Gia-cốp và Ra-chên đã có kết quả: “Gia-cốp yêu Ra-chên” (Sáng thế Ký 29:18), đến nỗi bảy năm chàng làm việc cho La-ban để được lấy Ra-chên làm vợ giống như “đôi ba bữa” (Sáng thế Ký 29:20 ).

Tuy nhiên, sau bảy năm này, Gia-cốp bị gạt. Vào đêm tân hôn, Gia-cốp phát hiện người vợ trên giường mình lại là Lê-a là người chị chứ không phải Ra-chên. Lợi dụng sự bối rối của tiệc lễ cưới cũng như cảm xúc mãnh liệt và đang ở trong tình trạng dễ bị thương tổn của Gia-cốp, La-ban đã dùng mánh khóe này. Thật trớ trêu cho Gia-cốp, và lúc này đây chính Gia-cốp lại dùng một chữ gốc để chỉ “lừa dối” (Sáng thế Ký 29:25) mà Y-sác đã dùng để mô tả cách cư xử của Gia-cốp đối với cha và anh trai mình (Sáng thế Ký 27:35).

Lưu ý rằng suy nghĩ tương tự cũng được nói đến trong luật trả thù, “mắt đền mắt, răng đền răng” (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:24; so sánh với Sáng thế Ký 9:6), tức là buộc thủ phạm phải ở vào tình cảnh của nạn nhân của mình ở chỗ thủ phạm phải gặp những gì nạn nhân đã gặp. Ở đây, tương tự, những gì Gia-cốp đã làm với người khác giờ đã được thực hiện với chàng ta.

Giờ đây, Gia-cốp hiểu ý nghĩa của việc trở thành nạn nhân của sự lừa dối. Trớ trêu thay, Đức Chúa Trời dạy Gia-cốp về sự lừa dối của chính chàng qua sự lừa dối của La-ban. Mặc dù Gia-cốp là “kẻ lừa dối” (Sáng thế Ký 27:12) biết rõ sự lừa dối có nghĩa là gì, nhưng chàng vẫn ngạc nhiên khi mình là nạn nhân của sự lừa dối. Vì vậy, chàng ta đặt câu hỏi, “Sao cậu lừa gạt tôi?” (Sáng thế Ký 29:25) điều này cho thấy chàng ta biết việc lừa dối là sai.

Mặc dù Gia-cốp là kẻ lừa dối, nhưng chính chàng là kẻ bị lừa. Làm thế nào chúng ta có thể học cách tin cậy Chúa khi chúng ta không thấy “công lý” được thực hiện, khi chúng ta thấy những người làm điều ác không hề hấn gì hay khi chúng ta thấy những người vô tội đau khổ?

Đối với Gia-cốp, thêm bảy năm lưu đày nữa là một gánh nặng, tuy nhiên, đây cũng là những năm tháng kết quả nhất. Trong những năm ấy, Gia-cốp sẽ sinh được 11 trong 12 con trai mình, họ là những người sẽ trở thành tổ tiên của dân sự Đức Chúa Trời.

Phần này tạo thành trung tâm câu chuyện của Gia-cốp (Sáng thế Ký 25:19–35:26), và nó bắt đầu và kết thúc bằng cụm từ quan trọng mà Đức Chúa Trời “cho nàng sanh sản”, ám chỉ Lê-a (Sáng thế Ký 29:31) và Ra-chên (Sáng thế Ký 30:22). Mỗi lần cụm từ này được nói đến thì theo sau là sự sanh nở, bằng chứng là những sự sanh nở này là kết quả của hành động kỳ diệu của Đức Chúa Trời.

Đọc Sáng thế Ký 29:31–30:22. Làm thế nào để chúng ta, ngày nay, hiểu ý nghĩa của những gì xảy ra ở đây?

Đức Chúa Trời đã mở tử cung của Lê-a “cho nàng sanh sản”, và nàng sinh được một con trai là Ru-bên, tên có chứa động từ ra’ah, có nghĩa là “thấy”. Bởi vì Đức Chúa Trời “thấy” rằng nàng không được Gia-cốp yêu thương (Sáng thế Ký 29:31), đứa trẻ này là sự đền bù cho nàng trong nỗi đau và sự buồn khổ của nàng.

Thêm đứa nữa, nàng đặt tên Si-mê-ôn, có chứa động từ shama`, “đã nghe,” cho con trai thứ hai của mình, bởi vì Đức Chúa Trời đã “nghe” độ sâu và sự sỉ nhục về nỗi đau của nàng và do đó, đã thương xót nàng cũng giống như Ngài đã nghe sự đau khổ của A-ga (Sáng thế Ký 29:33).

Con trai của Lê-a, “Si-mê-ôn” cũng sẽ tương tự với tên của con trai của A-ga là “Ích-ma-ên”, có nghĩa là “Đức Chúa Trời sẽ nghe” (xem Sáng 16:11). Khi Lê-a sinh đứa con trai thứ ba, nàng gọi nó là Giu-đa, có nghĩa là “lời tôn vinh”. Lê-a không nói đến nỗi đau hay ngay cả lời chúc phước của mình nữa. Nàng chỉ tập trung vào Đức Chúa Trời và ngợi khen Ngài vì ân điển của Ngài.

Kỳ lạ thay, chỉ khi Lê-a không thể sinh sản được nữa, Đức Chúa Trời mới “nhớ lại” Ra-chên và cho nàng sanh sản (Sáng thế Ký 30:22). Ra-chên, người vợ được yêu, mà chàng đã phải đợi bảy năm mới được kết hôn, và thêm 14 năm sau khi hứa hôn với Gia-cốp, để có con trai đầu lòng (Sáng thế Ký 29:18, 27; so sánh với Sáng 30:25). Nàng đặt tên cho con trai mình là “Giô-sép” để nói lên rằng Đức Chúa Trời đã “rửa [‘asaf] sự xấu hổ cho tôi” và “thêm [yasaf] cho một con trai nữa!” (Sáng thế Ký 30:23, 24).

Trong toàn bộ câu chuyện sinh ra các con của Gia-cốp, một số hành động trong việc họ làm là sai; tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn có thể sử dụng những hành động này, ngay cả khi Ngài không dung túng chúng, để tạo ra một quốc gia từ dòng dõi Áp-ra-ham.

Theo những cách nào câu chuyện này tiết lộ rằng mục đích của Đức Chúa Trời sẽ được thực thi ở đất cũng như trên trời, bất chấp sự lầm lạc và sai lầm của loài người?

Trong câu chuyện này, Gia-cốp – người đã lừa dối cha và anh trai mình để giành được quyền trưởng nam và cũng là người đã đánh cắp phước lành mà Y-sác dự định để ban cho con trai trưởng của mình, tuy nhiên vẫn thụ động đối với La-ban và trung thành làm việc cho ông. Gia-cốp biết rõ rằng mình đã bị cha vợ lừa dối, nhưng chàng vẫn bỏ qua. Thật khó để hiểu được sự thụ động của Gia-cốp khi xét đến tính khí của chàng. Gia-cốp có thể đã vùng lên, hoặc ít nhất là chống lại La-ban hoặc mặc cả với ông ta. Nhưng chàng đã không làm vậy. Chàng chỉ làm theo những gì La-ban đã yêu cầu, cho dù tất cả có bất công như thế nào.

Tuy nhiên, khi sinh con trai đầu lòng của Ra-chên là Giô-sép, Gia-cốp cuối cùng đã ở đủ 14 năm “làm việc” cho La-ban (Sáng thế Ký 30:26), và hiện đang cân nhắc việc rời La-ban để trở về Đất Hứa. Nhưng Gia-cốp quan tâm về việc chu cấp cho “nhà riêng” của mình (Sáng thế Ký 30:30).

Đọc Sáng thế Ký 30:25–32. Điều gì đang xảy ra ở đây, và Gia-cốp dùng kiểu lý luận nào? La-ban đã trả lời ra sao?

Trở về quê hương, đó là một con đường trở lại rất dài đối với Gia-cốp, người đã ra đi từ lâu. Có lẽ lúc ban đầu chàng không dự định xa quê hương quá lâu, nhưng nhiều biến cố đã khiến chàng xa quê trong nhiều năm. Bây giờ đã đến lúc trở về nhà và quả là một gia đình đông đúc cũng sẽ trở về với chàng.

Trong khi đó, sự phục tùng không giống cá tính của Gia-cốp cho thấy rằng Gia-cốp có lẽ đã thay đổi; chàng đã hiểu bài học về đức tin. Đó là, Gia-cốp chờ tín hiệu của Đức Chúa Trời. Chỉ khi Đức Chúa Trời phán biểu chàng, lúc ấy Gia-cốp mới quyết định di chuyển.

Đức Chúa Trời bày tỏ cho Gia-cốp chính Ngài là “Đức Chúa Trời của Bê-tên” và ra lệnh cho Gia-cốp rời khỏi nhà La-ban và trở về “xứ của bà con ngươi” (Sáng thế Ký 31:13) với cùng những lời mà Đức Chúa Trời đã dùng để kêu gọi Áp-ram ra khỏi “vòng bà con và nhà cha ngươi”(Sáng thế Ký 12:1).

Điều giúp Gia-cốp thấy rằng đã đến lúc phải đi, là thái độ của các con trai của La-ban và chính cả La-ban (xin xem Sáng 31:1, 2). “Gia-cốp đáng lẽ đã rời bỏ những người bà con xảo quyệt của mình từ lâu nhưng vì sợ phải gặp Ê-sau. Bây giờ chàng mới cảm thấy rằng mình đang gặp nguy hiểm từ các con trai của La-ban, là những người xem tài sản của chàng như là của riêng của họ, và họ có thể cố gắng giành nó lại bằng bạo lực.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 193.

Do đó, chàng mang theo gia đình và tài sản của mình và ra đi, để từ đó, bắt đầu một giai đoạn khác trong thiên hùng sử về dân giao ước của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời đã chọn Gia-cốp, không phải vì ông xứng đáng, nhưng vì ân điển của Ngài. Dầu vậy, Gia-cốp đã cố gắng làm hết sức để xứng đáng với ân điển, điều này tự nó đã là một mâu thuẫn. Nếu ông xứng đáng, thì đó sẽ không phải là ân điển; mà nó sẽ là việc làm (xem Rô-ma 4:1–5), trái với phúc âm. Chỉ sau này, Gia-cốp mới bắt đầu hiểu tầm quan trọng của ân điển Đức Chúa Trời và ý nghĩa của việc tin cậy Chúa, sống theo đức tin và hoàn toàn phụ thuộc vào Ngài. Kinh nghiệm của Gia-cốp chứa đựng một bài học quan trọng cho người có tham vọng: đừng cố gắng thăng tiến bản thân mình bằng cách làm người khác phải trả cho mình.

“Gia-cốp nghĩ rằng mình sẽ giành được quyền trưởng nam bằng cách lừa gạt, nhưng chàng đã thất vọng. Chàng nghĩ rằng mình đã mất tất cả:mối tương giao với Chúa, gia đình cha mẹ, và tất cả; còn phần mình thì chàng đang là một kẻ chạy trốn trong tuyệt vọng. Nhưng Đức Chúa Trời đã làm gì? Ngài nhìn thấy tình trạng tuyệt vọng của Gia-cốp, Ngài thấy sự thất vọng của chàng, và Ngài thấy đây là một con người sẽ có thể được hồi phục để đem lại vinh quang cho Đức Chúa Trời. Chẳng mấy chốc sau khi Đức Chúa Trời nhìn thấy tình trạng của Gia-cốp, Ngài cho người thấy chiếc thang thần bí, tượng trưng cho Đức Chúa Giê-su Christ. Đây là con người, người đã mất tất cả mọi mối liên hệ với Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời của thiên đàng đã nhìn vào anh ta và đồng ý rằng Đấng Christ sẽ bắc cầu ngang qua hố ngăn cách mà tội lỗi đã tạo ra. Chúng ta có thể đã nhìn và nói rằng, tôi khao khát thiên đàng nhưng làm sao tôi có thể chạm tới nó? Tôi thấy không có cách nào cả. Đó là những gì Gia-cốp nghĩ, và vì vậy Đức Chúa Trời cho chàng có sự hiện thấy về cái thang, và cái thang đó nối đất với trời, với Đức Chúa Giê-su Christ. Con người có thể leo lên nó, vì đế thang nằm trên đất và đỉnh của bậc thang cao nhất thì vươn tới thiên đàng.” — Ellen G. White Comments, The SDA Bible Commentary, tập 1, trang 1095.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Hãy xem cá tính của các nhân vật này (Y-sác, Rê-bê-ca, Gia-cốp, Ê-sau, La-ban, Ra-chên, Lê-a) trong các câu chuyện về lịch sử thiêng liêng này. Nhìn vào tất cả những lời nói dối và sự lừa dối đã xảy ra. Điều này dạy chúng ta điều gì về bản chất con người nói chung, và về ân điển của Đức Chúa Trời?
  2. Khi đọc câu chuyện về Gia-cốp, bạn có thể tìm thấy bằng chứng nào cho thấy cá tính của chàng ta đã trưởng thành và lớn lên theo thời gian?
  3. Những cách mà chúng ta, với tư cách là những người Cơ Đốc Phục Lâm, có thể gặp nguy hiểm khi chúng ta có cùng thái độ của Ê-sau đối với quyền trưởng nam của mình? Đó là, làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn rằng chúng ta không ngừng yêu thương và cảm kích tất cả ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta?
Bài Học 8, 14 — 20 Tháng 5, 2022

LỜI HỨA

CÂU GỐC: “Vả, Áp-ra-ham đã già, tuổi đã cao; trong mọi việc Đức Giê-hô-va đã ban phước cho người” (Sáng thế Ký 24:1).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 22, Hê-bơ-rơ 11:17, Lê-vi Ký 18:21, Giăng 1:1–3, Rô-ma 5:6–8, Sáng thế Ký 23–25, Rô-ma 4:1–12.

Cuối cùng, như Đức Chúa Trời đã hứa, Sa-ra sinh cho Áp-ra-ham khi người “về già” một đứa con trai (Sáng thế Ký 21:2) và ông đặt tên cho đứa bé là Y-sác (xem Sáng 21:1–5). Nhưng câu chuyện về Áp-ra-ham còn lâu mới đến hồi kết là khi cuộc đời ông đi đến đỉnh điểm của nó, ấy là khi ông mang con trai mình lên núi Mô-ri-a để làm của lễ hy sinh. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã sắm sẵn một con chiên đực để thay thế cho Y-sác (Sáng thế Ký 22:13), bày tỏ lời cam kết Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ ban phước cho muôn dân qua “dòng dõi” của ông (Sáng thế Ký 22:17, 18). Dòng dõi ấy, tất nhiên, là Đức Chúa Giê-su (Công vụ 13:23). Do đó, trong câu chuyện đầy kinh ngạc này (mà cũng mang theo nhiều phân vân), kế hoạch cứu rỗi được tiết lộ thêm nhiều hơn nữa.

Dầu các bài học tâm linh sâu sắc nào đi nữa, gia đình Áp-ra-ham, chắc chắn đã bị lung lay vì sự kiện này, và tương lai của Áp-ra-ham không rõ ràng. Sa-ra qua đời sau lễ dâng hy sinh ở núi Mô-ri-a (Sáng thế Ký 23), và Y-sác thì vẫn chưa lập gia đình.

Sau đó, Áp-ra-ham chủ động để bảo đảm rằng tương lai “tốt” sẽ theo sau khi ông đã qua đời. Ông sắp xếp cuộc hôn nhân của con trai mình với nàng Rê-bê-ca (Sáng thế Ký 24), là người sẽ sinh hai con trai (Sáng thế Ký 25:21–23), và về phần mình, Áp-ra-ham cưới nàng Kê-tu-ra, và nàng sinh thêm cho ông nhiều con khác (Sáng thế Ký 25:1–6). Tuần này, chúng ta sẽ theo dõi Áp-ra-ham cho đến cuối đời ông (Sáng thế Ký 25:7–11).

Đọc Sáng thế Ký 22:1–12 và Hê-bơ-rơ 11:17. Ý nghĩa của sự thử nghiệm này là gì? Những bài học thiêng liêng nào cho chúng ta qua sự kiện phi thường này?

Sáng thế Ký 22 đã trở thành tác phẩm cổ điển trong văn học thế giới và truyền cảm hứng cho nhiều triết gia và họa sĩ chứ không chỉ cho các nhà thần học. Tuy nhiên, ý nghĩa của sự thử thách của Đức Chúa Trời rất khó cảm hội được. Mạng lệnh từ thiên thượng này mâu thuẫn với lệnh cấm của Kinh Thánh sau này đối với việc dâng người làm của hiến tế (Lê-vi Ký 18:21), và nó chắc chắn như đã nghịch lại với lời hứa của Đức Chúa Trời về một giao ước vĩnh cửu qua Y-sác (Sáng thế Ký 15:5).

Vậy thì mục đích Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ra-ham làm điều này là gì? Tại sao Ngài lại thử lòng ông bằng một phương cách quá mạnh bạo như vậy?

Khái niệm “thử nghiệm” trong Kinh Thánh (tiếng Do Thái, nissah) bao hàm hai ý kiến trái ngược nhau. Nó đề cập đến ý tưởng về sự phán xét, tức là sự phán xét để biết điều gì trong lòng người bị thử nghiệm (Phục truyền 8:2; so sánh với Sáng thế Ký 22:12). Nhưng nó cũng mang lại sự bảo đảm về ân điển của Đức Chúa Trời cho những người bị thử thách (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:18–20).

Trong trường hợp này, đức tin của Áp-ra-ham nơi Đức Chúa Trời khiến ông có nguy cơ mất “tương lai” (hậu thế của ông). Tuy nhiên, vì tin cậy Chúa, ông sẽ làm những gì Chúa yêu cầu, cho dù tất cả có khó hiểu đến đâu. Nói cho cùng, đức tin là gì nếu không tin tưởng vào những gì chúng ta không nhìn thấy hoặc không hiểu đầy đủ?

Ngoài ra, theo Kinh Thánh, đức tin không liên quan nhiều đến khả năng của chúng ta trong việc dâng hiến cho Đức Chúa Trời và hy sinh cho Ngài — mặc dù điều đó, không chối cãi là, có quan trọng một phần nào (Rô-ma 12:1) — mà là về khả năng chúng ta có tin cậy Ngài và tiếp nhận ân điển của Ngài trong khi hiểu rõ rằng chính mình chẳng xứng đáng biết bao.

Chân lý này đã được tái khẳng định lại qua biến chuyển của câu chuyện. Tất cả những việc làm của Áp-ra-ham, các hoạt động của lòng sùng kính của ông, cuộc hành trình đau lòng của ông với con trai, thậm chí lòng sẵn sàng vâng lời và dâng lên Đức Chúa Trời những gì tốt nhất của đời mình, dù ông luôn vâng lời, cũng không là những điều để mang sự cứu rỗi. Tại sao? Bởi vì chính Đức Chúa Trời đã sắm sẵn một con chiên đực cho của lễ hy sinh ấy, và con chiên ấy chỉ về niềm hy vọng cứu rỗi duy nhất của Áp-ra-ham, Đức Chúa Giê-su.

Như vậy Áp-ra-ham đã phải hiểu rõ ân điển. Chúng ta không được cứu là bởi công việc của mình làm cho Đức Chúa Trời, mà là bởi việc làm của Ngài làm vì chúng ta (Ê-phê-sô 3:8; so sánh với Rô-ma 11:33), tuy nhiên, giống như Áp-ra-ham, chúng ta được kêu gọi làm việc cho Đức Chúa Trời, mà các hành động của Áp-ra-ham đã thể hiện thật hùng hồn (Gia-cơ 2:2–23).

Câu chuyện về Áp-ra-ham và Y-sác trên Núi Mô-ri-a nói gì với cá nhân bạn về đức tin của bạn và cách bạn biểu lộ đức tin đó như thế nào?

Đọc Sáng thế Ký 22:8, 14, 18. Đức Chúa Trời thực hiện lời hứa của Ngài là Ngài sẽ cung cấp như thế nào? Điều gì đã được cung cấp?

Khi Y-sác hỏi về con vật hiến tế, Áp-ra-ham đã đưa ra một câu trả lời ly kỳ: “Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu;” (Sáng thế Ký 22:8). Tuy nhiên, hình thức ngôn từ trong tiếng Do Thái thực sự có thể có nghĩa là “Đức Chúa Trời sẽ cung cấp chính Ngài như một con chiên.” Động từ “cung cấp” (yir’ eh lo) được sử dụng theo cách có thể có nghĩa là “cung cấp chính Ngài” (hoặc theo nghĩa đen, “sắm sẵn chính Ngài”).

Vì vậy, những gì trình bày cho chúng ta ở đây là bản chất của kế hoạch cứu rỗi, với việc chính Chúa chịu đau khổ và tự mình trả lấy hình phạt cho tội lỗi của chúng ta!

Đọc Giăng 1:1–3 và Rô-ma 5:6–8. Các câu này giúp chúng ta thế nào để hiểu điều gì đã xảy ra tại Thập tự giá, được định hình trước trong của lễ hy sinh ở đây trên Núi Mô-ri-a?

Ở đó, trên núi Mô-ri-a, vài ngàn năm trước thập tự giá, con chiên đực của lễ hy sinh “sừng mắc trong bụi cây” (Sáng thế Ký 22:13) đã chỉ thẳng về Đức Chúa Giê-su. Ngài là Đấng được “nhìn thấy” ở đây, như Áp-ra-ham giải thích sau này, “Trong núi nơi CHÚA được nhìn thấy” (Sáng thế Ký 22:14, bản dịch của tác giả). Chính Đức Chúa Giê-su đã chỉ ra lời tiên tri của Áp-ra-ham ở đây, khi Ngài nói, lặp lại lời tuyên bố của Áp-ra-ham: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ” (Giăng 8:56).

“Đó là để khắc ghi trong tâm trí của Áp-ra-ham về thực tế của phúc âm, cũng như để thử thách đức tin của ông, rằng Đức Chúa Trời đã truyền cho ông phải giết con trai mình. Sự thống khổ mà ông phải chịu đựng trong những ngày đen tối của thử thách đáng sợ đó được xảy đến cho ông, để ông có thể hiểu được từ kinh nghiệm của chính mình chút gì về sự vĩ đại của sự hy sinh mà Đức Chúa Trời vô hạn phải chịu để cứu chuộc loài người.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 154.

Làm thế nào những gì đã xảy ra ở đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì đã xảy ra trên thập tự giá và những gì Đức Chúa Trời đã phải chịu đựng thay cho chúng ta? Phản ứng của chúng ta phải là gì đối với những gì Chúa đã làm cho chúng ta?

Trong Sáng thế Ký 22:23, chúng ta thấy tường thuật về sự ra đời của Rê-bê-ca, báo trước cuộc hôn nhân trong tương lai giữa Y-sác và Rê-bê-ca (Sáng thế Ký 24). Tương tự như vậy, tường thuật về cái chết và chôn cất vợ của Áp-ra-ham, Sa-ra (Sáng thế Ký 23), dự đoán cuộc hôn nhân trong tương lai của ông với Kê-tu-ra (Sáng thế Ký 25:1–4).

Đọc Sáng thế Ký 23. Câu chuyện về cái chết và sự chôn cất của Sa-ra đóng vai trò gì trong việc thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham?

Việc đề cập đến cái chết của Sa-ra sau câu chuyện về sự hy sinh của Y-sác cho thấy rằng bà có thể đã bị ảnh hưởng bởi sự kiện này, là giá suýt phải trả bằng mạng sống của con trai bà. Theo một cách nào đó, Sa-ra cũng dự phần vào “sự thử thách” với chồng, giống như khi bà đã theo chồng mình trong toàn cuộc lữ hành của ông, cả những khi ông tưởng chừng đã mất đức tin (Sáng thế Ký 12:11–13).

Tuy chúng ta không biết Sa-ra đã biết bao nhiêu về việc dâng con sau khi sự kiện ấy xảy ra, nhưng chúng ta có thể suy luận rằng cuối cùng thì bà chắc phải biết về nó. Sa-ra không phải là loại phụ nữ luôn im lặng trước những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hoặc những điều bận tâm mình (so sánh với Sáng thế Ký 16:3–5; Sáng thế Ký 18:15; Sáng thế Ký 21:9, 10). Sự vắng mặt và sự im lặng của bà, và thậm chí cả thời điểm bà qua đời sau biến cố bi tráng ấy, nói lên nhiều về việc dự phần của bà với các sự kiện hơn là sự hiện diện thực tế của bà. Việc Sa-ra đề cập đến tuổi già (Sáng thế Ký 23:1), tương phản với tuổi già của Áp-ra-ham (Sáng thế Ký 24:1), cho thấy vai trò quan trọng của bà đối với chuyện này.

Trên thực tế, Sa-ra là người phụ nữ duy nhất trong Cựu ước được đề cập đến số năm bà sống trên trần, điều này có thể cho thấy sự có mặt của bà trong việc này kể cả sau khi nó đã xảy ra. Việc tập trung vào việc mua nơi chôn cất của Sa-ra (gần hết cả một đoạn), thay vì cái chết của bà, nhấn mạnh mối liên hệ với Đất Hứa.

Ngay cả khi nói rằng bà đã qua đời “tại xứ Ca-na-an” (Sáng thế Ký 23:2) nhấn mạnh gốc rễ cái chết của Sa-ra trong lời hứa về đất của Đức Chúa Trời. Sa-ra là người chết đầu tiên trong gia tộc của Áp-ra-ham đã chết và được chôn cất ở Đất Hứa. Mối quan tâm của Áp-ra-ham về bản thân mình, “một khách kiều ngụ” (Sáng thế Ký 23:4), và lập luận khăng khăng của ông với các con trai của họ Hếch (người Hê-tít), cho thấy rằng Áp-ra-ham không chỉ quan tâm đến việc có được một nơi chôn cất; ông chủ yếu quan tâm đến việc định cư lâu dài trên đất.

Đọc Sáng thế Ký 23:6. Điều này cho chúng ta biết gì về loại danh tiếng mà Áp-ra-ham có? Tại sao điều này lại quan trọng trong việc hiểu những gì ông đã được Chúa dùng để thực hiện?

Sáng thế Ký 24 kể câu chuyện về cuộc hôn nhân của Y-sác sau khi Sa-ra qua đời. Hai câu chuyện có liên quan với nhau.

Đọc Sáng thế Ký 24. Tại sao Áp-ra-ham quan tâm đến việc con trai mình không thể kết hôn với một phụ nữ người Ca-na-an?

Cũng giống như việc Áp-ra-ham muốn mua đất để chôn vợ mình, vì Đức Chúa Trời đã hứa với con cháu ông rằng họ sẽ có đất này, giờ đây ông khăng khăng rằng Y-sác cũng không được định cư bên ngoài Đất Hứa (Sáng thế Ký 24:7). Ngoài ra, việc Y-sác đưa cô dâu của mình đến lều của Sa-ra và ghi chú rằng Rê-bê-ca đã an ủi Y-sác “sau khi mẹ mình qua đời” (Sáng thế Ký 24:67), nhắc lại cái chết của Sa-ra, nói lên rằng Y-sác đau đớn khi mất mẹ.

Câu chuyện đầy những lời cầu nguyện và việc những lời cầu nguyện được đáp ứng và thực thi, và tràn đầy những bài học về sự quan phòng của Đức Chúa Trời và sự tự do của con người. Nó bắt đầu bằng lời của Áp-ra-ham. Khi ông thề bằng “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của trời và đất” (Sáng thế Ký 24:3), Áp-ra-ham là người trước tiên thừa nhận Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa (Sáng thế Ký 1:1, Sáng 14:19), liên quan trực tiếp đến những kẻ được sinh ra của dòng dõi Áp-ra-ham, kể cả chính Đấng Mê-si.

Việc đề cập đến “sai thiên sứ” và “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời trên trời” (Sáng thế Ký 24:7) ám chỉ đến Thiên sứ của CHÚA, đấng đã đến từ trời để giải cứu Y-sác khỏi bị giết chết (Sáng thế Ký 22:11). Đức Chúa Trời điều khiển vũ trụ, Thiên sứ của CHÚA đã can thiệp để cứu Y-sác, sẽ đưa đến câu hỏi về hôn nhân này.

Tuy nhiên, Áp-ra-ham biết cũng sẽ có cơ may là người thiếu nữ không đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là đấng đầy quyền năng, nhưng Ngài không bắt con người phải vâng lời Ngài. Mặc dù kế hoạch của Chúa cho Rê-bê-ca là nàng sẽ theo Ê-li-ê-se về, nhưng đó phải là quyền tự do lựa chọn của nàng. Ấy là, có thể người nữ này sẽ không muốn theo, và nếu nàng không muốn, thì không thể cưỡng ép nàng, và trách nhiệm của Ê-li-ê-se không phải bị buộc nữa.

Do đó, chúng ta lại thấy ở đây một ví dụ khác về mầu nhiệm vĩ đại về cách Chúa đã ban cho chúng ta, là con người, ý chí tự do, tự do lựa chọn, một sự tự do mà Ngài sẽ không chà đạp. (Nếu Ngài làm vậy, đó không phải là ý chí tự do.) Tuy nhiên, bằng cách nào đó, bất chấp thực tế về ý chí tự do của con người, và nhiều lựa chọn khủng khiếp mà con người thực hiện với ý chí tự do đó, chúng ta vẫn có thể tin tưởng rằng, rồi tình yêu của Đức Chúa Trời và sự nhân từ Ngài, cuối cùng, sẽ chiếm ưu thế.

Tại sao thật là niềm an ủi khi biết rằng trong khi không phải mọi sự đều theo ý muốn của Đức Chúa Trời, Ngài vẫn đang cai quản? Chẳng hạn, những lời tiên tri như Đa-ni-ên 2 chứng minh điều này cho chúng ta như thế nào?

Đọc Sáng thế Ký 24:67–25:8. Ý nghĩa của những sự kiện cuối cùng này trong cuộc đời của Áp-ra-ham là gì?

Sau khi Sa-ra chết, Áp-ra-ham kết hôn lần nữa. Giống như Y-sác, người vợ mới làm ông bớt âu sầu sau cái chết của Sa-ra (Sáng thế Ký 24:67). Kỷ niệm về Sa-ra chắc chắn vẫn còn in đậm trong tâm trí của người tộc trưởng cao tuổi, cũng như đối với con trai ông.

Tuy nhiên, danh tính của người vợ mới của ông ta không rõ ràng. Nhưng, việc sử sách kết hợp các con trai của Kê-tu-ra với các con trai của A-ga, mà không đề cập đến tên của Kê-tu-ra, cho thấy rằng Kê-tu-ra có thể (như một số người đã gợi ý) là A-ga. Chúng ta không biết. Điều quan trọng nữa là Áp-ra-ham đối xử với các con trai của Kê-tu-ra giống như cách ông đã làm với con trai của A-ga: ông biểu họ đi sang xứ khác để tránh bất kỳ ảnh hưởng tâm linh nào và phân biệt rõ ràng giữa con trai mình với Sa-ra và các con trai khác.

Ông cũng cho “Y-sác hết thảy gia tài mình” (Sáng thế Ký 25:5) trong khi “cho các con dòng thứ những tiền của” (Sáng thế Ký 25:6). Việc phân loại “dòng thứ / thê thiếp” cũng có thể ngụ ý rằng địa vị của Kê-tu-ra giống như A-ga, là dòng thứ / thiếp.

Điều đáng chú ý là trong Sáng thế Ký 25:1–4, 12–18, người ta đưa ra danh sách những đứa con mà Áp-ra-ham có với Kê-tu-ra, cũng như danh sách những người con của Ích-ma-ên. Mục đích của gia phả sau cuộc hôn nhân của Áp-ra-ham với Kê-tu-ra, người đã sinh cho ông sáu người con trai, so với hai người con trai khác của ông (Y-sác và Ích-ma-ên), có lẽ là để cung cấp bằng chứng tức thì về lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Áp-ra-ham sẽ làm cha nhiều dân tộc.

Gia phả thứ hai liên quan đến hậu duệ của Ích-ma-ên, người cũng gồm 12 chi phái (so sánh với Sáng thế Ký 17:20), giống như những gì sẽ xảy ra với Gia-cốp (Sáng thế Ký 35:22–26). Tuy nhiên, mặc dù vậy, giao ước của Đức Chúa Trời sẽ được dành cho dòng dõi Y-sác (Sáng thế Ký 17:21), không phải Ích-ma-ên, một điểm mà Kinh Thánh nói rất rõ ràng.

Bản tường trình về cái chết của Áp-ra-ham nằm giữa hai gia phả (Sáng thế Ký 25:7–11) cũng minh chứng cho sự ban phước của Đức Chúa Trời. Nó tiết lộ việc thực hiện lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham, đã được hứa cho người nhiều năm trước đó, rằng ông sẽ chết “hưởng lộc già” (Sáng thế Ký 15:15) và “nhiều năm” (so sánh với Truyền đạo 6:3).

Cuối cùng, Đức Chúa Trời vẫn trung thực với những lời hứa về ân điển của Ngài đối với tôi tớ trung thành của Ngài là Áp-ra-ham, người mà đức tin được mô tả trong Kinh Thánh như một tấm gương tuyệt vời, nếu không muốn nói là tấm gương tốt nhất trong Cựu Ước về sự cứu rỗi bởi đức tin (xem Rô-ma 4:1–12).

Vì Áp-ra-ham là nhà tiên tri phi thường mà Đức Chúa Trời sẽ chia sẻ kế hoạch của Ngài (Sáng thế Ký 18:17), nên Đức Chúa Trời bước vào lãnh vực nhân loại của Áp-ra-ham và chia sẻ với ông, ở một mức độ nào đó, kế hoạch cứu rỗi của Ngài qua sự hy sinh của Con Ngài.

“Y-sác là hình bóng của Con Đức Chúa Trời, đấng đã phải bị dâng làm của lễ vì tội lỗi của thế gian. Đức Chúa Trời sẽ ghi khắc trong Áp-ra-ham phúc âm cứu rỗi cho loài người. Để làm điều này, và biến sự thật thành thực tế đối với ông cũng như để thử thách đức tin của ông, Ngài yêu cầu ông phải giết chết con trai Y-sác yêu dấu của mình. Tất cả nỗi buồn và sự thống khổ mà Áp-ra-ham phải chịu đựng qua thử thách u ám và sợ hãi đó là nhằm mục đích gây ấn tượng sâu sắc khi ông hiểu về kế hoạch cứu chuộc loài người sa ngã. Qua kinh nghiệm của chính mình, ông đã hiểu tỏ tường điều không chối cãi được là Đức Chúa Trời, Đấng Vô hạn đã chịu từ bỏ chính bản ngã là thế nào khi Ngài phải ban chính Con của Ngài chết để giải cứu con người khỏi hoàn toàn diệt vong. Đối với Áp-ra-ham, không có sự đau đớn dày vò tinh thần nào có thể bằng sự đau đớn dày vò mà ông đã chịu đựng khi tuân theo mệnh lệnh của thiên thượng là hy sinh con trai mình.” — Ellen G. White, Testimonies for the Church, quyển 3, trang 369.

“Áp-ra-ham đã trở thành một người già, và sẽ sớm qua đời; tuy nhiên, một hành động ông vẫn còn phải làm trong việc đảm bảo thực hiện lời hứa với hậu thế của mình. Y-sác là người được Đức Chúa Trời chỉ định để kế vị ông với tư cách làm người tuân giữ luật pháp của Đức Chúa Trời và là cha của những người được chọn, nhưng chàng vẫn chưa lập gia đình. Các dân cư của Ca-na-an thờ lạy hình tượng, và Đức Chúa Trời đã cấm kết hôn giữa dân Ngài và họ, vì biết rằng những cuộc hôn nhân như vậy sẽ dẫn đến sự bội đạo. Người tộc trưởng lo sợ những ảnh hưởng hư hỏng xung quanh con trai mình . . . Trong tâm trí của Áp-ra-ham, việc chọn vợ cho con trai là một vấn đề quan trọng; ông nóng lòng muốn con mình kết hôn với một người sẽ không dẫn dắt chàng ta khỏi Chúa . . . Y-sác, tin tưởng vào sự khôn ngoan và lòng yêu thương của cha mình, đã hài lòng giao vấn đề cho ông hành động, và chàng cũng tin rằng chính Đức Chúa Trời sẽ chỉ đạo trong sự lựa chọn cần yếu.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 171.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Trong lớp, hãy nói về việc Áp-ra-ham sẵn sàng hy sinh Y-sác. Hãy thử hình dung loại đức tin mà câu chuyện này cho thấy. Câu chuyện này có gì đáng kinh ngạc và đồng thời làm chúng ta phân vân?
  2. Còn ý chí tự do thì sao? Tại sao đức tin của chúng ta không có ý nghĩa gì nếu nó không biểu hiện qua hành động? Chúng ta có những thí dụ nào trong Kinh Thánh về ý chí tự do và làm thế nào, bất chấp những lựa chọn sai lầm mà con người làm, ý muốn của Đức Chúa Trời cuối cùng vẫn được thực thi?
Bài Học 7, 7 — 13 Tháng 5, 2022

GIAO ƯỚC VỚI ÁP-RA-HAM

CÂU GỐC: “Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Đa-mách” (Sáng thế Ký 15:2).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 15–19:29; Rô-ma 4:3, 4, 9, 22; Ga-la-ti 4:21–31; Rô-ma 4:11; Rô-ma 9:9; A-mốt 4:11.

Với Sáng thế Ký 15, chúng ta đi đến thời điểm quan trọng khi Đức Chúa Trời chính thức hóa giao ước của Ngài với Áp-ra-ham. Giao ước Áp-ra-ham là giao ước thứ hai, sau giao ước với Nô-ê.

Giống như giao ước của Nô-ê, giao ước của Áp-ra-ham cũng liên quan đến các dân tộc khác, vì cuối cùng giao ước với Áp-ra-ham là một phần của giao ước vĩnh cửu, được ban cho toàn thể nhân loại (Sáng thế Ký 17:7, Hê-bơ-rơ 13:20).

Đoạn này nói về cuộc đời của Áp-ra-ham đầy sự sợ hãi và cũng nhiều tiếng cười. Áp-ram đã sợ hãi (Sáng thế Ký 15:1), cũng như Sa-ra (Sáng thế Ký 18:15) và A-ga (Sáng thế Ký 21:17). Áp-ram cười (Sáng thế Ký 17:17); Sa-ra (Sáng thế Ký 18:12) và cả Ích-ma-ên nữa (Sáng thế Ký 21:9, ESV). Những đoạn này hiệp ý với lòng nhạy cảm và sự ấm áp của tình người. Áp-ram hết lòng vì sự cứu rỗi cho dân thành Sô-đôm gian ác; ông quan tâm đến Sa-ra, A-ga, và Lót; ông có lòng hiếu khách với những người khách lạ phương xa (Sáng thế Ký 18:2-6).

Trong bối cảnh đó, Áp-ram, danh xưng có nghĩa là cao quý và đáng kính, sẽ được đổi tên thành Áp-ra-ham, có nghĩa là “tổ phụ của nhiều dân tộc” (Sáng thế Ký 17:5). Vì vậy, chúng ta thấy ở đây nhiều gợi ý hơn về bản chất phổ quát (cho toàn nhân loại) của những gì Đức Chúa Trời dự định thực hiện qua giao ước của Ngài với Áp-ra-ham.

Đọc Sáng thế Ký 15:1–21 và Rô-ma 4:3, 4, 9, 22. Làm thế nào Áp-ram bày tỏ ý nghĩa của việc sống bằng đức tin? Ý nghĩa của sự hy sinh mà Đức Chúa Trời để Áp-ram thực hiện là gì?

Phản ứng đầu tiên của Đức Chúa Trời đối với mối quan tâm của Áp-ram về người thừa kế (Sáng thế Ký 15:1–3) là ông sẽ có một con trai từ “chính thân thể mình” (Sáng thế Ký 15:4). Ngôn ngữ tương tự được nhà tiên tri Na-than dùng để chỉ dòng dõi của đấng Mê-si trong tương lai (2 Sa-mu-ên 7:12). Áp-ram đã yên tâm và “tin nơi CHÚA” (Sáng thế Ký 15:6), bởi vì ông hiểu rằng việc thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời không phụ thuộc vào sự công bình của mình mà phụ thuộc vào sự công bình của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 15:6; so sánh với Rô 4:5, 6).

Ý niệm này thật là phi thường, nhất là trong nền văn hóa thời ấy. Thí dụ, trong tôn giáo của người Ai Cập thời cổ, sự phán xét được đánh giá trên căn bản là sự trung chính của một người được tính theo các hành động công bình của người ấy so với sự công bình của nữ thần Ma-át, là nữ thần đại diện cho sự công bình của các thần. Nghĩa là, con người phải làm để kiếm được “sự cứu rỗi”.

Sau đó, Đức Chúa Trời sắp đặt một buổi lễ dâng của lễ hy sinh để Áp-ram thực hiện. Trên căn bản, sự hy sinh chỉ về cái chết của Đấng Christ vì tội lỗi của chúng ta. Con người được cứu bởi ân điển, là món quà về sự công bình của Đức Chúa Trời, được tượng trưng bởi những con sinh tế này. Nhưng buổi lễ dâng con sinh tế đặc biệt này mang đến các thông điệp đặc biệt cho Áp-ram. Việc chim kên kên sà xuống kiếm ăn trên những con sinh tế (Sáng thế Ký 15:9–11) có nghĩa là con cháu của Áp-ram sẽ phải chịu cảnh nô lệ trong khoảng thời gian “bốn trăm năm” (Sáng thế Ký 15:13), hoặc bốn thế hệ (Sáng thế Ký 15:16). Sau đó, trong thế hệ thứ tư, dòng dõi của Áp-ram “sẽ trở lại đây” (Sáng thế Ký 15:16).

Cảnh cuối cùng của buổi lễ dâng con sinh tế thật lâm ly: “Khi mặt trời đã lặn, thình lình sự tối mịt giáng xuống; kìa, có một lò lớn khói lên, và một ngọn lửa loè ngang qua các xác thịt đã mổ” (Sáng thế Ký 15:17). Điều kỳ diệu đặc biệt này biểu thị sự cam kết của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện lời hứa trong giao ước của Ngài là ban đất cho con cháu của Áp-ram (Sáng thế Ký 15:18).

Ranh giới của Đất Hứa này, “từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát” (Sáng thế Ký 15:18) nhắc nhở chúng ta về ranh giới của Vườn Ê-đen (so sánh với Sáng thế Ký 2:13, 14). Do đó, lời tiên tri này có nhiều quan điểm hơn là chỉ cuộc Xuất hành và quê hương của Y-sơ-ra-ên. Ở chân trời xa xôi của lời tiên tri này, trong dòng dõi của Áp-ra-ham chiếm xứ Ca-na-an, đã mơ hồ tưởng về sự cứu rỗi vào thời kỳ cuối cùng của dân sự Đức Chúa Trời, những người sẽ trở lại Vườn Ê-đen.

Làm thế nào chúng ta có thể học cách tập trung vào Đấng Christ và sự công bình của Ngài là hy vọng cứu rỗi duy nhất của chúng ta? Điều gì xảy ra nếu chúng ta cố gắng bắt đầu tự đếm những việc làm tốt của mình?

Đọc Sáng thế Ký 16:1–16. Ý nghĩa của việc Áp-ram quyết định đi đến với nàng A-ga, dầu là ông đã có lời hứa của Đức Chúa Trời cho mình? Hai người phụ nữ thể hiện hai thái độ đức tin như thế nào (Ga-la-ti 4:21–31)?

Khi Áp-ram nghi ngờ (Sáng thế Ký 15:2), Đức Chúa Trời đã trấn an tỏ tường rằng ông sẽ có một con trai. Nhiều năm sau, Áp-ram vẫn không có con trai. Ngay cả sau lời tiên tri oai quyền mà Đức Chúa Trời đã thực hiện cho ông, Áp-ram dường như đã đánh mất niềm tin của mình:ông không còn tin rằng sẽ có thể có một đứa con trai với Sa-rai. Phần Sa-rai, trong tuyệt vọng, đã chủ động và thúc giục chồng cùng một phương cách người ta thường làm thời đó ở vùng Cận Đông cổ đại:tìm người mang thai thay thế mình. A-ga, người tì nữ của Sa-rai, được chọn để làm dịch vụ này. Mọi việc xảy ra như họ muốn. Quả là trớ trêu, dự tính hành động này của loài người dường như có kết quả hơn so với có đức tin vào những lời hứa của Đức Chúa Trời.

Đoạn văn mô tả mối quan hệ của Sa-rai với Áp-ram không khác nào câu chuyện của A-đam và Ê-va trong Vườn Ê-đên. Hai bản văn cùng có một số hình ảnh giống nhau (Sa-rai, giống như Ê-va, là chủ động; Áp-ram, giống như A-đam, thì bị động) và cùng dùng các động từ và cụm từ như nhau (“nghe theo tiếng nói,” “nhận” và “cho”). Sự song song giữa hai câu chuyện cho thấy Đức Chúa Trời không chấp nhận cách hành động này.

Sứ đồ Phao-lô đề cập đến câu chuyện này để đưa ra quan điểm của mình về việc làm so với ân điển (Ga-la-ti 4:23–26). Trong cả hai câu chuyện, kết quả là giống nhau:kết quả như ý đến tức thì cho việc làm trái ý muốn Đức Chúa Trời của loài người đã dẫn đến những rắc rối trong tương lai. Hãy lưu ý sự vắng mặt của Đức Chúa Trời trong toàn quá trình hành động của cả hai câu chuyện. Sa-rai nói về Chúa nhưng không bao giờ nói với Ngài; Chúa cũng không nói với ai trong đám họ. Sự vắng mặt của Chúa thật đáng chú ý, nhất là sau sự hiện diện cận kề và luôn luôn của Ngài trong đoạn trước.

Sau đó, Đức Chúa Trời hiện ra với A-ga nhưng chỉ sau khi nàng rời khỏi nhà của Áp-ram. Sự xuất hiện bất ngờ này cho thấy Đức Chúa Trời vẫn hiện diện cho dầu trong nỗ lực của loài người làm việc mà không có Ngài. Trong Kinh Thánh khi dùng câu “thiên sứ của Đức Giê-hô-va” (Sáng thế Ký 16:7) là một danh hiệu thường được đồng nhất với CHÚA, YHWH (hay Đức Giê-hô-va) (xem Sáng 18:1, 13, 22). Lần này, chính Đức Chúa Trời giữ phần chủ động và thông báo với A-ga rằng nàng sẽ sinh một con trai, Ích-ma-ên, tên có nghĩa là Đức Chúa Trời nghe thấy (Sáng thế Ký 16:11). Trớ trêu thay, câu chuyện, kết thúc bằng ý tưởng về sự nghe (shama`), lại lặp lại việc nghe ở đầu câu chuyện, khi Áp-ram “nghe theo (shama`) lời của Sa-rai” (Sáng thế Ký 16:2).

Tại sao quá dễ cho chúng ta cũng thiếu đức tin như Áp-ram ở đây?

Đọc Sáng thế Ký 17:1–19 và Rô-ma 4:11. Ý nghĩa thiêng liêng và tiên tri của nghi thức cắt bì là gì?

Sự thiếu đức tin của Áp-ram, như đã thấy trong câu chuyện trước (Sáng thế Ký 16), đã phá vỡ dòng luân chuyển của cuộc hành trình thuộc linh của Áp-ram với Đức Chúa Trời. Trong thời gian đó Chúa im lặng. Lần đầu tiên, Đức Chúa Trời lại phán cùng Áp-ram. Đức Chúa Trời liên lạc lại với Áp-ram và đưa ông trở về lại thời điểm khi Ngài lập giao ước với ông (Sáng thế Ký 15:18).

Tuy nhiên, giờ đây, Đức Chúa Trời ban cho ông dấu của giao ước đó. Ý nghĩa của phép cắt bì đã được các học giả thảo luận từ lâu, nhưng vì nghi thức cắt bì liên quan đến việc đổ máu (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 4:25), nên nó có thể được hiểu trong bối cảnh của lễ hy sinh, biểu thị rằng sự công bình đã được ban cho ông (so sánh với Rô-ma 4:11).

Điều quan trọng nữa là giao ước này, được biểu thị bằng phép cắt bì, được mô tả theo các thuật ngữ liên quan đến lời tiên tri đầu tiên về Đấng Mê-si (so sánh Sáng thế Ký 17:7 với Sáng thế Ký 3:15). Sự song song giữa hai bản văn cho thấy rằng lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ram liên quan không chỉ về sự khai sinh phần thể chất của một dân tộc; mà nó chứa đựng lời hứa thiêng liêng về sự cứu rỗi cho tất cả mọi dân tộc trên thế gian. Và lời hứa về “giao ước đời đời” (Sáng thế Ký 17:7) đề cập đến công việc của dòng dõi sinh ra Đấng Mê-si, sự hy sinh của Đấng Christ để đảm bảo sự sống đời đời cho tất cả những ai xưng nhận điều ấy bởi đức tin và tất cả những gì đức tin đòi hỏi (so sánh với Rô-ma 6:23 và Tít 1:2).

Cũng thích thú là, lời hứa về một tương lai vĩnh cửu này ẩn chứa trong việc đổi tên của Áp-ram và Sa-rai. Tên của Áp-ram và Sa-rai chỉ tình trạng hiện tại của họ: Áp-ram có nghĩa là “người cha cao quý” và Sa-rai có nghĩa là “công chúa của tôi” (công chúa của Áp-ram). Việc đổi tên họ thành “Áp-ra-ham” và “Sa-ra” ám chỉ tương lai: Áp-ra-ham có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc” và Sa-ra có nghĩa là “công chúa” (dành cho mọi người). Cùng thể ấy, nhưng không phải là không trớ trêu, tên của Y-sác (“anh ấy sẽ cười”) là lời nhắc nhở về tiếng cười của Áp-ra-ham (tiếng cười đầu tiên được ghi trong Kinh Thánh, Sáng thế Ký 17:17); đó là một tiếng cười của sự hoài nghi, hoặc có thể, của sự ngạc nhiên. Dù thế nào đi nữa, mặc dù tin vào điều Chúa đã hứa rõ ràng với mình, Áp-ra-ham vẫn phải vật lộn để sống theo niềm tin và sự tin cậy.

Làm thế nào chúng ta có thể học cách tiếp tục tin tưởng ngay cả đôi khi, chúng ta vật lộn với niềm tin đó, cũng như Áp-ra-ham? Tại sao điều quan trọng là chúng ta không bỏ cuộc, dầu có những lúc lòng hồ nghi?

Cảnh cuối cùng của phép cắt bì liên quan đến tất cả mọi người: không chỉ Ích-ma-ên, mà tất cả những người đàn ông trong gia đình Áp-ra-ham đều phải chịu cắt bì (Sáng thế Ký 17:23–27). Chữ kol, nghĩa là “tất cả”, “mọi”, được lặp lại bốn lần (Sáng thế Ký 17:23, 27). Qua bối cảnh của toàn thể mọi người này, Đức Chúa Trời hiện ra với Áp-ra-ham để xác nhận lời hứa về một đứa con trai “Y-sác”.

Đọc Sáng thế Ký 18:1–15 và Rô-ma 9:9. Chúng ta học được bài học nào về lòng hiếu khách khi Áp-ra-ham tiếp đón các người khách của mình? Bạn giải thích thế nào về phản ứng của Đức Chúa Trời đối với lòng hiếu khách của Áp-ra-ham?

Không rõ liệu Áp-ra-ham có biết những người lạ này là ai (Hê-bơ-rơ 13:2), mặc dù ông đã hành động với họ như thể chính Đức Chúa Trời ở giữa họ. Ông đang ngồi “nơi cửa trại lúc trời nắng ban ngày” (Sáng thế Ký 18:1), và bởi vì hiếm có du khách trong sa mạc, nên có lẽ ông đã khao khát được gặp gỡ họ. Áp-ra-ham chạy về phía những người này (Sáng thế Ký 18:2), mặc dù ông đã 99 tuổi. Ông gọi một trong những người này là A-đô-nai, “CHÚA tôi” (Sáng thế Ký 18:3), một danh hiệu thường được dùng cho Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 20:4, Xuất 15:17). Ông vội vã lăng xăng để chuẩn bị bữa ăn cho khách (Sáng thế Ký 18:6, 7). Ông đứng cạnh họ, chú ý đến nhu cầu của họ và sẵn sàng phục vụ họ (Sáng thế Ký 18:8).

Cách cư xử của Áp-ra-ham đối với những người lạ trên trời sẽ trở thành mẫu mực của lòng hiếu khách (Hê-bơ-rơ 13:2). Trên thực tế, thái độ tôn kính của Áp-ra-ham truyền đạt triết lý về lòng hiếu khách. Thể hiện sự tôn trọng và quan tâm đối với người lạ không chỉ là một cử chỉ lịch sự tốt đẹp. Kinh Thánh nhấn mạnh rằng đó là nghĩa vụ tôn giáo, như thể được hướng về chính Đức Chúa Trời (so sánh với Ma-thi-ơ 25:35–40). Rất lạ lùng, Đức Chúa Trời thấy mình là những người khách lạ tha hương đói khổ và thiếu thốn hơn là thấy mình là người rộng lượng đón tiếp họ.

Mặt khác, việc Đức Chúa Trời bước vào lãnh vực trần thế của loài người biểu thị ân điển và tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Sự xuất hiện này của Đức Chúa Trời báo trước Đấng Christ, Đấng đã rời khỏi nhà trên trời của Ngài và trở thành một kẻ tôi tớ để đến với loài người (Phi-líp 2:7, 8). Sự xuất hiện của Đức Chúa Trời ở đây là bằng chứng cho sự chắc chắn về lời hứa của Ngài (Sáng thế Ký 18:10). Ngài nhìn thấy Sa-ra, người ẩn mình “phía sau” (Sáng thế Ký 18:10) và biết những suy nghĩ thầm kín nhất của bà (Sáng thế Ký 18:12). Đấng ấy biết rằng bà đã cười, và động từ “cười” là động từ cuối cùng của bà. Sự hoài nghi của Sa-ra trở thành nơi mà Ngài sẽ thực hiện lời của Ngài.

Tập trung nhiều hơn vào ý tưởng rằng “Đức Chúa Trời thấy mình là những người khách lạ tha hương đói khổ và thiếu thốn hơn là thấy mình là người rộng lượng đón tiếp họ.” Tại sao khái niệm này rất quan trọng để chúng ta ghi nhớ?

Đọc Sáng thế Ký 18:16–19:29. Chức vụ của Áp-ra-ham theo lời tiên tri ảnh hưởng đến trách nhiệm của ông đối với Lót như thế nào?

Áp-ra-ham vừa được Đức Chúa Trời xác nhận lại không lâu trước đây lời hứa của Ngài về một đứa con trai. Tuy nhiên, thay vì tận hưởng tin vui, ông kéo Đức Chúa Trời vào cuộc thảo luận sôi nổi về số phận của Lót ở Sô-đôm. Áp-ra-ham không chỉ là một nhà tiên tri mà Đức Chúa Trời bày tỏ ý muốn của Ngài; ông cũng là một nhà tiên tri cầu thay cho cả những kẻ gian ác. Cụm từ tiếng Hê-bơ-rơ “đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng thế Ký 18:22) là một thành ngữ chỉ sự cầu nguyện.

Thật vậy, Áp-ra-ham đã thách thức Đức Chúa Trời và mặc cả với Ngài để cứu Sô-đôm, nơi người cháu trai của ông đang cư trú. Chuyển từ 50 người xuống 10 người, Đức Chúa Trời sẽ cứu dân Sô-đôm dầu chỉ có 10 người trong thành Sô-đôm là công bình.

Dĩ nhiên, khi đọc câu chuyện về những gì đã xảy ra khi hai thiên sứ đến gặp Lót để cảnh báo ông ta về những gì sắp xảy đến (Sáng thế Ký 19:1–10), chúng ta có thể thấy dân chúng trong thành đã trở nên bệnh hoạn và xấu xa như thế nào. Đó thực sự là một nơi gian ác, cũng như nhiều quốc gia xung quanh họ; một lý do tại sao cuối cùng, họ bị đuổi khỏi đất (xem Sáng thế Ký 15:16).

“Bây giờ đêm cuối cùng của thành Sô-đôm dần đến. Những đám mây của sự báo thù đã phủ bóng lên thành phố sinh động. Nhưng dân chúng không nhận thức được điều đó. Trong khi các thiên sứ tiến đến gần để thi hành mệnh lệnh hủy diệt, con người đang mơ mộng về sự thịnh vượng và khoái lạc. Ngày cuối cùng cũng giống như bao nhiêu ngày khác đã đến rồi cũng trôi qua. Màn đêm buông xuống giữa một khung cảnh đẹp đẽ và an bình. Một cảnh đẹp vô cùng được chìm ngập dưới những tia nắng hoàng hôn. Sự mát mẻ của chiều tàn đã kêu gọi cư dân trong thành phố, nơi mà những đám đông tìm kiếm thú vui đang ùa nhau ngoài đường phố để tận hưởng sự khoái lạc của giờ khắc ấy.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 157, 158.

Cuối cùng, Đức Chúa Trời chỉ cứu được Lót, vợ và hai con gái của ông (Sáng thế Ký 19:15), tức là gần một nửa so với con số tối thiểu là 10 người. Các con rể, xem thường lời cảnh báo của Lót, vẫn ở lại thành phố (Sáng thế Ký 19:14).

Đất nước đã từng là nơi xinh đẹp ấy, bỗng chốc đã bị hủy diệt. Động từ Hê-bơ-rơ hafakh, “bị lật đổ”, xuất hiện nhiều lần trong phân đoạn này (Sáng thế Ký 19:21, 25, 29) và mô tả sự hủy diệt của Sô-đôm (Phục truyền 29:23, A-mốt 4:11). Ý tưởng là đất nước đã bị “đảo ngược”. Cũng giống như trận Đại hồng thủy “đảo ngược” sự sáng tạo ban đầu (Sáng thế Ký 6:7), sự hủy diệt của Sô-đôm là sự “đảo ngược” của Vườn Ê-đen (Sáng thế Ký 13:10). Sự hủy diệt của Sô-đôm, cũng cho chúng ta biết trước được về sự hủy diệt vào thời kỳ cuối cùng là thế nào (xin xem Giu-đe 7).

Lời cầu thay kiên nhẫn và lì lợm của Áp-ra-ham vì dân thành Sô-đôm (Sáng thế Ký 18:22–33) nên khuyến khích chúng ta cũng cầu nguyện cho những kẻ ác, mặc dù họ dường như đang ở trong tình trạng tội lỗi vô vọng. Hơn nữa, phản ứng ân cần của Đức Chúa Trời đối với sự khăng khăng của Áp-ra-ham, và việc Ngài sẵn sàng tha thứ chỉ vì “mười” người công chính là một khái niệm “cách mạng”, như tác giả Gerhard Hasel đã chỉ ra:

“Thật là một tư tưởng cách mạng đối với lối suy nghĩ cũ, vốn cho rằng người vô tội nhưng có liên hệ với những kẻ có tội thì cũng phải bị trừng phạt, nay đã được chuyển đổi thành một điều mới:sự hiện diện của những người công chính còn sót lại có thể có nhiệm vụ bảo tồn cho toàn nhóm có tội . . . Vì lợi ích của nhóm công bình còn sót lại, Đức Giê-hô-va trong sự công bình của ngài [tsedaqah] sẽ tha thứ cho thành phố gian ác. Khái niệm này được mở rộng rộng rãi trong lời tiên tri của Tôi tớ của Đức Giê-hô-va, người làm công việc cứu rỗi ‘cho nhiều người.’ ”— Gerhard F. Hasel, The Remnant: The History and Theology of the Remea Idea From Genesis to Isaiah, 3rd edition (Berrien Springs , MI: Nhà xuất bản Đại học Andrews, 1980), trang 150, 151.

“Xung quanh chúng ta là những linh hồn sắp đi đến chỗ diệt vong trong vô vọng, khủng khiếp, giống như điều đã xảy ra với Sô-đôm. Mỗi ngày, thời gian còn cơ hội của một số đang kết thúc. Mỗi giờ, một số đang đi xa ngoài tầm với của sự thương xót. Và đâu là những lời cảnh báo và kêu gọi tội nhân hãy chạy trốn khỏi sự diệt vong đáng sợ này? Đâu là những bàn tay dang ra để kéo họ từ cõi chết trở về? Đâu rồi những người có đức tin khiêm nhường và bền bỉ đang cầu xin Chúa cho họ? Thần linh của Áp-ra-ham là thần linh của Đấng Christ. Chính Con Đức Chúa Trời là Đấng Cầu thay vĩ đại cho tội nhân. Ngài, Đấng đã trả giá cho sự cứu chuộc của linh hồn biết giá trị của linh hồn con người.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 140.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Chỉ có chiếc mống trời và phép cắt bì được gọi là “dấu của giao ước”. Điểm chung và điểm khác biệt giữa hai giao ước là gì?
  2. Tuy là người được Đức Chúa Trời gọi, và mặc dù thường được nhắc đến trong Tân Ước như là một gương của một đời sống sống bởi đức tin, nhưng đôi khi Áp-ra-ham vẫn vấp phạm. Bài học nào chúng ta nên học và không học từ tấm gương của ông?
  3. Một số người lập luận chống lại ý tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt kẻ lạc mất, họ nói rằng hành động này sẽ trái với tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Làm thế nào để chúng ta, là những người tin rằng, phải, Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt kẻ lạc mất, trả lời với lập luận rằng Ngài không làm như vậy?
Bài Học 6, 30 Tháng 4 — 6 Tháng 5, 2022

CỘI RỄ ÁP-RA-HAM

CÂU GỐC: “Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp:người đi mà không biết mình đi đâu” (Hê-bơ-rơ 11:8).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 12; Ê-sai 48:20; Ê-sai 36:6, 9; Giê-rê-mi 2:18; Sáng thế Ký 13; Sáng thế Ký 14; Hê-bơ-rơ 7:1–10.

Bây giờ chúng ta đã đến phần chính của sách Sáng thế Ký. Phần này (Sáng thế Ký 12–22) sẽ cho chúng ta biết về cuộc hành trình của Áp-ra-ham, từ lời kêu gọi đầu tiên của Đức Chúa Trời, lekh lekha, “Hãy ra!” (Sáng thế Ký 12:1), khiến Áp-ra-ham rời bỏ quá khứ của mình để đến với lời kêu gọi thứ hai của Đức Chúa Trời, lekh lekha, “đi” (Sáng thế Ký 22:2), khiến Áp-ra-ham rời bỏ tương lai của mình (vì tương lai ông là trong con trai ông). Kết quả là, Áp-ra-ham luôn chuyển động, luôn là người di dân, đó là lý do tại sao ông còn được gọi là “khách lạ” (Sáng thế Ký 17:8).

Trong cuộc hành trình của mình, Áp-ra-ham như một người hụt hẫng, không có quá khứ, điều mà ông đã mất, và không có tương lai, điều mà ông không nhìn thấy. Giữa hai lời kêu gọi này, là cuộc hành trình đức tin của Áp-ra-ham, Áp-ra-ham nghe được tiếng của Đức Chúa Trời, điều này trấn an ông: “Đừng sợ” (Sáng thế Ký 15:1). Ba lời này của Đức Chúa Trời đánh dấu ba khoảng đời cuộc hành trình của Áp-ra-ham, mà chúng ta sẽ được học trong các tuần 6, 7 và 8.

Áp-ra-ham nêu gương về đức tin (Sáng thế Ký 15:6) và được ghi nhớ trong sách Hê-bơ-rơ là người có đức tin (Nê-hê-mi 9:7, 8). Trong Tân Ước, Áp-ra-ham là một trong những nhân vật được nhắc đến nhiều nhất từ Cựu Ước, và tuần này chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu lý do tại sao.

Đọc Sáng thế Ký 12:1–9. Tại sao Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ram rời bỏ quê hương đất nước và gia đình của mình? Áp-ram trả lời như thế nào?

Lần cuối cùng mà Đức Chúa Trời đã nói với một người, ít nhất là như được ghi lại trong Kinh Thánh, đó là với Nô-ê, để trấn an ông sau trận Đại hồng thủy rằng Ngài sẽ thiết lập giao ước với tất cả loài xác thịt (Sáng thế Ký 9:15–17) và giao ước rằng một trận Nước Lụt khác trên toàn thế giới sẽ không bao giờ đến. Những lời mới của Đức Chúa Trời, bây giờ là với Áp-ram, kết nối lại với lời hứa đó:tất cả các dân tộc trên trái đất sẽ được ban phước qua Áp-ram.

Sự ứng nghiệm của lời tiên tri ấy bắt đầu bằng việc rời bỏ quá khứ. Áp-ram rời bỏ tất cả những gì quen thuộc với mình là gia đình và đất nước của ông, và cả một phần của chính thân mình. Sự đốc thúc của việc “đi” này được phản ánh trong việc lặp lại từ ngữ chính là “Hãy đi”, xuất hiện bảy lần trong toàn bộ câu chuyện này. Áp-ram trước tiên phải rời khỏi quê hương mình, “U-rơ, thuộc về xứ Canh đê,” cũng là Ba-by-lôn (Sáng thế Ký 11:31; Ê-sai 13:19). Lời kêu gọi “ra khỏi Ba-by-lôn” đã có một lịch sử lâu đời qua các tiên tri trong Kinh Thánh (Ê-sai 48:20, Khải huyền 18:4).

Sự ra đi của Áp-ram cũng là điều làm gia đình ông quan tâm. Áp-ram phải bỏ lại di sản và phần lớn những gì ông đã học và có được nhờ nơi dòng dõi, giáo dục và ảnh hưởng.

Tuy nhiên, lời kêu gọi ra đi của Đức Chúa Trời còn bao hàm nhiều điều hơn thế. Cụm từ tiếng Do Thái lekh lekha, “hãy đi”, được dịch theo nghĩa đen, có nghĩa là “tự mình đi” hoặc “tự ngươi đi”. Việc Áp-ram rời Ba-by-lôn quan trọng hơn môi trường sống hoặc thậm chí đại gia đình của ông. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, cụm từ này gợi ý sự nhấn mạnh vào chính một cá nhân. Áp-ram phải rời bỏ chính mình, để loại bỏ phần con người chứa đựng quá khứ Ba-by-lôn của ông.

Mục tiêu của sự từ bỏ này là “một vùng đất” mà Đức Chúa Trời sẽ chỉ cho ông. Ngôn ngữ tương tự sẽ được dùng một lần nữa trong bối cảnh của việc phải hy sinh Y-sác (Sáng thế Ký 22:2), để chỉ núi Mô-ri-a, nơi Y-sác sẽ được dâng hy sinh và là nơi mà đền thờ Giê-ru-sa-lem sẽ được xây (2 Sử Ký 3:1). Lời hứa của Đức Chúa Trời không chỉ về một quê hương vật chất mà còn về sự cứu rỗi cho toàn thế giới. Ý tưởng này được tái khẳng định trong lời hứa của Đức Chúa Trời về phước lành cho muôn dân (Sáng thế Ký 12:2, 3). Động từ barakh, “ban phước,” xuất hiện năm lần trong phân đoạn này. Tiến trình của phước lành cho toàn nhân loại này được mang qua “dòng dõi” của Áp-ram (Sáng thế Ký 22:18, Sáng 26:4, Sáng 28:14). Bản văn ở đây đề cập đến “hạt giống”, cuối cùng sẽ được ứng nghiệm trong Đức Chúa Giê-su Christ (Công vụ 3:25).

Bạn nghĩ Đức Chúa Trời có thể kêu gọi bạn hãy bỏ lại điều gì sau lưng? Ấy là, bạn có thể phải từ bỏ phần nào của cuộc đời mình để nghe theo tiếng gọi của Chúa?

Đọc Sáng thế Ký 12:10–20. Tại sao Áp-ram rời Đất Hứa để đến Ê-díp-tô? Cách Pha-ra-ôn cư xử so với cách Áp-ram cư xử thì thế nào?

Trớ trêu thay, Áp-ram, vừa đến được Đất Hứa, lại quyết định rời nó để đi qua Ai Cập vì “trong xứ bị cơn đói kém” (Sáng thế Ký 12:10). Bằng chứng về những người từ Ca-na-an di dân đến Ai Cập trong thời kỳ đói kém đã được chứng thực rõ ràng trong các văn bản Ai Cập thời cổ đại. Trong giáo huấn Merikare của người Ai Cập, một văn bản được soạn trong thời kỳ Trung Vương quốc (2060–1700 TCN), những người đến từ Ca-na-an được coi là “người châu Á khốn khổ” (aamu) và được mô tả là “khốn khổ. . . thiếu nước . . . người ấy không ở yên một chỗ, thức ăn thúc đẩy đôi chân của anh ta di chuyển.” — Miriam Lichtheim, Văn học Ai Cập cổ đại, Tập I: Các Vương quốc Cổ và Trung đại (Berkeley, CA: Nhà xuất bản Đại học California, 1973), trang 103, 104.

Sự cám dỗ của Ai Cập thường là một vấn đề đối với dân Y-sơ-ra-ên thời cổ đại (Dân số Ký 14:3, Giê-rê-mi 2:18). Ê-díp-tô, do đó, trở thành biểu tượng của việc con người tin tưởng vào con người hơn là vào Đức Chúa Trời (2 Các Vua 18:21; Ê-sai 36:6, 9). Ở Ai Cập, nơi nước có thể được nhìn thấy hàng ngày, đức tin là không cần thiết, vì lời hứa về vùng đất này có thể nhìn thấy trước mắt được. Trong mắt Áp-ram, so với vùng đất của nạn đói, Ê-díp-tô có vẻ là một nơi tốt đẹp để đến, bất chấp những gì Đức Chúa Trời đã nói với ông.

Áp-ram ngày nay khi rời khỏi Ca-na-an trái ngược với Áp-ram đã rời U-rơ. Trước đây, Áp-ram được miêu tả là một người có đức tin, người đã rời bỏ U-rơ để đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời; bây giờ, Áp-ram rời Đất Hứa một mình, theo ý nguyện của riêng mình. Trước đây, Áp-ram đã trông cậy vào Đức Chúa Trời; bây giờ ông hành xử như một chính trị gia khéo léo và phi đạo đức, một người chỉ biết dựa vào bản thân. “Trong thời gian ở Ai Cập, Áp-ra-ham đã đưa ra bằng chứng rằng ông không thoát khỏi sự yếu đuối và bất toàn của con người. Khi che giấu sự thật rằng Sa-ra là vợ của mình, ông ta đã phô diễn sự thiếu tin tưởng vào sự chăm sóc của Đức Chúa Trời. Sự thiếu hụt đức tin và thiếu lòng dũng cảm cao cả đó vốn đã thường xuyên được nêu gương cao cả trong cuộc đời ông.” — Ellen White, Patriarchs and Prophets, trang 130.

Vậy những gì chúng ta thấy ở đây là làm sao mà ngay cả một người vĩ đại của Đức Chúa Trời cũng có thể vướng mắc sai lầm mà vẫn không bị Đức Chúa Trời bỏ rơi. Khi Tân Ước nói về Áp-ra-ham như một gương về sự cứu rỗi bởi ân điển, thì nó chỉ có nghĩa là như vậy:ân điển. Bởi vì, nếu không phải bởi ân điển, Áp-ra-ham, cũng như tất cả chúng ta, sẽ không có hy vọng.

Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về việc các Cơ Đốc nhân trung tín cũng có thể dễ dàng lạc lối ra khỏi con đường đúng là thế nào? Tại sao sự bất tuân chẳng bao giờ là một lựa chọn tốt?

Đọc Sáng thế Ký 13:1–18. Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về tầm quan trọng của nhân cách?

Áp-ram trở lại chốn cũ, là nơi mà ông đã chọn đường vòng đến Ai Cập, một đường vòng không may. Lịch sử của Đức Chúa Trời với Áp-ram bắt đầu lại, nơi nó đã dừng lại kể từ chuyến đi đầu tiên của ông đến Đất Hứa. Trạm đầu tiên của Áp-ram là Bê-tên (Sáng thế Ký 13:3), giống như trong chuyến đi đầu tiên của ông đến đất (Sáng thế Ký 12:3–6). Áp-ram đã ăn năn và ý thức được “chính mình”: ấy là Áp-ram, người có đức tin.

Sự kết nối lại của Áp-ram với Đức Chúa Trời đã thể hiện trong mối quan hệ của ông với mọi người, qua cách ông giải quyết vấn đề với Lót, cháu trai của ông, liên quan đến việc dùng các miền đất đai. Tuy nhiên, chính Áp-ram là người đề xuất một thỏa thuận hòa bình và cho phép Lót lựa chọn trước (Sáng thế Ký 13:9, 10), một hành động rộng lượng và nhân hậu, cho thấy chính Áp-ram vốn đã là hạng người nào.

Việc Lót chọn phần dễ nhất và tốt nhất cho mình, vùng đồng bằng đầy nước (Sáng thế Ký 13:10, 11), mà không quan tâm đến sự gian ác của những dân mình sẽ sống chung đụng trong tương lai (Sáng thế Ký 13:13) cho thấy điều gì đó về tính tham lam và cá tính của ông. Cụm từ “cho mình” gợi cho chúng ta nhớ đến những người tiền đại hồng thủy, những người cũng đã chọn “cho mình” (xem Sáng thế Ký 6:2).

Ngược lại, hành động của Áp-ram là một hành động của đức tin. Áp-ram không chọn đất; nó đã được ban cho ông bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Không giống như Lót, Áp-ram chỉ nhìn đất theo lệnh của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 13:14). Chỉ khi Áp-ram tách khỏi Lót, Đức Chúa Trời mới nói với ông một lần nữa (Sáng thế Ký 13:14). Trên thực tế, đây là lần đầu tiên được ghi lại trong Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời nói với Áp-ram kể từ sự kêu gọi của ông tại U-rơ. “Hãy nhướng mắt lên, nhìn từ chỗ ngươi ở cho đến phương bắc, phương nam, phương đông và phương tây: Vì cả xứ nào ngươi thấy, ta sẽ ban cho ngươi và cho dòng dõi ngươi đời đời” (Sáng thế Ký 13:14, 15). Vì vậy, Đức Chúa Trời mời Áp-ram “đi bộ” trên đất này như một hành động chiếm đoạt. “Hãy đứng dậy đi khắp trong xứ, bề dài và bề ngang; vì ta sẽ ban cho ngươi xứ nầy” (Sáng thế Ký 13:17).

Tuy nhiên, Chúa nói rất rõ ràng rằng Ngài, Đức Chúa Trời, đang ban nó cho Áp-ram. Đó là một món quà, một món quà của ân điển, mà Áp-ram phải có được bằng đức tin, một đức tin dẫn đến sự vâng phục. Công việc của một mình Đức Chúa Trời sẽ mang lại tất cả những gì Ngài đã hứa với Áp-ram ở đây (xin xem Sáng thế Ký 13:14–17).

Làm thế nào chúng ta có thể học cách tử tế và rộng lượng với người khác, ngay cả khi họ không như vậy với chúng ta?

Đọc Sáng thế Ký 14:1–17. Điều gì có ý nghĩa về cuộc chiến này xảy ra ngay sau món quà của Đất Hứa? Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về Áp-ram?

Đây là cuộc chiến tranh đầu tiên được thuật lại trong Kinh Thánh (Sáng thế Ký 14:2). Liên minh của bốn đạo quân từ Mê-sô-pô-ta-ni (vùng hai con sông) và Ba Tư chống lại liên minh khác của năm đạo quân Ca-na-an, bao gồm các vua của Sô-đôm và Gô-mơ-rơ (Sáng thế Ký 14:8), cho thấy đây là một cuộc xung đột lớn (Sáng thế Ký 14:9). Lý do cho chiến dịch quân sự này liên quan đến thực tế là các dân Ca-na-an đã nổi dậy chống lại các thủ lãnh Ba-by-lôn của họ (Sáng thế Ký 14:4, 5). Mặc dù câu chuyện này đề cập đến một cuộc xung đột lịch sử cụ thể, nhưng thời điểm của cuộc chiến “toàn cầu” này, ngay sau khi Đức Chúa Trời ban Đất Hứa cho Áp-ram, đã mang lại cho sự kiện này một ý nghĩa thuộc linh đặc biệt.

Sự tham gia của rất nhiều dân tộc từ đất Ca-na-an cho thấy rằng vấn đề đang bị đe dọa trong cuộc xung đột này là về chủ quyền đối với đất đai. Trớ trêu thay, trại của Áp-ram, đúng ra là nhóm người có liên hệ với vùng đất này nhất vì ông là chủ sở hữu thực sự duy nhất của vùng đất, lại là lực lượng duy nhất còn đứng bên ngoài vòng chiến và cuộc xung đột, ít nhất là lúc ban đầu.

Lý do cho sự trung lập của Áp-ram là đối với Áp-ram, Đất Hứa không có được nhờ vũ khí hoặc bởi sự khôn ngoan của các chiến lược chính trị. Vương quốc của Áp-ram là món quà của Đức Chúa Trời. Lý do duy nhất mà Áp-ram sẽ can thiệp là vì số phận của cháu trai ông là Lót, người bị bắt làm tù binh trong trận chiến (Sáng thế Ký 14:12, 13).

“Áp-ra-ham, đang sống yên bình trong những rừng cây sồi ở Mam-rê, đã học được từ một trong những kẻ chạy trốn chiến tranh câu chuyện về trận chiến và tai họa ập đến với cháu trai mình. Ông không hề ghi nhớ gì về sự láu lỉnh của Lót khi hai người chia tay. Tất cả lòng thương mến của ông dành cho cháu mình được khơi dậy, và ông quyết định rằng Lót phải được giải cứu. Trước hết, Áp-ra-ham tìm kiếm lời khuyên của Đức Chúa Trời, và sau đó, Áp-ra-ham chuẩn bị cho chiến tranh.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 135.

Nhưng Áp-ram không đối đầu với cả liên minh. Trong một cuộc hành quân biệt kích diễn ra nhanh chóng và về đêm, ông chỉ tấn công vào trại nơi Lót bị giam giữ. Lót đã được cứu. Như vậy, con người trung thành này của Đức Chúa Trời cũng tỏ lộ lòng can đảm và kiên cường phi thường. Chắc chắn ảnh hưởng thế lực của Áp-ram sau đó trong khu vực ngày càng vững vàng, và mọi người nhìn thấy ông là người như thế nào, và họ biết thêm chút gì về Đức Chúa Trời mà ông ta phục vụ.

Hành động chúng ta làm mang lại ảnh hưởng nào cho người khác? Chúng ta đang gửi thông điệp gì về đức tin bằng hành động của mình?

Đọc Sáng thế Ký 14:18–24 và Hê-bơ-rơ 7:1–10. Mên-chi-xê-đéc là ai? Tại sao Áp-ram lại dâng phần mười của mình cho thầy tế lễ dường như xuất hiện từ chỗ không ai biết này?

Sự xuất hiện bất ngờ của Mên-chi-xê-đéc bí ẩn không phải là lạc đề. Sau khi Áp-ram được các vị vua xứ Ca-na-an cảm ơn, giờ đây ông cảm ơn vị tư tế này, một lòng biết ơn được tiết lộ khi ông trả phần mười của mình cho ông.

Mên-chi-xê-đéc đến từ thành phố Sa-lem, có nghĩa là “hòa bình”, một thông điệp thích hợp sau cuộc hỗn loạn của chiến tranh.

Thành phần tsedek, “công lý”, trong tên của Mên-chi-xê-đéc, xuất hiện trái ngược với tên của vua Sô-đôm, Bê-ra (“trong gian ác”), và Gô-mô-rơ, Biệt-sa (“trong hung ác”), có thể là tên do hai vua đại diện (Sáng thế Ký 14:2).

Mên-chi-xê-đéc xuất hiện sau sự đảo ngược của bạo lực và tàn ác do các vị vua Ca-na-an kia đã đại diện. Phân đoạn này cũng lần đầu trong Kinh Thánh danh từ “thầy tế lễ” được nhắc đến (Sáng thế Ký 14:18). Sự kết hợp của Mên-chi-xê-đéc với “Đức Chúa Trời Tối Cao” (Sáng thế Ký 14:18, NKJV), Đấng mà Áp-ram gọi là Đức Chúa Trời của mình (Sáng thế Ký 14:22), cho thấy rõ rằng Áp-ram coi ông là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời mà Áp-ram đã phục vụ. Tuy nhiên, Mên-chi-xê-đéc không được đồng nhất với Đấng Christ. Ông là đại diện của Đức Chúa Trời trong số dân chúng thời đó (xem Ellen G. White Comments, The SDA Bible Commentary, Quyển 1, trang 1092, 1093).

Quả thật, Mên-chi-xê-đéc làm lễ với tư cách là một thầy tế lễ. Ông phục vụ “bánh và rượu”, rượu thường ngụ ý việc dùng nước nho tươi ép (Phục truyền Luật lệ Ký 7:13, 2 Sử Ký 31:5), về sau cũng được ghi lại trong bối cảnh dâng phần mười (Phục truyền Luật lệ Ký 14:23). Ngoài ra, vị vua này còn chúc phước cho Áp-ram (Sáng thế Ký 14:19).

Trong khi đó, “Áp-ram lấy một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua đó” (Sáng thế Ký 14:20) như một sự đáp lại với Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, “Đấng dựng nên trời và đất” (Sáng thế Ký 14:19). Chức vị này ám chỉ đến phần mở đầu của câu chuyện Sáng Tạo (Sáng thế Ký 1:1), trong đó cụm từ “trời và đất” có nghĩa là toàn bộ hoặc “tất cả”. Như vậy, phần mười được hiểu là sự bày tỏ lòng biết ơn đối với Đấng Tạo Hóa, Đấng sở hữu mọi thứ (Hê-bơ-rơ 7:2–6; so sánh với Sáng thế Ký 28:22). Với kẻ thờ phượng, họ hiểu rằng phần mười không phải là một món quà dành cho Đức Chúa Trời, mà là một món quà từ Đức Chúa Trời, bởi vì Đức Chúa Trời ban cho chúng ta mọi thứ từ đầu.

Tại sao hành động trả lại phần mười là một dấu hiệu mạnh mẽ của đức tin, cũng như là một hành động xây dựng đức tin tuyệt vời?

“Hội thánh của Đấng Christ là một nguồn phước, và các thuộc viên của hội thánh sẽ được ban phước khi họ ban phước cho những người khác. Mục tiêu của Đức Chúa Trời khi chọn một dân tộc trước toàn thế giới không chỉ vì Ngài có thể nhận họ làm con trai và con gái của Ngài, mà còn là qua họ, Ngài có thể cho thế giới thấy những phúc lợi của ánh sáng thiên thượng là thế nào. Khi Chúa chọn Áp-ra-ham, Ngài không chỉ đơn giản là để ông trở thành người bạn đặc biệt của Ngài, mà ông phải là phương tiện để mang những đặc ân quý giá và đặc biệt mà Chúa muốn ban cho các dân tộc. Ông phải là một ánh đèn giữa bóng tối của sự thiếu đạo đức xung quanh ông.

“Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời ban phước cho con cái Ngài bằng ánh sáng và lẽ thật, thì không những họ có thể có được món quà là sự sống vĩnh cửu, mà còn cho những người xung quanh họ cũng có thể được soi sáng về mặt tâm linh . . . ‘Các ngươi là muối của đất.’ Và khi Đức Chúa Trời làm cho con cái của Ngài là muối, điều đó không chỉ để bảo tồn chính họ, mà họ có thể là tác nhân bảo tồn kẻ khác . . .

“Bạn có tỏa sáng như những hòn đá sống trong nhà của Đức Chúa Trời . . . Chúng ta không có tôn giáo chân chính trong mình, trừ khi tín ngưỡng của chúng ta được thể hiện qua cuộc sống hằng ngày. Như chỉ được đan vào áo, thì đạo đức cũng phải được đan vào đời sống. Ân điển của Đấng Christ mà đã biến đổi con người nên ngự vào lòng chúng ta. Chúng ta cần hạ thấp cái tôi và nâng cao Chúa Giê-su.” — Ellen G. White, Reflecting Christ, trang 205.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Qua lời chúc phước của Áp-ra-ham, “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước”(Sáng thế Ký 12:2), được ban ân phước có nghĩa là gì? Với tư cách là những người phụng sự cùng một Đức Chúa Trời như Áp-ram, chúng ta có thể là nguồn phước cho người khác như thế nào?
  2. Điều gì sai trong lời nói dối nửa vời của Áp-ra-ham về người vợ cũng là em gái mình của ông? Điều gì tồi tệ hơn: nói dối hoặc nói phần nào sự thật trong khi thật sự vẫn là nói dối?
  3. Đọc lại Sáng thế Ký 14:21–23, Áp-ram đáp lại lời đề nghị của vua Sô-đôm. Tại sao ông đã trả lời như thế, và bài học quan trọng nào mà chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện này? Nếu Áp-ram quyết định nhận lấy những gì vua Sô-đôm đã dâng cho ông thì cũng chính đáng vậy?
Bài Học 5, 23 — 29 Tháng 4, 2022

MỌI DÂN TỘC VÀ BA-BÊN

CÂU GỐC: “Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất” (Sáng thế Ký 11:9).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 9:18–11:9, Lu-ca 10:1, Ma-thi-ơ 1:1–17, Lu-ca 1:26–33, Thi thiên 139:7–12, Sáng thế Ký 1:28, Sáng thế Ký 9:1.

Sau trận Đại hồng thủy, lời tường thuật trong Kinh Thánh chuyển từ tập trung vào một cá nhân duy nhất, Nô-ê, sang ba người con trai của ông, Sem, Cham và Gia-phết. Sự chú ý đặc biệt về Cham, tổ phụ của Ca-na-an (Sáng thế Ký 10:6, 15), giới thiệu ý tưởng về “Ca-na-an”, Đất Hứa (Sáng thế Ký 12:5), một sự tiên đoán về Áp-ra-ham thuộc dòng dõi Sem, qua người mà phước lành sẽ đến với mọi dân tộc (Sáng thế Ký 12:3).

Tuy nhiên, dòng dõi loài người được Chúa cứu trong Nước Lụt lại bị làm hỏng bởi Tháp Ba-bên (Sáng thế Ký 11:1–9). Một lần nữa, kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho loài người bị gián đoạn. Những gì được cho là một ơn phước, sự ra đời của các dân tộc, lại trở thành một cơ hội cho một lời nguyền khác. Các dân tộc hiệp lại để cố gắng chiếm lấy vị trí của Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời đáp lại bằng sự phán xét trên họ; và, sự lộn xộn kéo đến, người ta phân tán khắp thế giới (Sáng thế Ký 11:8), và đó cũng hoàn thành kế hoạch ban đầu của Đức Chúa Trời là “lấp đầy mặt đất” (Sáng thế Ký 9:1).

Và chúng ta thấy, cuối cùng, bất chấp sự gian ác của con người, Đức Chúa Trời đã biến điều ác thành điều tốt; Ngài luôn luôn sẽ là có quyết định sau cùng. Lời rủa sả với Cham trong lều của cha người (Sáng thế Ký 9:21, 22) và lời rủa sả cho các dân tộc rối loạn tại Tháp Ba-bên (Sáng thế Ký 11:9), rốt lại sẽ trở thành một phước lành cho mọi dân tộc.

Đọc Sáng thế Ký 9:18–27. Câu chuyện kỳ lạ này có sứ điệp nào?

Hành động của Nô-ê trong vườn nho của ông như diễn lại hành động của A-đam trong Vườn Ê-đên. Hai câu chuyện đều có những khuôn mẫu giống nhau: ăn trái cây và kết quả là trần truồng; sau đó là một sự che đậy, một lời rủa sả, và một lời chúc phước. Nô-ê kết nối lại với cội nguồn dòng dõi A-đam của mình và, thật không may, lại tiếp tục quá khứ thất bại ấy.

Quá trình của sự lên men trái cây không phải là một phần trong sự sáng tạo ban đầu của Đức Chúa Trời. Nô-ê lạm dụng và say sưa, sau đó mất tự chủ và lột truồng bản thân. Việc Cham “nhìn thấy” sự trần truồng của cha mình ám chỉ Ê-va, người cũng đã “nhìn thấy” cây cấm (Sáng thế Ký 3:6). Điều song song này cho thấy Cham không chỉ tình cờ “nhìn thấy” sự khỏa thân của cha mình. Chàng ta đã đi ra kể lại và nói về việc trần truồng của cha mà không tìm cách che đậy cho ông. Ngược lại, phản ứng tức thì của hai anh của Cham làm là che đậy sự trần truồng của cha họ, trong khi Cham để ông ta lõa lồ, đã là sự ngầm tố giác thái độ không tốt của Cham.

Vấn đề đang được đặt ra ở đây là về sự tôn trọng cha mẹ của mình. Không hiếu kính cha mẹ, là những người đại diện cho quá khứ của bạn, sẽ ảnh hưởng đến tương lai của bạn (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:12; so sánh với Ê-phê-sô 6:2). Do đó, lời nguyền sẽ ảnh hưởng đến tương lai của Cham và của con trai ông là Ca-na-an.

Đương nhiên, khi dùng câu chuyện này để biện minh cho các lý thuyết phân biệt chủng tộc chống lại bất cứ ai là một sai lầm thần học và là phạm tội, vi phạm đạo đức. Lời tiên tri này chỉ hạn chế trong con trai của Cham là Ca-na-an mà thôi. Tác giả Kinh Thánh khi viết đoản văn này đã biết đến một số hủ tục đồi bại của người Ca-na-an (Sáng thế Ký 19:5–7, 31–35).

Ngoài ra, lời rủa sả còn chứa đựng một lời hứa ban phước, dựa trên cái tên “Ca-na-an”, có nguồn gốc từ động từ kana‘, có nghĩa là “khuất phục”. Chính nhờ việc khuất phục Ca-na-an mà dân sự của Đức Chúa Trời, con cháu của Sem, sẽ vào Đất Hứa và chuẩn bị con đường cho sự hiện đến của Đấng Mê-si, Đấng sẽ mở rộng bờ cõi của Gia-phết “cho người ở nơi trại của Sem” (Sáng thế Ký 9:27). Đây là một lời tiên tri ám chỉ đến việc mở rộng giao ước của Đức Chúa Trời cho tất cả các dân tộc, giao ước này sẽ siết chặt thông điệp cứu rỗi thế giới của Y-sơ-ra-ên (Đa-ni-ên 9:27, Ê-sai 66:18–20, Rô-ma 11:25). Thật vậy, lời rủa sả của Cham sẽ là một phước lành cho tất cả mọi dân tộc, kể cả bất kỳ con cháu nào của Cham và Ca-na-an chấp nhận sự cứu rỗi mà Chúa ban cho họ.

Nô-ê, “người hùng” của trận Đại hồng thủy lại say sưa? Điều này sẽ cho chúng ta biết điều gì về tất cả chúng ta đều thiếu sót như thế nào và tại sao chúng ta cần ân điển của Đức Chúa Trời mỗi giây phút trong cuộc đời mình?

Qua tuổi thọ của Nô-ê, chúng ta nhận ra rằng ông đóng vai trò liên kết giữa các nền văn minh trước Nước Lụt và sau Nước Lụt. Hai câu cuối của câu chuyện trước (Sáng thế Ký 9:28, 29) đưa chúng ta trở lại liên kết cuối cùng của gia phả A-đam (Sáng thế Ký 5:32). Vì A-đam chết khi Lê-méc, cha của Nô-ê, 56 tuổi, nên Nô-ê chắc chắn đã nghe những câu chuyện về A-đam, mà ông có thể đã truyền cho con cháu của mình trước và sau trận Đại hồng thủy.

Đọc Sáng thế Ký 10. Mục đích của gia phả này trong Kinh Thánh là gì? (Xem thêm Lu-ca 3:23–38.)

Gia phả trong Kinh Thánh có ba chức vụ. Thứ nhất, nó nhấn mạnh bản chất lịch sử của các sự kiện trong Kinh Thánh, có liên quan đến những người có thật đã sống và chết và tuổi thọ của họ được đếm chính xác. Thứ hai, nó thể hiện sự liên tục từ thời cổ đại đến thời hiện đại của tác giả, thiết lập một liên kết rõ ràng với quá khứ với “hiện tại”. Thứ ba, nó nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của con người và hậu quả bi thảm của lời rủa sả về hậu quả của tội lỗi là sự chết đối với tất cả các thế hệ nối tiếp.

Xin lưu ý rằng việc phân loại dòng dõi “Cham-ít”, “Sem-ít” và “Gia-phết-ít” không thật sự theo một tiêu chí rõ ràng. Có 70 dân tộc báo trước 70 thành viên của gia đình Gia-cốp khi họ đi vào xứ Ê-díp-tô (Sáng thế Ký 46:27) và 70 trưởng lão của Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:9). Ý tưởng về sự tương giao giữa 70 dân tộc và 70 trưởng lão gợi ý về sứ mạng của Y-sơ-ra-ên đối với mọi dân tộc: “Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, Phân rẽ những con cái A-đam, Thì Ngài định bờ cõi của các dân, Cứ theo số dân Y-sơ-ra-ên” (Phục truyền 32:8). Tương tự, Đức Chúa Giê-su sai 70 môn đồ đi ra truyền giáo (Lu-ca 10:1).

Những điều này nói lên cho chúng ta thấy là mối liên hệ trực tiếp giữa A-đam và các tộc trưởng; họ đều là những nhân vật lịch sử, những con người có thật từ A-đam trở đi. Điều này cũng giúp chúng ta hiểu rằng các tộc trưởng đã tiếp cận trực tiếp với các nhân chứng, những người có ký ức cá nhân về những sự kiện cổ xưa này.

Đọc Ma-thi-ơ 1:1–17. Điều này dạy chúng ta gì về lịch sử của tất cả những người này? Tại sao việc biết và tin rằng họ là người thật lại quan trọng đối với đức tin của chúng ta?

Đọc Sáng thế Ký 11:1–4. Tại sao người dân trên “toàn thế giới” lại rất muốn đạt được sự thống nhất?

Cụm từ “cả thiên hạ” dùng để chỉ một số ít người, những người còn sống sau trận lụt. Lý do của cuộc tụ họp này được chỉ ra rõ ràng: họ muốn xây một tòa tháp để lên đến các tầng trời (Sáng thế Ký 11:4). Trên thực tế, ý định thực sự của họ là thay thế chính Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa. Đáng chú ý, sự mô tả về ý định và hành động của con người khi họ lặp lại ý định và hành động của Đức Chúa Trời trong câu chuyện của Sự Sáng Tạo: “Hè chúng ta hãy” (Sáng thế Ký 11:3, 4; so sánh với Sáng 1:6, 9, 14, v.v.); “Nào, chúng ta hãy xây” (Sáng thế Ký 11:3, 4; so sánh với Sáng thế Ký 1:26). Ý định của họ được nêu rõ ràng: “ta hãy lo làm cho rạng danh” (Sáng thế Ký 11:4), vốn là một cách diễn đạt chỉ biệt riêng cho Đức Chúa Trời (Ê-sai 63:12, 14).

Nói tóm lại, những người xây dựng Ba-bên đã nghĩ đến và làm thỏa lòng tham vọng sai lầm của họ là thay thế Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa. (Ê-sai 14:14 cho chúng ta thấy nguồn cảm hứng ấy được ai truyền cho họ.) Ký ức về Nước Lụt chắc chắn đã đóng một vai trò trong dự án của họ. Họ đã xây một tòa tháp cao để sống sót sau một trận lụt khác sắp xảy ra, bất chấp lời hứa của Đức Chúa Trời. Ký ức về trận Đại hồng thủy đã được lưu giữ trong truyền thống của người Ba-by-lôn, mặc dù bị bóp méo, liên quan đến việc xây dựng thành phố Ba-bên (Ba-by-lôn). Quả thật, nỗ lực đi đến thiên đàng và chiếm đoạt ý tưởng của Đức Chúa Trời này là đặc điểm của tinh thần Ba-by-lôn.

Đây là lý do tại sao câu chuyện về Tháp Ba-bên cũng là một mô hình quan trọng trong sách Đa-ni-ên. Sáng thế Ký 11:2 nhắc đến Si-nê-a, giới thiệu câu chuyện về Tháp Ba-bên, cũng xuất hiện lại ở phần đầu của sách Đa-ni-ên, nhằm chỉ định nơi Nê-bu-cát-nết-sa đã mang các đồ vật của đền thờ Giê-ru-sa-lem (Đa-ni-ên 1:2). Trong số nhiều đoạn khác của cuốn sách, đoạn Nê-bu-cát-nết-sa dựng bức tượng vàng, có thể ở cùng một vị trí trong cùng một “đồng bằng”, là minh họa rõ nét nhất cho tâm trí này. Trong khải tượng về ngày cuối cùng, Đa-ni-ên thấy cùng một kịch bản về các quốc gia trên trái đất tụ họp lại với nhau để đạt được sự thống nhất chống lại Đức Chúa Trời (Đa-ni-ên 2:43, Đa-ni-ên 11:43–45; so sánh với Khải huyền 16:14–16), mặc dù nỗ lực này đã không thành công ở đây, cũng như với Tháp Ba-bên.

Một tác giả nổi tiếng của Pháp trong thế kỷ trước đã nói rằng mục đích lớn nhất của con người là cố gắng “trở thành Đức Chúa Trời”. Điều gì về chúng ta, bắt đầu với Ê-va trong vườn Ê-đen (Sáng thế Ký 3:5), bị lôi kéo vào lời nói dối nguy hiểm này?

Đọc Sáng thế Ký 11:5–7 và Thi thiên 139:7–12. Tại sao Đức Chúa Trời lại xuống trần gian ở đây? Sự kiện nào đã thúc đẩy phản ứng thiên thượng này?

Trớ trêu thay, mặc dù các người xây tháp tìm cách đi lên, Đức Chúa Trời đã phải xuống với họ. Sự giáng xuống của Đức Chúa Trời là một sự khẳng định về quyền tối cao của Ngài. Chúa sẽ luôn ở ngoài tầm với của con người chúng ta. Bất kỳ nỗ lực nào của con người để vươn lên với Ngài và gặp Ngài trên thiên đàng đều là vô ích và lố bịch. Không nghi ngờ gì nữa, đó là lý do tại sao, để cứu chúng ta, Đức Chúa Giê-su đã đến với chúng ta; quả thực không có cách nào khác để Ngài cứu chúng ta.

Một điều trớ trêu lớn trong câu chuyện về Tháp Ba-bên được thấy trong lời tuyên bố của Đức Chúa Trời: “đặng xem cái thành và tháp” (Sáng thế Ký 11:5). Đức Chúa Trời không cần phải xuống để xem (Thi thiên 139:7–12; so sánh với Thi thiên 2:4), nhưng Ngài vẫn làm như vậy. Khái niệm này nhấn mạnh sự dự phần tham gia của Đức Chúa Trời với nhân loại.

Đọc Lu-ca 1:26–33. Điều này dạy chúng ta gì về sự giáng trần của Đức Chúa Trời cho chúng ta?

Sự giáng xuống của Đức Chúa Trời cũng nhắc nhở chúng ta về nguyên tắc công bình bởi đức tin và tiến trình ân điển của Ngài. Dù chúng ta có thể làm công việc gì cho Chúa, thì Ngài vẫn phải xuống để gặp gỡ chúng ta. Không phải những gì chúng ta làm cho Đức Chúa Trời sẽ đưa chúng ta đến với Ngài và để cứu chuộc. Thay vào đó, chính hành động của Đức Chúa Trời đối với chúng ta sẽ cứu chúng ta. Trên thực tế, Sáng thế Ký có hai lần nói về việc Đức Chúa Trời sẽ “đi xuống”, điều này dường như ngụ ý rằng Ngài quan tâm nhiều đến những gì đang xảy ra ở trên đất.

Theo đoạn Kinh Thánh này, Chúa muốn chấm dứt sự liên hiệp của loài người vì — trong tình trạng sa ngã của họ — chỉ có thể dẫn đến ngày càng thêm nhiều tội ác. Đó là lý do tại sao Ngài đã chọn làm ngôn ngữ của họ bị lộn xộn, điều này sẽ dẫn đến việc ngưng hẳn kế hoạch mà họ liên hiệp nhau đặng làm.

“Kế hoạch của những kẻ xây tháp Ba-bên đã kết thúc trong sự xấu hổ và thất bại. Tượng đài cho sự tự cao của họ đã trở thành đài tưởng niệm cho sự điên rồ của họ. Tuy nhiên, con người vẫn liên tục theo đuổi con đường tương tự — tùy thuộc vào bản thân và từ chối luật pháp của Đức Chúa Trời. Đó là nguyên tắc mà Sa-tan đã cố gắng thực hiện trên thiên đàng; điều tương tự đã chi phối Ca-in trong việc chọn dâng lễ vật của mình.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 123.

Làm thế nào chúng ta thấy trong câu chuyện về Tháp Ba-bên một thí dụ khác về tính kiêu ngạo của con người và cuối cùng, nó sẽ thất bại như thế nào? Chúng ta có thể rút ra bài học cá nhân nào từ câu chuyện này?

Đọc Sáng thế Ký 11:8, 9 và Sáng thế Ký 9:1; so sánh với Sáng thế Ký 1:28. Tại sao sự phân tán của Đức Chúa Trời có thể cứu chuộc?

Chương trình và sự ban phước của Đức Chúa Trời dành cho con người là họ sẽ “sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất” (Sáng thế Ký 9:1; so sánh với Sáng thế Ký 1:28). Để chống lại kế hoạch của Đức Chúa Trời, những kẻ xây tháp Ba-bên muốn tụ tập với nhau thành một nhóm người giống nhau. Một lý do khiến họ nói rằng họ muốn xây dựng thành phố là để họ không “phải tản lạc khắp trên mặt đất” (Sáng thế Ký 11:4). Họ từ chối chuyển đi nơi khác, có lẽ nghĩ rằng cùng nhau họ sẽ có sức mạnh hơn là tách rời và phân tán. Và, theo một nghĩa nào đó, họ đã đúng.

Thật đáng tiếc là họ đã tìm cách dùng sức mạnh liên hiệp của mình cho cái ác, cái không tốt. Họ muốn, “ta hãy lo làm cho rạng danh”, một sự phản ánh mạnh mẽ về sự kiêu ngạo và tự hào của chính họ. Thật vậy, bất cứ khi nào con người, công khai thách thức Đức Chúa Trời, muốn “làm cho rạng danh” cho chính mình, chúng ta có thể chắc chắn rằng điều đó sẽ không thành công. Nó chưa hề bao giờ thành công.

Do đó, trong một phán quyết chống lại sự thách thức ngang ngược của họ, Đức Chúa Trời đã phân tán họ trên “mặt đất” (Sáng thế Ký 11:9), chính xác là điều họ không muốn xảy ra.
Có sự thú vị là, cái tên Ba-bên, có nghĩa là “cửa của Đức Chúa Trời”, có liên hệ đến động từ balal, có nghĩa là “làm lộn xộn” (Sáng thế Ký 11:9). Chính vì họ muốn đến được “cánh cửa” của Chúa, vì họ nghĩ mình là Chúa, nên cuối cùng họ đã trở nên rối rắm và kém sức mạnh hơn nhiều so với trước đây.

“Những kẻ xây tháp Ba-bên đã quyết tâm thành lập một chính phủ riêng rẽ độc lập khỏi Chúa. Tuy nhiên, có một số người trong số họ, là những người kính sợ Chúa, nhưng đã bị lừa dối bởi những kẻ vô đạo đức và bị lôi kéo vào những âm mưu của họ. Vì lợi ích của những người trung thành này, Chúa đã trì hoãn sự phán xét của Ngài và cho người ta thời gian để bộc lộ tính cách thật của họ. Và như câu chuyện tiếp diễn, các con trai của Đức Chúa Trời đã nỗ lực để thay đổi loài người xây khỏi chủ đích của họ; nhưng dân chúng đã hoàn toàn đoàn kết trong công việc chống đối Thiên đàng của họ. Nếu cứ để chúng tiếp tục mà không kiểm soát, chúng sẽ làm mất đạo đức của thế gian từ trong thời kỳ sơ khai. Liên minh của chúng đã được thành lập bởi lòng nổi loạn; một vương quốc được thành lập để tự tôn cao mình, mà trong đó Đức Chúa Trời không có quyền hay danh dự.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 123.

Tại sao chúng ta phải hết sức thận trọng khi tìm cách “làm cho rạng danh” cho chính mình?

“Họ quyết định xây dựng một thành, và trong đó có một tòa tháp có chiều cao đầy kinh ngạc . . . Các kế hoạch hùng vĩ này được thiết kế để ngăn chặn người dân phân tán ra nước ngoài và tụ tập thành các nhóm ở các xứ sở ấy. Đức Chúa Trời đã phán bảo loài người phải phân tán khắp mặt đất, để bổ sung và khuất phục nó; nhưng những kẻ xây tháp Ba-bên này quyết tâm giữ cho cộng đồng của họ thống nhất trong một nhóm thôi, và thành lập một chế độ quân chủ mà cuối cùng sẽ bao trùm cả trái đất. Vì vậy, thành của họ sẽ trở thành thủ đô của một đế chế toàn cầu; vinh quang của nó sẽ làm thế gian phải ngưỡng mộ và kính trọng, và làm cho những kẻ sáng lập trở nên lừng lẫy. Một tòa tháp huy hoàng, vươn tới tận trời cao, được dự định là tượng đài biểu hiện cho sức mạnh và trí tuệ của những người xây dựng nó, lưu giữ danh tiếng của họ cho nhiều thế hệ về sau.

“Dân cư nơi đồng bằng Si-na-ê không tin vào giao ước của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ không gây ra một trận lụt nữa trên trái đất. Nhiều người trong số họ phủ nhận sự tồn tại của Chúa và cho rằng Nước Lụt là do nguyên nhân tự nhiên vận hành. Những người khác tin vào một Đấng Tối Cao, và rằng chính Ngài là đấng đã hủy diệt thế giới thời tiền đại hồng thủy; và lòng họ, giống như lòng Ca-in, nổi dậy chống lại Ngài. Một mục tiêu trước mắt họ trong quá trình xây dựng tòa tháp là đảm bảo an toàn cho chính họ trong trường hợp có một trận đại hồng thủy khác. Bằng cách đưa cấu trúc lên một độ cao lớn hơn nhiều so với độ cao mà nước lũ đạt tới, họ nghĩ rằng sẽ đặt mình vượt qua mọi nguy hiểm nào có thể xảy đến. Và khi họ có thể lên đến các tầng mây, họ hy vọng sẽ xác định được nguyên nhân của Nước Lụt. Toàn bộ của chương trình thiết kế này là chủ đích nâng cao sự cao ngạo của những kẻ chủ mưu và để dẫn tâm trí của các thế hệ tương lai xa rời Đức Chúa Trời và đưa chúng vào việc thờ lạy thần tượng.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 118–119.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Trong lịch sử, chúng ta có những thí dụ nào, hoặc ngay cả thời hiện tại, về những rắc rối có thể đến từ những người tìm cách tạo dựng tên tuổi cho mình?
  2. Trong tư cách là một hội thánh, làm thế nào chúng ta có thể tránh được nguy cơ tìm cách xây dựng Tháp Ba-bên của riêng mình? Chúng ta có thể thực sự đang tìm cách làm điều này, dầu trong cả tiềm thức (làm mà không hay mình làm) qua những cách nào?
Bài Học 4, 16 — 22 Tháng 4, 2022

NƯỚC LỤT

CÂU GỐC: “Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy” (Ma-thi-ơ 24:37).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 6:13–7:10, 2 Phi-e-rơ 2:5–9, Sáng thế Ký 7, Rô-ma 6:1–6, Thi thiên 106:4, Sáng thế Ký 8, Sáng thế Ký 9:1–17.

Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn” (Sáng thế Ký 6:5). Động từ “thấy” đưa người đọc trở lại từng bước trong Công cuộc Sáng Tạo ban đầu của Đức Chúa Trời. Nhưng những gì Đức Chúa Trời nhìn thấy bây giờ, thay vì tov, “tốt” mà nay là ra‘, “điều ác”. Như thể Đức Chúa Trời hối hận vì Ngài đã tạo ra thế giới, giờ đây đầy ra‘, “điều ác” (Sáng thế Ký 6:6, 7).

Tuy nhiên, sự hối hận của Đức Chúa Trời cũng chứa đựng những yếu tố cứu rỗi. Trong tiếng Do Thái, động từ có nghĩa là “xin lỗi” (nakham) được lặp lại trong tên của Nô-ê (Noakh), có nghĩa là “an ủi” (Sáng thế Ký 5:29). Vì vậy, phản ứng của Đức Chúa Trời đối với sự gian ác này có hai mặt. Nó chứa đựng mối đe dọa của công lý, dẫn đến sự hủy diệt đối với một số người; dầu vậy, sự đáp trả của Ngài cũng hứa hẹn sự an ủi và lòng thương xót, cũng dẫn đến sự cứu rỗi cho những người khác.

“Lối nói đôi” này đã được nghe thấy trong câu chuyện của Ca-in và A-bên và Sết, và nó được lặp lại qua sự tương phản giữa hai dòng dõi Sết (“các con trai của Đức Chúa Trời”) và Ca-in (“con gái loài người”). Bây giờ chúng ta lại nghe lối nói ấy khi Đức Chúa Trời phân biệt giữa Nô-ê và phần còn lại của loài người.

Đọc Sáng thế Ký 6:13–7:10. Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ câu chuyện hi hữu này về lịch sử loài người thời kỳ sơ khai?

Như Đa-ni-ên, Nô-ê là nhà tiên tri dự đoán ngày tận thế. Danh từ trong tiếng Hê-bơ-rơ mà Kinh Thánh Việt ngữ dịch là “chiếc tàu” là tevah (Sáng thế Ký 6:14) trong bản tiếng Anh là “ark” hay là “chiếc hòm”. Đây là một chữ mà tiếng Do Thái mượn từ tiếng của người Ai Cập được dùng cho “chiếc hòm”, một vật để bảo bọc những gì nó chứa đựng. Trường hợp của em bé sơ sinh Môi-se được giấu để bảo đảm sẽ là người mang dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô (Xuất Ê-díp-tô Ký 2:3). Và nữa, nhiều người đã thấy cùng ý nghĩa trong việc gọi hòm giao ước của đền tạm trong đồng vắng cũng là “ark” (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:10). Không khác gì chiếc tàu trong trận Đại hồng thủy sẽ giữ loài người tồn tại, thì chiếc tàu (hay hòm) của giao ước, là một dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở giữa dân sự của Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:22), đều chỉ ra công việc cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài.

Câu “Nô-ê làm các điều nầy y như lời Đức Chúa Trời đã phán dặn” (Sáng thế Ký 6:22) kết thúc phần chuẩn bị. Cũng cùng một động từ ‘asah của tiếng Do Thái nói về hành động của Nô-ê, đáp lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời đã được dùng ở Sáng thế Ký 6:14 và được lặp lại năm lần từ câu 14–16. Sự lặp lại này giữa mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và phản ứng của Nô-ê cho thấy Nô-ê tuyệt đối tuân theo những gì Đức Chúa Trời đã bảo ông làm, Chúa ‘asah, và Nô-ê ‘asah. Điều thú vị là cũng cùng động từ này đã được dùng trong bối cảnh thiết kế hòm giao ước (Xuất Ê-díp-tô Ký 39:32, 42; Xuất Ê-díp-tô Ký 40:16).

“Đức Chúa Trời đã ban cho Nô-ê các kích thước chính xác của con tàu và các chỉ dẫn rõ ràng liên quan đến việc thiết kế nó trong từng mỗi chi tiết. Sự thông minh của con người không thể nghĩ ra một cấu trúc có sức mạnh và độ bền chắc như vậy. Đức Chúa Trời là nhà thiết kế, và Nô-ê là viên kiến trúc tài ba.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 92.

Một lần nữa, sự song song giữa hai “hòm” tái khẳng định chức năng cứu chuộc chung của chúng. Do đó, sự vâng lời của Nô-ê được mô tả là một phần trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nô-ê được cứu đơn giản chỉ là vì ông có đức tin đó để làm theo những gì Đức Chúa Trời truyền cho ông (xin xem Hê-bơ-rơ 11:7). Ông là tấm gương ban đầu về đức tin thể hiện qua sự vâng lời, loại đức tin duy nhất đáng kể (Gia-cơ 2:20).

Nói tóm lại, mặc dù Nô-ê được xem là “được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng thế Ký 6:8), nhưng để đáp lại ân điển này, đã ban cho ông, Nô-ê đã hành động trung thành và vâng lời các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Đó chẳng phải là điều mà tất cả chúng ta cũng nên làm hay sao?

Đọc 2 Phi-e-rơ 2:5–9. Tại sao chỉ có gia đình Nô-ê được cứu? Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ câu chuyện về Nô-ê về vai trò của chúng ta trong việc cảnh báo thế giới về sự phán xét sắp đến?

Động từ ‘asah nghĩa là “làm”, chỉ về hành động của Nô-ê, cũng là một động từ chính trong bài tường thuật về sự Tạo Thế (Sáng thế Ký 1:7, 16, 25, 26, 31; Sáng thế Ký 2:2). Các hành động vâng lời Đức Chúa Trời của Nô-ê cũng giống như những hành động tạo dựng của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể rút ra từ mối liên kết này là Nước Lụt không chỉ là về việc Đức Chúa Trời trừng phạt loài người, mà còn về việc Đức Chúa Trời cứu chúng ta.

Đọc Sáng thế Ký 7. Tại sao sự mô tả về Nước Lụt gợi cho chúng ta nhớ đến câu chuyện Tạo Thế? Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ sự tương đồng giữa hai sự kiện?

Đọc kỹ các đoạn văn về Nước Lụt cho thấy việc sử dụng nhiều chữ và các thành ngữ tương tự như trong câu chuyện Tạo Thế: “bảy” (Sáng thế Ký 7:2, 3, 4, 10; so sánh với Sáng thế Ký 2:1–3); “nam và nữ” (Sáng thế Ký 7:2, 3, 9, 16; so sánh với Sáng thế Ký 1:27); “Tùy theo loại nó” (Sáng thế Ký 7:14; so sánh với Sáng thế Ký 1:11, 12, 21, 24, 25); “Thú vật”, “chim chóc”, “những loài bò sát” (xem Sáng thế Ký 7:8, 14, 21, 23; so sánh với Sáng thế Ký 1:24, 25); và “có sanh khí” (Sáng thế Ký 7:15, 22; so sánh với Sáng 2:7).

Như thế câu chuyện Nước Lụt, đọc phần nào giống như câu chuyện Tạo Thế. Câu chuyện Nước Lụt như những tiếng vang vọng của bài tường thuật về sự Tạo Thế, cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời tạo ra cũng giống như Đức Chúa Trời hủy diệt (Phục truyền Luật lệ Ký 32:39). Nhưng những tiếng vọng này cũng truyền đi một thông điệp của hy vọng:Nước Lụt được phát họa để trở thành một sự sáng tạo mới, ra khỏi nước, để đưa đến một sự hiện hữu mới.

Sự chuyển động của nước cho thấy sự kiện sáng tạo này trên thực tế, đảo ngược hành động của Sự Sáng Tạo trong Sáng thế Ký 1. Ngược lại với Sáng thế Ký 1, mô tả sự tách biệt của vùng nước bên trên với vùng nước bên dưới (Sáng thế Ký 1:7), Nước Lụt liên quan đến sự hiệp lại của hai vùng nước ấy khi chúng bùng nổ vượt ra ngoài ranh giới phân chia chúng (Sáng thế Ký 7:11).

Quá trình này truyền đi một thông điệp nghịch lý:Đức Chúa Trời phải phá hủy những gì có trước để cho phép tạo ra một sự sáng tạo mới sau đó. Việc tạo ra trái đất mới đòi hỏi phải phá hủy trái đất cũ. Sự kiện Đại hồng thủy báo trước về sự cứu rỗi trong tương lai của thế giới vào thời kỳ cuối cùng: “Đoạn, tôi thấy trời mới đất mới, vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất” (Khải huyền 21:1; so sánh với Ê-sai 65:17).

Điều gì trong chúng ta cần bị phá hủy để được tái tạo thành ra mới? (Xem Rô-ma 6:1–6.)

Sáng thế Ký 7:22–24 mô tả ảnh hưởng kinh khủng và bao quát của mọi nguồn nước, “Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt” (Sáng thế Ký 7:23) và “Nước dâng lên trên mặt đất trọn một trăm năm mươi ngày” (Sáng thế Ký 7:24). Giữa sự vô vọng của tàn phá và hủy diệt hoàn toàn này, “Đức Chúa Trời nhớ lại” (Sáng thế Ký 8:1). Câu này nằm ở trung tâm của các đoạn văn bản nói về Nước Lụt, là một dấu hiệu cho thấy ý tưởng này là thông điệp chính của câu chuyện Đại Hồng thủy.

Đọc Sáng thế Ký 8:1. Đức Chúa Trời “nhớ lại” Nô-ê, điều đó có nghĩa gì?

Động từ zakhar, “hãy nhớ,” có nghĩa là Đức Chúa Trời đã không quên; việc nhớ này không chỉ là một sự luyện tập trí nhớ. Theo lời của Kinh Thánh, “Đức Chúa Trời là Đấng tưởng nhớ” có nghĩa là sự thực hiện lời hứa của Ngài , và thường ám chỉ sự cứu rỗi (xem Sáng thế Ký 19:29). Trong bối cảnh của trận Đại hồng thủy, “Đức Chúa Trời nhớ” dẫn đến việc nước “dừng lại” (Sáng thế Ký 8:2) và Nô-ê sẽ sớm có thể rời khỏi tàu (Sáng thế Ký 8:16).

Mặc dù không có lệnh trực tiếp nào của Đức Chúa Trời bảo Nô-ê rời tàu, ông đã chủ động và thả một con quạ, sau đó là một con chim bồ câu, để xem xét tình hình. Cuối cùng, khi con chim bồ câu không trở lại, ông hiểu “Nô-ê bèn giở mui tàu mà nhìn; nầy, mặt đất đã se”(Sáng thế Ký 8:13).

Hành vi của Nô-ê là những bài học thực tế rất hữu ích. Một mặt, chúng dạy chúng ta phải tin cậy Đức Chúa Trời cho dù Ngài chưa trực tiếp phán bảo; mặt khác, đức tin không phủ nhận giá trị của sự suy nghĩ và thử nghiệm. Đức tin không loại trừ bổn phận phải suy nghĩ, tìm kiếm và xem những gì chúng ta đã học có đúng không.

Tuy nhiên, cuối cùng Nô-ê chỉ bước ra khỏi tàu khi Đức Chúa Trời bảo ông làm như vậy (Sáng thế Ký 8:15–19). Có nghĩa là, ngay cả khi biết rằng đã an toàn để rời đi, Nô-ê vẫn trông cậy vào Chúa và chờ tín hiệu của Chúa trước khi ra khỏi tàu. Ông ta kiên nhẫn chờ đợi trong tàu. “Như khi vào tàu, ông đã theo lệnh của Đức Chúa Trời, khi ra, ông cũng đợi những chỉ dẫn đặc biệt . . . Cuối cùng, một thiên sứ từ trời giáng xuống, mở cánh cửa lớn và ra lệnh cho người tộc trưởng và gia đình của ông ta đi ra mặt đất và mang theo mọi sinh vật.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 105.

Đọc Sáng thế Ký 8:1, Sáng thế Ký 19:29 và Thi thiên 106:4. Cụm từ “Đức Chúa Trời nhớ” có nghĩa là gì? Bây giờ, lẽ thật này có ý nghĩa gì đối với chúng ta — tức là, Đức Chúa Trời đã cho bạn thấy rằng Ngài “nhớ” bạn như thế nào?

Bây giờ là thời điểm giao ước đã hứa được hoàn thành. “Nhưng ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của ngươi, đều hãy vào tàu” (Sáng thế Ký 6:18). Trái với sự đe dọa hủy diệt của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 6:17), giao ước này là lời hứa về sự sống.

Đọc Sáng thế Ký 8:20. Nô-ê đã làm gì trước tiên khi ra khỏi tàu, và tại sao?

Giống như A-đam và Ê-va, những người chắc chắn đã thờ phượng Đức Chúa Trời vào ngày Sa-bát đầu tiên sau sáu ngày tạo thế, Nô-ê thờ phượng Đức Chúa Trời ngay sau trận Đại hồng thủy, một sự kiện sáng tạo khác trong chính nó. Tuy nhiên, có một sự khác biệt giữa hai hành vi thờ phượng. Không giống như A-đam và Ê-va, những người trực tiếp thờ phượng Chúa, Nô-ê phải dùng đến của lễ. Đây là lần đầu Kinh Thánh đề cập về bàn thờ. Của lễ là “của lễ thiêu” (‘olah), là của lễ hy sinh lâu đời nhất và thường xuyên nhất. Đối với Nô-ê, của lễ này là của lễ tạ ơn (so sánh với Dân số Ký 15:1–11), được đưa ra để bày tỏ lòng biết ơn của ông đối với Đấng Tạo Hóa, Đấng đã cứu ông.

Đọc Sáng thế Ký 9:2–4. Nước Lụt đã ảnh hưởng đến chế độ ăn uống của loài người như thế nào? Nguyên tắc nào của Đức Chúa Trời đằng sau những hạn chế trong sự ăn uống?

Do ảnh hưởng của trận lụt, các thức ăn từ cây cỏ không còn được cung cấp như trước nữa. Vì vậy, Chúa cho phép loài người ăn thịt. Sự thay đổi chế độ ăn uống này đã tạo ra một sự thay đổi trong mối quan hệ giữa con người và các loài thú, trái với những gì đã có giữa chúng trong quá trình Sáng Tạo ban đầu. Trong câu chuyện Sáng Tạo, con người và loài thú chia sẻ cùng một chế độ ăn cây cỏ và không đe dọa lẫn nhau. Trong thế giới sau Nước Lụt, việc giết động vật để làm thức ăn kéo theo mối quan hệ sợ hãi và khiếp sợ (Sáng thế Ký 9:2). Khi bắt đầu ăn thịt lẫn nhau, con người và loài thú chắc chắn đã phát triển một mối quan hệ hoàn toàn khác với những gì đôi bên đã từng vui hưởng trong Vườn Ê-đen.

Tuy nhiên, sự chịu đựng của Đức Chúa Trời có hai hạn chế. Thứ nhất, không phải tất cả các loài động vật đều thích hợp để làm thức ăn. Hạn chế thứ nhất được ngầm hiểu là sự phân biệt giữa động vật “thanh sạch và không thanh sạch”, vốn là một phần của trật tự Sáng Tạo (xem Sáng thế Ký 8:19, 20; so sánh với Sáng thế Ký 1:21, 24). Điều thứ hai, rõ ràng và mới mẻ, là kiêng ăn huyết, vì trong huyết là sự sống (Sáng thế Ký 9:4).

Đọc Sáng thế Ký 8:21–9:1. Lời cam kết của Đức Chúa Trời đối với việc bảo tồn sự sống có ý nghĩa gì? Làm thế nào mà ơn phước của Đức Chúa Trời đã thực hiện sự cam kết ấy?

Sự cam kết của Đức Chúa Trời để bảo toàn sự sống là một hành động của ân điển; nó không phải là kết quả của công lao con người. Đức Chúa Trời quyết định bảo tồn sự sống trên đất bất chấp sự xấu xa của loài người (Sáng thế Ký 8:21). Sáng thế Ký 8:22, theo nghĩa đen, “tất cả các ngày trên mặt đất”; nghĩa là, chừng nào trái đất này vẫn còn, thì các mùa sẽ đến và đi và sự sống sẽ được duy trì. Tóm lại, Đức Chúa Trời đã không từ bỏ sự sáng tạo của Ngài.

Trên thực tế, câu Kinh Thánh dưới đây, nói về ơn phước của Đức Chúa Trời, đưa chúng ta trở lại sự Sáng tạo ban đầu, với những ơn phước của nó (Sáng thế Ký 1:22, 28; Sáng thế Ký 2:3). Trong một nghĩa nào đó, Chúa đã cho nhân loại một cơ hội để bắt đầu lại, để làm lại từ đầu.

Đọc Sáng thế Ký 9:8–17. Ý nghĩa của chiếc mống trời là gì? “dấu chỉ sự giao ước” này (Sáng thế Ký 9:13) liên quan như thế nào với dấu hiệu khác của giao ước là Ngày Sa-bát?

Cụm từ “lập giao ước” được lặp lại ba lần (Sáng thế Ký 9:9, 11, 17), đánh dấu đỉnh điểm và sự hoàn thành lời hứa ban đầu của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 6:18). Tiếp theo phần trước, tương ứng với ngày thứ sáu của Sự Sáng Tạo, phần này tương ứng với phần bao gồm ngày thứ bảy của câu chuyện Sáng Tạo, là ngày Sa-bát. Trong đoạn văn này, sự lặp lại bảy lần của danh từ “giao ước” vang rền tương tự như Ngày Sa-bát. Giống như ngày Sa-bát, chiếc mống trời là dấu hiệu của giao ước (Sáng thế Ký 9:13, 14, 16; so sánh với Xuất Ê-díp-tô Ký 31:12–17). Hơn nữa, giống như ngày Sa-bát, chiếc mống trời có một phạm vi phổ quát; nó áp dụng cho toàn thế giới. Cũng như ngày Sa-bát, là dấu hiệu của Sự Sáng tạo, dành cho tất cả mọi người, ở mọi nơi, lời hứa rằng sẽ không có trận lụt nào trên toàn thế giới xảy đến cũng dành cho tất cả mọi người, ở mọi nơi.

Lần tới khi bạn nhìn thấy chiếc mống trời, hãy nghĩ về tất cả những lời Chúa hứa với chúng ta. Tại sao chúng ta có thể tin tưởng những lời hứa đó, và làm thế nào chiếc mống trời cho chúng ta thấy rằng chúng ta có thể tin tưởng các lời hứa ấy?

So sánh giữa tâm lý và hành vi của loài người và tình trạng của thế giới trước Nước Lụt với của con người trong thời đại của chúng ta, thật là một điều đáng học hỏi. Chắc chắn, sự gian ác của loài người không phải là một hiện tượng mới. Nhìn vào sự tương đồng giữa thời đại của họ và của chúng ta.

“Những tội đòi phải được báo thù của thế giới tiền hồng thủy vẫn còn có ngày nay. Lòng người đã xua đuổi sự kính sợ Đức Chúa Trời, họ thờ ơ và coi thường luật pháp Ngài. Lòng mê muội theo thế gian của thế hệ ngày nay chẳng thua gì với thế hệ thời ấy . . . Đức Chúa Trời không lên án con người thời tiền hồng thủy về việc ăn uống . . . Tội lỗi của họ là gồm cả việc nhận những điều quí giá Chúa ban mà không có lòng biết ơn đối với Đấng ban cho, và họ tự làm hèn hạ bản thân bằng sự mê say ăn uống không biết kiềm chế. Luật pháp cho họ được kết hôn. Đức Chúa Trời thiết lập hôn nhân và Ngài ra lệnh loài người lập gia đình; hôn nhân là một trong những cơ chế đầu tiên Chúa đã thiết lập. Ngài đưa ra những chỉ dẫn đặc biệt liên quan đến sắc lệnh này, và mặc cho nó sự thánh thiện và mỹ miều; nhưng những sự chỉ dẫn của Chúa đã bị lãng quên, và hôn nhân đã bị suy đồi và trở thành phương tiện phục vụ dục vọng. Tình trạng ấy cũng chẳng khác chi tình trạng ngày nay. Ấy là trong chính những điều vốn là hợp pháp đã bị lạm dụng . . . Lừa đảo, hối lộ và trộm cắp rình rập ở nơi cao và nơi thấp. Báo chí thì tràn đầy những tin giết người . . . Tinh thần vô chính phủ đang tràn ngập khắp các quốc gia, và những đợt bùng phát thỉnh thoảng lại kích thích sự kinh hoàng của thế giới chỉ là dấu hiệu cho thấy ngọn lửa đam mê và sự vô luật pháp bị dồn nén mà một khi đã không còn kiểm soát được sẽ khiến trái đất đầy khốn khổ và hủy phá. Bức tranh mà Sự Mặc khải đã cho thấy về thế giới thời tiền hồng thủy thể hiện quá giống với tình trạng mà xã hội hiện đại đang nhanh chóng đi đến. Ngay cả bây giờ, trong thế kỷ hiện tại, và ở những vùng đất được xưng tụng là của Cơ Đốc giáo, vẫn có những tội ác gây ra hàng ngày thật tối tăm và khủng khiếp chẳng khác gì những tội ác đã mang lại sự tiêu diệt cho thế giới thời xưa.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 101, 102.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Những điểm tương đồng nào của xã hội trước Nước Lụt và xã hội của chúng ta ngày nay? Những đặc điểm chung này dạy chúng ta điều gì về ân điển của Đức Chúa Trời mà bất chấp tất cả những điều này, Ngài vẫn yêu thế giới và vẫn đang tìm cách cứu những ai Ngài có thể?
  2. Một số người cho rằng trận lụt của Nô-ê chỉ là một sự kiện địa phương. Ý tưởng ấy có gì sai? Nếu điều này là đúng, tại sao mọi trận lũ lụt ở tầng lớp địa phương (và mọi cái mống trời) lại khiến Chúa trở thành kẻ nói dối?
Bài Học 3, 9 — 15 Tháng 4, 2022

DI SẢN CỦA CUỘC ĐỜI CA-IN

CÂU GỐC: “Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó” (Sáng thế Ký 4:7).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 4, Hê-bơ-rơ 11:4, Mi-chê 6:7, Ê-sai 1:11, 1 Cô-rinh-tô 10:13, 1 Giăng 3:12, Sáng thế Ký 5, Sáng thế Ký 6:1–5.

Trong Sáng thế Ký, những gì xảy ra liền sau Sự Sa Ngã, và việc A-đam và Ê-va bị đuổi khỏi Vườn Ê-đen, chính là lời tường thuật về các sự ra đời và sự chết, tất cả đều ứng nghiệm những lời tiên tri của Đức Chúa Trời trong đoạn trước. Sáng thế Ký đoạn 3 và 4 như đi đôi với nhau, cả hai đoạn có cùng nhiều chủ đề và các từ ngữ chung: mô tả tội lỗi (Sáng thế Ký 3:6–8; so sánh với Sáng thế Ký 4:8), những sự rủa sả của ‘adamah’ hay là “đất” (Sáng thế Ký 3:17; so sánh với Sáng thế Ký 4:11), và sự bị đuổi đi (Sáng thế Ký 3:24; so sánh với Sáng thế Ký 4:12, 16).

Lý do cho những điểm tương đồng này là để làm nổi bật sự ứng nghiệm của những gì đã xảy ra trước đó, những lời tiên tri và tiên đoán mà Đức Chúa Trời đã nói cùng A-đam và Ê-va sau Sự Sa Ngã. Sự kiện đầu tiên sau khi A-đam bị trục xuất là một điều tràn đầy hy vọng; đó là sự ra đời của đứa con trai đầu lòng, một sự kiện mà Ê-va xem là sự thực hiện lời hứa mà bà đã nghe trong lời tiên tri về Đấng Mê-si (Sáng thế Ký 3:15). Ấy là, bà nghĩ rằng đứa con ấy có thể là Đấng Mê-si đã hứa.

Các sự kiện tiếp theo sau: tội ác của Ca-in, tội ác của La-mé, tuổi thọ giảm và sự gian ác ngày càng tăng đều là những điều thực thi của lời rủa sả thốt ra trong Sáng thế Ký 3.

Tuy vậy, dầu với những điều ấy, tất cả hy vọng vẫn không phai tàn.

Đọc Sáng thế Ký 4:1, 2. Chúng ta học được gì từ các câu này về sự ra đời của hai đứa bé trai này?

Sự kiện đầu tiên được tác giả Kinh Thánh ghi lại ngay sau khi A-đam bị trục xuất khỏi Vườn Ê-đen là một sự ra đời. Trong cụm từ tiếng Hê-bơ-rơ ở Sáng thế Ký 4:1, các từ ngữ “Giê-hô-va” (YHWH) được liên kết trực tiếp với chữ “một người”, như bản dịch theo nghĩa đen sau đây cho thấy: “Tôi đã có được một người, quả thật là từ CHÚA.” Phiên bản Tiêu chuẩn Quốc tế ISV dịch là: “Tôi đã sinh được một đứa bé trai – CHÚA.”

Bản dịch theo nghĩa đen này gợi ý rằng Ê-va nhớ lại lời tiên tri về Đấng Mê-si trong Sáng thế Ký 3:15 và tin rằng bà đã sinh ra Đấng Cứu Rỗi của bà là CHÚA. “Sự ra đời của Đấng Cứu Thế đã được báo trước ở vườn Ê-đen. Khi A-đam và Ê-va lần đầu tiên nghe lời hứa ấy, họ trông chờ sự thực hiện nhanh chóng của nó. Họ vui mừng chào đón đứa con trai đầu lòng, hy vọng rằng nó có thể là Đấng Giải Phóng.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 31.

Thật vậy, Ca-in chiếm phần lớn nội dung câu chuyện. Chàng ta không chỉ là con đầu lòng, mà còn là một đứa con trai mà các bậc cha mẹ gần như “tôn thờ”; trong đoạn 4, trong hai anh em, chàng là kẻ duy nhất thốt lên tiếng nói. Trong khi Ê-va vui mừng nói lên lòng mừng rỡ về sự ra đời của Ca-in, bà không nói gì về sự ra đời của A-bên, ít nhất là không có gì được ghi lại trong đoạn Kinh Thánh, trái với sự ra đời của Ca-in. Người kể chuyện chỉ đơn giản tường thuật rằng Ê-va “lại sanh” (Sáng thế Ký 4:2).

Cái tên Ca-in có nguồn gốc từ động từ qanah trong tiếng Do Thái, có nghĩa là “có được” và biểu thị sự mua lại, sở hữu một thứ gì đó quý giá và quyền năng. Mặt khác, tên tiếng Do Thái Hebel, trong tiếng Anh là Abel, có nghĩa là “hơi” (Thi thiên 62:9), hoặc “hơi thở” (Thi thiên 144:4) và biểu thị sự khó nắm bắt, trống rỗng, thiếu thể chất; cùng một chữ, hebel (Abel), được lặp đi lặp lại trong Truyền đạo cho “hư không” (hay “phù phiếm”). Tuy chúng ta không muốn suy diễn nhiều hơn những đoạn văn ngắn này, nhưng có lẽ ý tưởng là niềm hy vọng của A-đam và Ê-va đã đặt nơi Ca-in, họ tin rằng, chỉ Ca-in, chứ không phải em người, là Đấng Mê-si đã hứa.

Có những điều trong cuộc sống thật chính là “hebel”, là như hơi nước bay qua mà chúng ta lại coi chúng như thể chúng rất quan trọng trong đời mình? Tại sao rất quan yếu là chúng ta phải biết sự khác biệt giữa những gì quan trọng và những gì không?

Sự tương phản giữa Ca-in và A-bên, như được phản ảnh trong tên của họ, không chỉ qua cá tính của họ; mà nó cũng được thể hiện trong nghề nghiệp họ chọn. Trong khi Ca-in làm nghề nông “làm ruộng” (Sáng thế Ký 4:2), một nghề đòi hỏi sự chuyên cần về thể chất, thì A-bên là “chăn chiên” (Sáng thế Ký 4:2), một nghề ngụ ý tấm lòng nhạy cảm và thương xót.

Ca-in là người làm việc sinh ra hoa quả của đất. A-bên là người chăm nuôi những con cừu. Hai nghề này không chỉ giải thích bản chất của hai lễ vật (hoa quả của đất từ Ca-in và một con chiên từ A-bên) — chúng còn giải thích cho hai thái độ tâm lý và tinh thần khác nhau liên quan đến hai lễ vật: Ca-in làm việc để “có được” hoa quả mà chàng sẽ hái từ đất ruộng mình, trong khi A-bên thì cẩn thận “giữ gìn” bầy chiên mà chàng đã nhận được.

Đọc Sáng thế Ký 4:1–5 và Hê-bơ-rơ 11:4. Tại sao Đức Chúa Trời chấp nhận lễ vật của A-bên và từ chối lễ vật của Ca-in? Làm thế nào để chúng ta hiểu những gì đã xảy ra ở đây?

“Không có sự đổ huyết thì không thể có sự thuyên giảm tội lỗi; và họ [Ca-in và A-bên] phải bày tỏ đức tin của mình nơi dòng huyết của Đấng Christ như đấy là lễ vật chuộc tội đã hứa bằng cách dâng những con đầu lòng của bầy làm của lễ hy sinh. Ngoài ra, những hoa quả đầu mùa phải được dâng lên trước mặt Chúa như một của lễ tạ ơn.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 71.

Trong khi A-bên tuân theo chỉ dẫn của Đức Chúa Trời và dâng các lễ vật ngoài của lễ thiêu súc vật, thì Ca-in lại không làm việc ấy. Chàng ta không mang một con vật đi hiến tế, mà chỉ mang một lễ vật là “hoa quả của đất”. Đó là một hành động không vâng lời công khai, trái với thái độ của em trai mình. Câu chuyện này thường được xem như một trường hợp cổ điển về sự cứu rỗi bằng đức tin (A-bên và việc đổ huyết con sinh tế) trái ngược với nỗ lực tìm kiếm sự cứu rỗi bằng việc làm (Ca-in và hoa quả của sự lao động của anh ta trên mặt đất).

Tuy dầu các lễ vật này hẳn có ý nghĩa tâm linh, nhưng tự chúng không có bất kỳ giá trị ảo thuật nào. Chúng luôn luôn chỉ đơn giản là những biểu tượng, hình ảnh, chỉ về Đức Chúa Trời, Đấng đã ban cho mọi tội nhân không chỉ sự sống mà còn cả sự cứu chuộc.

Đọc Mi-chê 6:7 và Ê-sai 1:11. Làm thế nào chúng ta có thể lấy nguyên tắc được áp dụng trong các câu này và áp dụng nó vào cuộc sống và sự thờ phượng của chúng ta?

Đọc Sáng thế Ký 4:3–8. Tiến trình đưa đến việc Ca-in hạ sát em mình là như thế nào? Cũng xem 1 Giăng 3:12.

Ca-in có hai phản ứng: “Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt” (Sáng thế Ký 4:5). Sự tức giận của Ca-in hướng đến cả Đức Chúa Trời và A-bên. Ca-in giận Chúa vì cho rằng mình là nạn nhân của sự bất công và giận A-bên vì ghen tị với em mình. Ghen tị vì điều gì? Chỉ là vì của lễ chăng? Chắc chắn, nhiều điều đã xảy ra bên trong hậu trường hơn chỉ là những gì được tiết lộ trong vài câu này. Nhưng dù là vấn đề gì đi nữa, Ca-in vẫn chán nản vì của lễ của mình đã không được tiếp nhận.

Hai câu hỏi của Đức Chúa Trời trong Sáng thế Ký 4:6 có liên quan đến hai tình trạng của Ca-in. Chúng ta phải lưu ý rằng Đức Chúa Trời không buộc tội Ca-in. Như với A-đam, Đức Chúa Trời đặt câu hỏi, không phải vì Ngài không biết câu trả lời, mà vì Ngài muốn Ca-in tự xét lại chính mình và vì đó mà hiểu lý do cho tình trạng của chính mình. Như mọi khi, Chúa tìm cách cứu chuộc những người sa ngã của Ngài, ngay cả khi họ công khai không làm vui lòng Ngài. Sau đó, sau khi hỏi những câu hỏi này, Đức Chúa Trời khuyên Ca-in.

Đầu tiên, Đức Chúa Trời thúc giục Ca-in “làm lành”, cư xử phải lẽ. Đó là lời kêu gọi ăn năn và thay đổi thái độ của mình. Đức Chúa Trời hứa với Ca-in rằng anh ta sẽ được “chấp nhận” và được tha thứ. Theo một nghĩa nào đó, Ngài đang nói rằng Ca-in có thể có được sự chấp nhận với Đức Chúa Trời, nhưng điều đó phải được thực hiện theo điều kiện của Đức Chúa Trời, không phải của Ca-in.

Mặt khác, “Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó” (Sáng thế Ký 4:7). Lời khuyên của Đức Chúa Trời đã tiết lộ cội rễ của tội lỗi, và nó được tìm thấy trong chính Ca-in. Ở đây, một lần nữa, Đức Chúa Trời đang tư vấn cho Ca-in, tìm cách hướng dẫn chàng con đường chàng ta nên đi.

Lời khuyên thứ hai của Đức Chúa Trời liên quan đến thái độ đối với tội lỗi này, tội lỗi nằm ở cửa và nó rất “thèm ngươi lắm”. Đức Chúa Trời khuyên Ca-in phải nên tự kiểm soát mình “ngươi phải quản trị nó.” Nguyên tắc tương tự cũng được Gia-cơ dạy, khi ông giải thích rằng “mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình” (Gia-cơ 1:14). Phúc âm cho chúng ta lời hứa không chỉ về sự tha thứ tội lỗi mà còn chiến thắng nó nữa (xin xem 1 Cô-rinh-tô 10:13). Cuối cùng, Ca-in không có ai đặng đổ lỗi về tội lỗi của mình ngoài chính mình. Có phải tất cả chúng ta đều như vậy không?

Câu chuyện đáng tiếc này dạy chúng ta điều gì về ý chí tự do và về cách Đức Chúa Trời không buộc chúng ta phải tuân theo?

Đọc Sáng thế Ký 4:9–16. Tại sao Chúa hỏi câu hỏi “A-bên, em ngươi, ở đâu?” Tội lỗi của Ca-in liên hệ thế nào với việc chàng ta trở thành “lưu lạc và trốn tránh trên mặt đất” (Sáng thế Ký 4:12)?

Câu hỏi của Đức Chúa Trời đối với Ca-in lặp lại câu hỏi của Ngài với A-đam trong vườn Ê-đen: “Ngươi ở đâu?” Câu hỏi này gợi ý mối liên hệ giữa tội lỗi trong vườn Ê-đen và tội lỗi bây giờ: tội lỗi sau (của Ca-in) là kết quả của tội trước (của A-đam).

Tuy nhiên, Ca-in sẽ không thừa nhận tội lỗi của mình; chàng ta phủ nhận điều đó, điều mà A-đam đã không làm, tuy A-đam có cố gắng đổ lỗi cho người khác. Ngược lại, Ca-in công khai thách thức Chúa khi Ngài không chần chờ việc đối mặt Ca-in về tội ác của chàng. Khi Đức Chúa Trời hỏi câu hỏi thứ ba, “Ngươi đã làm điều chi vậy?” Ngài thậm chí không đợi câu trả lời. Ngài nhắc Ca-in rằng Ngài biết tất cả mọi việc, vì “tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta” (Sáng thế Ký 4:10), một hình ảnh biểu thị rằng Đức Chúa Trời biết về vụ giết người và liền có thái độ về điều ấy. A-bên ở trong lòng đất, một liên kết trực tiếp trở lại Sự Sa Ngã và những gì Chúa đã phán sẽ xảy ra với A-đam (xem Sáng thế Ký 3:19).

Đọc Sáng thế Ký 4:14. Ý nghĩa của những lời của Ca-in rằng “Tôi sẽ lánh mặt Chúa” là gì?

Chính vì máu của A-bên đã đổ trên mặt đất nên mặt đất giờ đây đã bị nguyền rủa một lần nữa (Sáng thế Ký 4:12). Kết quả là Ca-in sau đó bị kết án trở thành người tị nạn, đi xa Chúa. Chỉ khi Ca-in nghe bản án từ Đức Chúa Trời, anh ta mới thừa nhận tầm quan trọng của sự hiện diện của Đức Chúa Trời; vì không có nó, anh ta lo sợ cho sự sống của chính mình. Ngay cả sau khi Ca-in hạ sát em trai mình không thương xót và sự lì lợm thách thức của chàng khi phải đối diện với hành động ấy, Chúa vẫn bày tỏ lòng thương xót đối với chàng, và cho dầu “Ca-in bèn lui ra khỏi mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng thế Ký 4:16), Ngài vẫn cung cấp cho chàng ta một vài sự bảo vệ. Dấu gì mà Chúa đã ghi trên Ca-in (Sáng thế Ký 4:15), chúng ta chưa được cho biết, nhưng dù đó là gì, nó đến chỉ do nơi ân điển của Đức Chúa Trời dành cho Ca-in.

“Lánh mặt Chúa” (Sáng thế Ký 4:14) — điều gì bị che khuất khỏi mặt của Đức Chúa Trời? Thật là một hoàn cảnh bi đát cho bất cứ ai. Cách duy nhất nào mà chúng ta, là những con người tội lỗi, có thể tránh được tình trạng đó?

Đọc Sáng thế Ký 4:17–24. Di sản của Ca-in là gì, và tội ác của Ca-in đã mở đường cho sự gian ác ngày càng tăng của loài người như thế nào?

Chắt chắt của Ca-in, Lê-méc, nhắc đến tội ác của Ca-in trong bối cảnh của chính anh ta. Sự so sánh này giữa tội ác của Ca-in và tội ác của Lê-méc là một bài học. Trong khi Ca-in ngậm thinh về tội ác duy nhất có ghi lại của mình, Lê-méc dường như đang khoe khoang về các tội ác mình, và còn đặt một bài ca để nói về chúng (Sáng thế Ký 4:23, 24). Trong khi Ca-in cầu xin lòng thương xót của Chúa, Lê-méc không tỏ ra là anh ta đang cầu xin điều đó. Trong khi Ca-in được Đức Chúa Trời báo thù bảy lần, Lê-méc tin rằng anh ta sẽ được báo thù bảy mươi bảy lần (xem Sáng thế Ký 4:24), một gợi ý rằng anh ta rất ý thức về tội lỗi của mình.

Ngoài ra, Ca-in sống một vợ một chồng (Sáng thế Ký 4:17); Lê-méc giới thiệu chế độ đa thê, vì Kinh Thánh nói rõ ràng rằng “Lê-méc cưới hai vợ” (Sáng thế Ký 4:19). Sự gia tăng và đề cao tội ác này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các thế hệ tiếp theo của dòng dõi Ca-in.

Tiếp theo ngay sau các tình tiết xấu xa này trong gia đình Ca-in, Kinh Thánh ghi lại một sự kiện mới chống lại ảnh hưởng sự ác của dòng dõi Ca-in: “A-đam còn ăn ở với vợ mình” (Sáng thế Ký 4:25), và kết quả là sự ra đời của Sết, tên được đặt bởi Ê-va để chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đã đặt “một dòng dõi khác” thay thế cho A-bên.

Trên thực tế, lịch sử của cái tên Sết có trước A-bên. Tên Sết có nguồn gốc từ động từ “ashit” trong tiếng Do Thái, “Ta sẽ đặt” (Sáng thế Ký 3:15), giới thiệu lời tiên tri về Đấng Mê-si. Hạt giống Đấng Mê-si sẽ được truyền cho dòng dõi của Sết. Do đó, các chương Kinh Thánh đưa ra ghi chép về dòng Mê-si bắt đầu với Sết (Sáng thế Ký 5:3), và trong đó có Hê-nóc (Sáng thế Ký 5:21), Mê-tu-sê-la, và kết thúc với Nô-ê (Sáng thế Ký 6:8).

Cụm từ “các con trai của Đức Chúa Trời” (Sáng thế Ký 6:2) dùng để chỉ dòng dõi của Sết vì họ đã được sinh ra với dụng ý để lưu giữ hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 5:1, 4). Mặt khác, “con gái loài người” (Sáng thế Ký 6:2) dường như có hàm ý tiêu cực, tương phản con cái của những người theo hình ảnh của Đức Chúa Trời với con của những người theo hình ảnh của loài người. Và chính dưới ảnh hưởng của những “con gái loài người” này mà các con trai của Đức Chúa Trời “cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ” (Sáng thế Ký 6:2), cho thấy con người đang đi sai hướng.

Đọc Sáng thế Ký 6:1–5. Thật là một bằng chứng hùng hồn về sự băng hoại mà tội lỗi mang đến! Tại sao chúng ta phải làm tất cả những gì có thể trong quyền năng của Đức Chúa Trời để hủy phá tội lỗi khỏi cuộc sống của chúng ta?

Cụm từ được lặp đi lặp lại “Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời” (Sáng thế Ký 5:22, 24) có nghĩa là bạn đồng hành thân mật và hàng ngày với Đức Chúa Trời. Mối quan hệ cá nhân của Hê-nóc với Đức Chúa Trời đặc biệt đến mức “Đức Chúa Trời tiếp người đi” (Sáng thế Ký 5:24). Tuy nhiên, các chữ này, tuy là duy nhất trong gia phả dòng dõi của A-đam, không ủng hộ ý tưởng về một Địa đàng ở thế giới bên kia liền tức thì cho những ai “đồng đi cùng Đức Chúa Trời”. Xin lưu ý rằng Nô-ê cũng đồng đi với Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 6:9), và ông qua đời như tất cả những người khác, kể cả A-đam và Mê-tu-sê-la. Cũng đáng chú ý nữa là không có lý do nào được nhắc đến để biện minh cho ân huệ đặc biệt này. “Hê-nóc trở thành người rao giảng về sự công bình, cho người ta biết những gì Đức Chúa Trời đã tỏ bày cho ông. Những người kính sợ Chúa đã tìm đến con người thánh thiện này, để được ông chia sẻ sự hướng dẫn và lời cầu nguyện. Ông cũng làm việc công khai hầu mang sứ mạng của Đức Chúa Trời cho tất cả những ai sẽ nghe những lời khuyên bảo. Sự làm việc của ông không chỉ giới hạn với dòng dõi của Sết. Trong vùng đất mà Ca-in đã tìm cách chạy đến để trốn khỏi Đấng Thiên Thượng, nhà tiên tri này của Đức Chúa Trời đã rao báo về những cảnh tượng tuyệt vời mà ông đã được khải thị. “Nầy, Chúa ngự đến với muôn vàn thánh, đặng phán xét mọi người, đặng trách hết thảy những người không tin kính về mọi việc không tin kính họ đã phạm, cùng mọi lời sỉ hổ mà những kẻ có tội không tin kính đó đã nói nghịch cùng Ngài.” (Giu-đe 14, 15) — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 86.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Tại sao Ca-in giết em mình? Hãy đọc lời bình luận sau đây của Elie Wiesel: “Tại sao chàng lại làm điều ấy? Có lẽ chàng muốn luôn một mình: một đứa con độc sinh, và, một khi cha mẹ mình qua đời, sẽ là người nam duy nhất. Một mình như Đức Chúa Trời và có lẽ một mình trong vai trò của Đức Chúa Trời . . . Ca-in giết để trở thành Đức Chúa Trời . . . Bất kỳ người nào tự đặt mình thành Đức Chúa Trời đều cuối cùng thành kẻ hạ sát con người.” — Elie Wiese, Messengers of God: Biblical Portraits and Legends (New York: Random House, 1976), trang 58. Làm thế nào chúng ta có thể cẩn thận để mình, tuy dầu chúng ta không phạm tội giết người, không phản ánh thái độ của Ca-in?
  2. So sánh tuổi thọ của những người đi trước (Sáng thế Ký 5) với tuổi thọ của các tộc trưởng. Chúng ta giải thích thế nào về việc giảm tuổi thọ của con người? Làm thế nào mà sự thoái hóa này lại chống lại các tiền đề của học thuyết Darwin hiện đại?
Bài Học 2, 2 — 8 Tháng 4, 2022

SỰ SA NGÃ

CÂU GỐC: “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế Ký 3:15).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 3; 2 Cô-rinh-tô 11:3; Khải huyền 12:7–9; Giăng 8:44; Rô-ma 16:20; Hê-bơ-rơ 2:14; 1 Ti-mô-thê 2:14, 15.

Giữa tất cả những gì Đức Chúa Trời đã ban cho tổ phụ đầu tiên của chúng ta trong vườn Ê-đen cũng có một lời cảnh báo: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết”(Sáng thế Ký 2:16, 17). Lời cảnh báo chống lại việc ăn cây biết điều thiện và điều ác này cho chúng ta thấy rằng, mặc dù họ biết điều thiện, họ không nên biết điều ác.

Chúng ta chắc chắn có thể hiểu được vì sao, phải không?

Và nữa, mối đe dọa về cái chết kèm theo lời cảnh báo về sự không vâng lời (Sáng thế Ký 2:17) sẽ được ứng nghiệm:họ sẽ chết (Sáng thế Ký 3:19). Không chỉ bị cấm ăn cây, họ còn bị đuổi khỏi Vườn Ê-đen (Sáng thế Ký 3:24), để họ không được đến gần với những gì có thể mang lại cho họ sự sống đời đời trong sự sống của những con người tội lỗi (Sáng thế Ký 3:22).

Tuy nhiên, giữa thảm kịch này xuất hiện niềm hy vọng, được tìm thấy trong Sáng thế Ký 3:15, được gọi là “lời hứa phúc âm đầu tiên”. Đúng vậy, câu này trình bày lời hứa phúc âm đầu tiên được tìm thấy trong Kinh Thánh, lần đầu tiên loài người được biết rằng, bất chấp sự Sa ngã, Đức Chúa Trời vẫn tạo một lối thoát cho hết thảy chúng ta.

Đọc Sáng thế Ký 3:1, 2 Cô-rinh-tô 11:3 và Khải huyền 12:7–9. Con rắn là ai, và nó đã lừa Ê-va như thế nào?

Đoạn Kinh Thánh này bắt đầu bằng “con rắn.” Cú pháp của cụm từ cho thấy sự nhấn mạnh danh từ “con rắn” là chủ từ của câu. Ngoài ra, “con rắn” có mạo từ xác định, chỉ ra rằng đây là một nhân vật nổi tiếng, như thể người đọc đã biết nó là ai rồi. Do đó, sự hiện hữu của sinh vật này đã được khẳng định ngay từ chữ đầu tiên của đoạn này.

Dĩ nhiên, Kinh Thánh xác định con rắn là kẻ thù của Đức Chúa Trời (Ê-sai 27:1) và rõ ràng gọi nó là “Ma quỷ và Sa-tan” (Khải huyền 12:9). Tương tự như vậy, trong văn hóa Cận Đông thời cổ đại, con rắn thường được nhân cách hóa là sức mạnh của cái ác.

“Để hoàn thành công việc của mình mà không ai nhận ra, Sa-tan đã chọn sử dụng con rắn làm phương tiện truyền thông của mình — một cách ngụy trang rất thích hợp cho mục đích lừa dối của hắn. Rắn khi đó là một trong những sinh vật khôn ngoan và đẹp nhất trên trái đất. Nó có đôi cánh, và khi bay trong không khí, nó có vẻ ngoài sáng chói, có màu sắc và ánh sáng rực rỡ của vàng đã được nung.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 53.

Khi nói về ma quỷ, dù hắn xuất hiện dưới hình thức nào, Kinh Thánh không chỉ nói về một hình ảnh ẩn dụ. Trong Kinh Thánh, Sa-tan được mô tả như một thực thể hiển hiện chứ không chỉ là một biểu tượng khoa trương hay một nguyên tắc trừu tượng nào để mô tả cái ác hoặc cái phần đen tối của nhân loại.

Con rắn không tự cho mình là kẻ thù của Đức Chúa Trời. Ngược lại, nó dùng lời của Đức Chúa Trời, mà nó lặp lại và có vẻ ủng hộ. Có nghĩa là, ngay từ đầu, chúng ta có thể thấy rằng Sa-tan thích trích dẫn Đức Chúa Trời và về sau chúng ta sẽ thấy, thậm chí trích dẫn chính Lời Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 4:6).

Cũng lưu ý rằng con rắn không tranh luận ngay lập tức với người phụ nữ, nhưng nó hỏi một câu hỏi ngụ ý rằng nó tin vào những gì Chúa đã nói với họ. Sau cùng, nó hỏi: “Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn . . .” (Sáng thế Ký 3:1)? Vì vậy, ngay từ đầu, chúng ta có thể thấy cái sinh vật này xảo quyệt và gian dối đến mức nào. Và, như chúng ta sẽ thấy, phương cách nó dùng rất hiệu nghiệm.

Nếu Sa-tan có thể lừa được một Ê-va vô tội trong vườn Ê-đen, thì chúng ta còn dễ bị lừa dối đến là bao? Cách hay nhất để chống trả mà chúng ta có thể làm để bảo vệ mình trước sự lừa dối của ma quỉ là gì?

Đọc Sáng thế Ký 2:16, 17 và Sáng thế Ký 3:1–6 (xem thêm Giăng 8:44). So sánh lời răn dặn của Đức Chúa Trời cho A-đam với lời của con rắn nói với người nữ. Có sự khác biệt nào giữa các lời này là gì, và ý nghĩa của các sự khác biệt này là gì?

Lưu ý những điểm tương đồng giữa cuộc trò chuyện của Đức Chúa Trời với A-đam (Sáng thế Ký 2:16, 17) và cuộc trò chuyện của Ê-va với con rắn. Như thể con rắn giờ đây đã thay thế Đức Chúa Trời và còn biết rõ hơn Ngài. Lúc đầu, nó chỉ hỏi một câu, như có ý rằng người nữ, có lẽ, đã hiểu lầm Chúa. Nhưng sau đó Sa-tan công khai chất vấn ý định của Đức Chúa Trời và thậm chí còn mâu thuẫn với Ngài.

Sự tấn công của Sa-tan liên quan đến hai vấn đề, sự chết và sự hiểu biết về điều thiện và điều ác. Trong khi Đức Chúa Trời tuyên bố rõ ràng và dứt khoát rằng sự chết của họ là chắc chắn (Sáng thế Ký 2:17), thì ngược lại, Sa-tan nói rằng họ sẽ không chết, tất cả chỉ ngụ ý rằng con người là bất tử (Sáng thế Ký 3:4). Trong khi Đức Chúa Trời cấm A-đam ăn trái cây (Sáng thế Ký 2:17), thì Sa-tan khuyến khích họ ăn trái cây vì khi ăn trái đó họ sẽ giống như Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 3:5).

Hai lý lẽ của Sa-tan, sự bất tử và giống như Đức Chúa Trời, đã thuyết phục Ê-va ăn trái cây. Điều đáng lo ngại là ngay sau khi người nữ quyết định không vâng lời Chúa và ăn trái cấm, nàng đã cư xử như thể Chúa không còn hiện diện và đã được thay thế bằng chính mình nàng. Bản văn Kinh Thánh ám chỉ đến sự chuyển đổi cá tính qua nhân vật chính này. Ê-va sử dụng ngôn ngữ của Đức Chúa Trời: sự Ê-va đánh giá trái cấm, “Người nữ thấy trái của cây đó . . . đẹp mắt và quí” (Sáng thế Ký 3:6), nhắc nhở về sự đánh giá của Đức Chúa Trời về sự sáng tạo của Ngài, “thấy điều đó là tốt lành” (Sáng thế Ký 1:4, v.v.).

Hai cám dỗ này, đó là bất tử và giống như Chúa, là gốc rễ của ý tưởng về sự bất tử trong các tôn giáo Ai Cập và Hy Lạp cổ đại. Mong muốn bất tử, mà họ tin là một thuộc tính thần thánh, buộc những người này cũng phải tìm kiếm địa vị thần thánh, để (họ hy vọng) có được sự bất tử. Một cách siêu thực, lối suy nghĩ này đã thâm nhập vào các nền văn hóa Do Thái – Cơ đốc giáo và đã sinh ra niềm tin vào sự bất tử của linh hồn, tồn tại đến tận ngày nay trong nhiều hội thánh.

Hãy nghĩ về tất cả những niềm tin ngoài đời ngày nay dạy rằng có điều gì đó vốn có bất tử trong tất cả chúng ta. Làm thế nào sự hiểu biết của chúng ta về bản chất con người và tình trạng của người chết giúp chúng ta có sự bảo vệ mạnh mẽ chống lại sự lừa dối nguy hiểm này?

Đọc Sáng thế Ký 3:7–13. Tại sao A-đam và Ê-va cảm thấy cần phải trốn khỏi mặt Đức Chúa Trời? Tại sao Chúa hỏi câu hỏi “Ngươi ở đâu?” A-đam và Ê-va đã tìm cách biện minh cho hành vi của mình như thế nào?

Sau khi phạm tội, A-đam và Ê-va cảm thấy trần truồng vì họ đánh mất sự vinh hiển đã che phủ họ, là sự vinh hiển phản ánh sự hiện diện của Đức Chúa Trời (xem Thi thiên 8:5, so sánh với Thi thiên 104:1, 2). Hình ảnh của Đức Chúa Trời đã bị tội lỗi ảnh hưởng tới. Động từ “đóng – làm” trong cụm từ mà họ “lấy lá cây vả đóng khố che thân” (Sáng thế Ký 3:7) cho đến thời điểm này chỉ được áp dụng cho Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, Đấng “làm nên” (Sáng thế Ký 1:7, 16, 25, v.v.). Giống như thể họ thay thế Đấng Tạo Hóa khi họ cố gắng che đậy tội lỗi của mình, một hành động mà Phao-lô cáo buộc là tìm công bình bằng việc làm (Ga-la-ti 2:16).

Khi Đức Chúa Trời đến gần, Ngài đã hỏi họ “Ngươi ở đâu?” (Sáng thế Ký 3:9), cùng một loại câu hỏi mà Ngài sẽ hỏi Ca-in (Sáng thế Ký 4:9). Tất nhiên, Chúa biết câu trả lời cho các câu hỏi này. Những câu hỏi của Ngài được đặt ra là vì lợi ích của những người có tội, để giúp họ nhận ra những gì họ đã làm, và để đồng thời, đưa họ đến sự ăn năn và sự cứu rỗi. Kể từ thời điểm nhân loại phạm tội, Đức Chúa Trời đã làm để thực hiện sự cứu rỗi và sự cứu chuộc cho họ.

Thật sự, toàn câu chuyện của sự Sa Ngã phản ánh ý tưởng của cuộc phán xét điều tra, bắt đầu bằng việc quan tòa thẩm vấn thủ phạm (Sáng thế Ký 3:9) để chuẩn bị cho việc kết án (Sáng thế Ký 3:14–19). Nhưng Đức Chúa Trời làm điều ấy cũng để thúc giục sự ăn năn, là điều cuối cùng sẽ dẫn đến sự cứu rỗi (Sáng thế Ký 3:15). Đây là một kiểu mẫu mà chúng ta thấy trong toàn Kinh Thánh.

Mới đầu, như thói thường của các tội nhân, cả A-đam và Ê-va đều cố gắng trốn tránh lời buộc tội, tìm cách đổ lỗi cho người khác. Trả lời câu hỏi của Đức Chúa Trời, A-đam nói rằng tại người nữ mà Đức Chúa Trời đã ban cho mình (Sáng thế Ký 3:12) — chính nàng đã dẫn anh ta làm điều đó. Đó là lỗi của cô ấy (và, ngụ ý, đó cũng là tại Chúa), chứ không phải của chính anh ta.

Ê-va trả lời rằng chính con rắn đã dỗ dành (lừa dối) cô. Động từ Hê-bơ-rơ nasha’, “dỗ dành / lừa dối” (trong Sáng thế Ký 3:13), có nghĩa là mang đến cho người ta những hy vọng hão huyền và khiến họ tin rằng họ đang làm điều đúng đắn (2 Các Vua 19:10, Ê-sai 37:10, Giê-rê-mi 49:16).

A-đam đổ lỗi cho người phụ nữ, nói rằng cô ấy đã cho anh ta trái cấm (cũng đúng phần nào), và Ê-va đổ lỗi cho con rắn, nói rằng nó đã lừa dối nàng (cũng đúng phần nào). Nhưng cuối cùng, cả hai đều là kẻ có tội.

Cố gắng đổ lỗi cho người khác về những gì họ đã làm? Tại sao chúng ta lại dễ dàng rơi vào cạm bẫy như vậy?

“Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế Ký 3:15).

Chúa đã nói gì với con rắn ở đây, và các câu này mang cho chúng ta niềm hy vọng nào?

Đức Chúa Trời bắt đầu cuộc phán xét của Ngài với con rắn bởi vì nó là kẻ khởi xướng toàn bộ thảm kịch này. Con rắn cũng là sinh vật duy nhất bị nguyền rủa trong câu chuyện này.

Đến đây, chúng ta đi đến một sự “đảo ngược” của Sự Sáng tạo. Trong khi Sự Sáng tạo mang lại sự sống, mọi sự được xem là tốt và phước lành, thì sự phán xét dẫn đến sự chết, sự dữ và sự nguyền rủa — nhưng cũng dẫn đến niềm hy vọng và lời hứa về sự cứu rỗi. Kèm theo với bức tranh u ám về con rắn bị nghiền nát và ăn bụi đất (Sáng thế Ký 3:14) là niềm hy vọng sáng sủa về sự cứu rỗi cho nhân loại, được xuất hiện dưới hình thức một lời tiên tri. Ngay cả trước khi kết án A-đam và Ê-va, trong những lời tiếp theo, Đức Chúa Trời vẫn ban cho họ sự hy vọng được cứu chuộc (Sáng thế Ký 3:15). Phải, họ đã phạm tội; phải, họ sẽ đau khổ vì tội lỗi mình; và, phải, họ cũng sẽ chết vì tội lỗi. Nhưng bất chấp tất cả, vẫn có một sự hy vọng cuối cùng, hy vọng của sự cứu rỗi.

So sánh Sáng thế Ký 3:15 với Rô-ma 16:20, Hê-bơ-rơ 2:14 và Khải huyền 12:17. Kế hoạch cứu rỗi, cũng như cuộc thiện ác đấu tranh, đã được tiết lộ qua các chương Kinh Thánh này như thế nào?

Hãy lưu ý những điểm tương đồng giữa Sáng thế Ký 3:15 và Khải huyền 12:17: rồng (rắn), phẫn nộ (thù hận); hạt giống (dòng dõi); và người nữ trong vườn Ê-đen và người nữ trong Khải huyền 12:17. Trận chiến (cuộc thiện ác đấu tranh) kéo dài từ Vườn Ê-đen với Sự Sa ngã, sẽ còn tiếp diễn cho đến thời kỳ cuối cùng. Tuy nhiên, lời hứa về sự chiến bại của Sa-tan đã được ban ra trong vườn Ê-đen, rằng đầu nó sẽ bị nghiền nát, một chủ đề được tiết lộ rõ ràng hơn trong sách Khải huyền, mô tả sự hủy diệt cuối cùng của nó (Khải huyền 20:10). Có nghĩa là, ngay từ đầu, nhân loại đã được ban niềm hy vọng rằng sẽ có một lối thoát khỏi những hỗn độn khủng khiếp đến từ sự hiểu biết về điều ác, là một niềm hy vọng mà tất cả chúng ta có thể được dự phần ngay bây giờ.

Tại sao thật là niềm an lòng khi thấy rằng, tại trong vườn Ê-đen, nơi tội lỗi và sự ác bắt đầu đến trên địa cầu, Chúa đã khởi sự bày tỏ kế hoạch cứu rỗi?

Đọc Sáng thế Ký 3:15–24. Kết quả của Sự Sa ngã, điều gì đã xảy đến cho A-đam và Ê-va?

Trong khi sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với con rắn được xác định rõ ràng là một sự rủa sả (Sáng thế Ký 3:14), sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với người nữ và người nam thì không. Lần duy nhất mà chữ “rủa sả” được nhắc lại, nó chỉ áp dụng cho “đất” (Sáng thế Ký 3:17). Như thế, Đức Chúa Trời đã có những chương trình khác cho người nam và người nữ, trái với cho con rắn. Họ đã được ban cho một niềm hy vọng mà nó không được ban cho.

Vì tội lỗi của người nữ là do sự tương tác của nàng với con rắn, câu mô tả sự đoán phạt của Đức Chúa Trời đối với người nữ có liên quan đến sự đoán phạt cho con rắn. Không chỉ Sáng thế Ký 3:16 tiếp sau câu 15, mà sự tương đồng giữa hai lời tiên tri cho thấy rõ ràng rằng lời tiên tri liên quan đến người nữ trong câu 16 phải được đọc cùng với lời tiên tri về Đấng Mê-si trong câu 15. Do đó, sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với người phụ nữ, bao gồm cả việc sinh nở, phải được hiểu theo quan điểm tích cực của sự cứu rỗi (so sánh với 1 Ti-mô-thê 2:14, 15).

Vì tội lỗi của người nam là do anh ta nghe theo người nữ thay vì nghe Đức Chúa Trời, nên đất là nơi người nam được dựng nên từ đó bị nguyền rủa (Sáng thế Ký 3:17). Kết quả là, con người sẽ phải làm việc cực nhọc (Sáng thế Ký 3:17–19), và sau đó “ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra” (Sáng thế Ký 3:19), điều mà lẽ ra không bao giờ có thể xảy ra, và đó không bao giờ là một phần trong kế hoạch ban đầu của Đức Chúa Trời.

Điều quan trọng là giữa viễn cảnh vô vọng của sự chết này, A-đam nhìn sang người nữ, nơi anh ta nhìn thấy niềm hy vọng của sự sống qua việc nàng sẽ sinh con (Sáng thế Ký 3:20). Có nghĩa là, ngay cả giữa bản án tử hình, anh ta vẫn nhìn thấy hy vọng của sự sống.

Trong khi đó, cũng như bất kỳ bậc cha mẹ yêu thương nào, Đức Chúa Trời chỉ muốn điều tốt cho họ chứ không muốn điều ác. Nhưng bây giờ họ đã biết điều ác, Đức Chúa Trời sẽ làm tất cả những gì Ngài có thể để cứu họ khỏi nó. Vì vậy, ngay cả giữa những sự đoán phạt này, không phải tất cả hy vọng đều tàn lụi đối với tổ phụ của chúng ta, dầu sự bất tuân công khai và trắng trợn của họ với Đức Chúa Trời ngay giữa vườn địa đàng; họ hoàn toàn không có lý do gì để nghi ngờ Đức Chúa Trời, nghi ngờ lời Ngài, hoặc nghi ngờ tình yêu thương của Ngài đối với họ.

Dầu chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng “kiến thức” tự nó là tốt, nhưng tại sao điều đó không phải lúc nào cũng vậy? Một số điều mà chúng ta không nên biết là gì?

Hãy xem xét mối liên hệ giữa “cây sự sống” và “cây biết điều thiện và điều ác”. Mối quan hệ này đã được gợi ý qua thực tế là cả hai đều nằm ở “giữa Khu vườn” (Sáng thế Ký 2:9). Nhưng giữa hai cây còn có nhiều điều liên quan với nhau hơn chỉ là phần địa lý. Chính vì con người đã ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác, vì họ không vâng lời Đức Chúa Trời, nên họ đã mất quyền đến gần với cây sự sống, và không thể sống mãi mãi, ít nhất là trong tình trạng này. Mối quan hệ này nhấn mạnh về một nguyên tắc rất sâu xa. Những lựa chọn về đạo đức và tâm linh có ảnh hưởng đến đời sống thể chất, như Sa-lô-môn đã dặn dò con trai mình: “Hỡi con, chớ quên sự khuyên dạy ta, Lòng con khá giữ các mạng lịnh ta; Vì nó sẽ thêm cho con lâu ngày, Số năm mạng sống, và sự bình an” (Châm ngôn 3:1, 2). Mối liên hệ này tái xuất hiện trong Giê-ru-sa-lem trên trời trong tương lai, nơi “giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống” (Khải huyền 22:2).

“Khi Đức Chúa Trời dựng nên Ê-va, Ngài đã dự tính rằng nàng không nên thấp kém hơn cũng không vượt trội so với người nam, nhưng về mọi thứ, nàng phải ngang hàng với anh ta. Cặp vợ chồng đầu tiên này không có ý sống độc lập với nhau; nhưng mỗi người đều có một cá tính riêng trong suy nghĩ và hành động. Nhưng sau tội lỗi của Ê-va, khi nàng vi phạm trước, Chúa đã nói với nàng rằng A-đam nên cai trị nàng. Nàng phải phục tùng chồng mình, và đây là một phần của lời nguyền. Trong nhiều trường hợp, lời nguyền đã khiến phận người phụ nữ rất đau buồn và cuộc sống của nàng trở thành gánh nặng. Sự cao hơn mà Đức Chúa Trời đã ban cho người nam đã bị lạm dụng ở nhiều khía cạnh bằng cách dùng quyền độc đoán. Đấng có sự khôn ngoan vô hạn đã lập ra kế hoạch cứu rỗi, ban cho loài người một sự thử thách khác, đó là biết sử dụng quyền mà Chúa ban cho.” — Ellen G. White, Testimonies for the Church, quyển 3, trang 484.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Đức Chúa Trời đã đối mặt với A-đam trong vườn Ê-đen và hỏi ông những câu hỏi không phải chỉ để xác định tội lỗi của ông nhưng để còn dẫn ông đến sự ăn năn. Cũng cùng phương pháp này Chúa đã dùng với Ca-in (Sáng thế Ký 4:9, 10), Nước Lụt (Sáng thế Ký 6:5–8), Tháp Ba-bên (Sáng thế Ký 11:5), và Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sáng thế Ký 18:21). Trong tất cả các sự kiện trên, tư tưởng về sự điều tra phán xét đã được biểu lộ thế nào?
  2. Tại sao Ê-va nghĩ rằng ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác sẽ cho nàng sự khôn ngoan? Trong bối cảnh của chúng ta hôm nay, làm thế nào chúng ta có thể tránh không mắc phải lỗi lầm tương tự, đó là công khai bất chấp Lời Đức Chúa Trời với hy vọng điều gì đó “tốt hơn” những gì Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta?
Bài Học 1, 26 Tháng 3 — 1 Tháng 4, 2022

SỰ SÁNG TẠO

CÂU GỐC: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng thế Ký 1:1).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Thi thiên 100:1–3; Sáng thế Ký 1, 2; Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11; Xuất Ê-díp-tô Ký 40:33; Ma-thi-ơ 25:14–30; Ma-thi-ơ 19:7–9.

Sách Sáng thế Ký và do đó, toàn bộ Kinh Thánh bắt đầu bằng hành động Sáng tạo của Đức Chúa Trời. Sự thật này rất quan trọng vì nó có nghĩa là sự sáng tạo của chúng ta đánh dấu sự khởi đầu của lịch sử nhân loại và Kinh Thánh. Sự thật này cũng nói lên rằng câu chuyện Sáng thế Ký có cùng tính xác thực lịch sử với các sự kiện khác của lịch sử nhân loại và Kinh Thánh.

Hai bản văn về sự Sáng tạo trong Sáng thế Ký đoạn 1 và 2 chứa đựng những bài học về Đức Chúa Trời và nhân loại. Khi nghiên cứu bài học tuần này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa sâu xa của ngày Sa-bát Thứ Bảy. Chúng ta sẽ suy gẫm về hành động của Đức Chúa Trời trong việc tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài và cả từ bụi đất nữa. Chúng ta sẽ muốn biết về mục đích của cây biết điều thiện và điều ác và về mối liên hệ của nó với cây sự sống.

Bài học quan trọng nhất của những câu chuyện trong Kinh Thánh về sự khởi đầu là bài học về ân điển. Sự hiện hữu của chúng ta hoàn toàn là một hành động của ân điển. Đức Chúa Trời tạo ra trời và đất trong khi con người chưa có mặt. Giống như sự sáng tạo của chúng ta, sự cứu chuộc của chúng ta cũng là một món quà từ Đức Chúa Trời. Và thật sâu sắc biết bao khi cả hai khái niệm, sự sáng tạo và sự cứu chuộc, đều tồn tại trong điều răn ngày Sa-bát Thứ Bảy.

Đọc Thi thiên 100:1–3. Con người nghĩ như thế nào về sự sáng tạo của Đức Chúa Trời và tại sao?

Trong Sáng thế Ký 1, thông điệp đầu tiên của bản tường thuật về sự Sáng Tạo là “Đức Chúa Trời”. Chúng ta đã nghe nó trong bản dịch: “Ban đầu Đức Chúa Trời” (Sáng thế Ký 1:1). Trong dòng đầu tiên của bài kinh niệm truyền thống phụng vụ tiếng Do Thái, danh từ “Đức Chúa Trời” được đặt ở giữa câu và được gạch dưới để chỉ rằng nó phải được đọc lên trong âm mạnh nhất nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của Đức Chúa Trời. Đoạn văn về sự Sáng tạo bắt đầu, sau đó, với sự nhấn mạnh về Đức Chúa Trời, tác giả của Sự sáng tạo.

Trên thực tế, sách Sáng thế Ký bắt đầu với hai cách trình bày khác nhau về Đức Chúa Trời. Bản tường thuật đầu tiên về sự Sáng Tạo (Sáng thế Ký 1:1–2:4) trình bày Đức Chúa Trời ở rất xa loài người, Đức Chúa Trời siêu việt, Elohim, tên của Ngài nói về quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Tên Elohim biểu thị sự ưu việt và sức mạnh, và việc nó được dùng ở dạng số nhiều của danh từ Elohim thể hiện ý tưởng về sự uy nghiêm và siêu việt.

Lời tường thuật thứ hai về Sự Sáng Tạo (Sáng thế Ký 2:4–25) trình bày Đức Chúa Trời thật gần gũi và cá nhân, Đức Chúa Trời kề cận gọi là YHWH (phát âm Gia-huê, thường được dịch là Giê-hô-va), là danh xưng mà nhiều người tin rằng biểu thị sự gần gũi và mối tương quan. Do đó, toàn bộ bản văn Sáng Tạo là một lời kêu gọi ngầm để thờ phượng Đức Chúa Trời; trước hết, nhận thức được sự vĩ đại và quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời, đồng thời thừa nhận sự lệ thuộc của chúng ta vào Ngài vì Ngài đã dựng nên chúng ta “chứ không phải chính chúng ta” (Thi thiên 100:3). Đây là lý do tại sao nhiều bài Thi thiên thường liên kết sự thờ phượng với Sự Sáng Tạo (Thi thiên 95:1–6; Thi thiên 139:13, 14 [so sánh với Khải huyền 14:7]).

Quan điểm hai mặt này về một Đức Chúa Trời vừa uy nghi, quyền năng, vừa gần gũi, yêu thương và có mối tương quan với chúng ta, chứa đựng một điểm quan trọng về cách chúng ta nên đến gần Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng. Sự kính sợ và tôn kính đi cùng với niềm vui và sự bảo đảm về sự gần gũi, sự tha thứ và tình yêu thương của Đức Chúa Trời (xin xem Thi thiên 2:11). Ngay cả sự sắp xếp theo thứ tự của hai bài thuyết trình về Đức Chúa Trời cũng có ý nghĩa:kinh nghiệm về sự gần gũi của Đức Chúa Trời và sự gần gũi về sự hiện diện của Ngài đi theo sau kinh nghiệm về sự xa cách của Đức Chúa Trời. Chỉ khi chúng ta nhận ra rằng Đức Chúa Trời vĩ đại thì chúng ta mới có thể đánh giá cao ân điển của Ngài và tận hưởng sự hiện diện tuyệt vời và đầy yêu thương của Ngài trong cuộc sống của chúng ta.

Hãy nghĩ về quyền năng rộng lớn của Đức Chúa Trời, Đấng nâng đỡ vũ trụ, nhưng lại có thể ở rất gần mỗi chúng ta. Tại sao sự thật đáng kinh ngạc này lại đáng kinh ngạc đến vậy?

Đọc Sáng thế Ký 1:4, 10, 12, 18, 21, 25, 31 và Sáng thế Ký 2:1–3. Ý nghĩa của điệp khúc “điều đó là tốt lành” trong câu chuyện Sáng Tạo thứ nhất là gì? Bài học ngụ ý có trong phần kết của Sự Sáng Tạo (Sáng thế Ký 2:1–3) là gì?

Ở mỗi bước của câu chuyện tạo thế, Đức Chúa Trời thẩm định công việc của Ngài là “tốt lành”. Người ta thường hiểu rằng tĩnh từ này có nghĩa là công việc Sáng Tạo của Đức Chúa Trời đã thành công và sự quan sát của Ngài “điều đó là tốt lành” có nghĩa là “nó đã hoạt động đúng”. Ánh sáng đã chiếu sáng (Sáng thế Ký 1:4). Cây cối đã kết trái (Sáng thế Ký 1:12), v.v.

Nhưng tĩnh từ “tốt lành” này còn có ý nghĩa nhiều hơn chỉ là hiệu quả của một chức năng. Trong tiếng Do Thái, chữ tov cũng được dùng trong Kinh Thánh để thể hiện sự đánh giá cao về mặt thẩm mỹ của một điều gì đó đẹp đẽ (Sáng thế Ký 24:16). Nó cũng được dùng là chữ phản ngược với chữ “ác” (Sáng thế Ký 2:9) hoặc có liên quan đến cái chết (Sáng thế Ký 2:17).

Cụm từ “điều đó là tốt lành” có nghĩa là sự sáng tạo đang hoạt động tốt đẹp, rằng nó đẹp đẽ và hoàn hảo, và không có cái xấu nào trong đó. Thế giới lúc ấy “chưa” giống như thế giới của chúng ta đang thấy, bị ảnh hưởng bởi tội lỗi và sự chết. Thế giới hoàn hảo, một ý tưởng được khẳng định trong phần mở đầu cho câu chuyện Sáng Tạo thứ nhì (xem Sáng thế Ký 2:5).

Sự mô tả về Sự Sáng Tạo thứ nhì thì hoàn toàn trái ngược với các lý thuyết về tiến hóa. Thuyết tiến hóa vốn tuyên bố như một giáo điều rằng thế giới tự định hình dần dần qua một loạt các diễn biến ngẫu nhiên, bắt đầu từ một tình trạng thấp hèn và tiến lên đến một tình trạng siêu đẳng.

Trong khi ấy, tác giả Kinh Thánh khẳng định rằng Đức Chúa Trời chủ định và tạo dựng nên thế giới ngay tức thì (Sáng thế Ký 1:1). Không có gì ngẫu nhiên hay tình cờ về bất kỳ điều gì trong quyết định và hành động của Ngài. Thế giới không tự hình thành. Thế giới là kết quả của ý muốn và lời của Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 1:3). Động từ bara’, “tạo dựng”, được dịch trong Sáng thế Ký 1 là lúc ban đầu Đức Chúa Trời “dựng nên” trời và đất. Điều này chỉ xảy ra với Đức Chúa Trời là chủ thể của nó, và nó biểu thị sự tức thì: Đức Chúa Trời đã phán, và đúng như vậy.

Đoạn văn về Sự Sáng Tạo cho chúng ta biết rằng “mọi việc” đã được thực hiện ngay vào lúc đó (Sáng thế Ký 1:31), và theo chính Đấng Tạo Hóa, tất cả đều được thẩm định là “rất tốt lành” (Sáng thế Ký 1:31). Sáng thế Ký 1:1 cho biết chính sự kiện, sự sáng tạo của trời và đất; và Sáng thế Ký 2:1 tuyên bố rằng sự kiện đã kết thúc. Và tất cả đã hoàn thành, kể cả ngày Sa-bát, trong bảy ngày.

Tại sao ý tưởng về quá trình tiến hóa hàng tỷ năm lại vô hiệu hóa hoàn toàn câu chuyện về Sự Sáng Tạo? Tại sao hai quan điểm lại không tương đồng về mọi mặt?

Đọc Sáng thế Ký 2:2, 3 và Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11. Tại sao ngày Sa-bát Thứ Bảy liên quan đến sự Sáng Tạo? Mối liên hệ này ảnh hưởng như thế nào đến cách chúng ta giữ ngày Sa-bát?

Chính vì “Đức Chúa Trời đã hoàn tất” các công trình Sáng Tạo của Ngài mà Ngài đã thiết lập Ngày Sa-bát. Do đó, ngày Sa-bát Thứ Bảy là sự bày tỏ đức tin của chúng ta rằng lúc đó Đức Chúa Trời đã hoàn thành công việc của Ngài, và Ngài thấy “mọi sự đó là tốt lành”. Giữ ngày Sa-bát là cùng dự phần với Đức Chúa Trời để nhận biết giá trị và vẻ đẹp của tạo vật Ngài.

Chúng ta có thể nghỉ ngơi sau công việc của mình giống như Đức Chúa Trời đã nghỉ ngơi khỏi sau công việc của Ngài. Giữ ngày Sa-bát có nghĩa là nói đồng ý với sự Tạo dựng của Đức Chúa Trời là “tốt lành” mà trong đó, bao gồm cơ thể vật chất của chúng ta nữa. Trái với một số niềm tin cổ xưa (và hiện đại), không có gì trong Kinh Thánh, Cựu Ước hay Tân Ước, phỉ báng cơ thể là xấu xa. Đó là một khái niệm ngoại giáo, không phải trong Kinh Thánh. Thay vào đó, những người giữ ngày Sa-bát biết ơn sự sáng tạo của Đức Chúa Trời — bao gồm cả xác thịt của họ — và đó là lý do tại sao họ có thể tận hưởng Sự sáng tạo và tại sao họ chăm sóc nó.

Ngày Sa-bát, đánh dấu sự “kết thúc” đầu tiên của lịch sử nhân loại, cũng là một dấu hiệu của hy vọng cho nhân loại đang đau khổ và cho sự rên rỉ của thế giới. Điều thú vị là cụm từ “làm xong công việc” lại xuất hiện vào cuối việc xây dựng đền thờ (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:33), và một lần nữa ở cuối việc xây dựng đền thờ của Sa-lô-môn (1 Các Vua 7:40, 51) — cả hai nơi đã dạy bài học về phúc âm và sự cứu rỗi.

Sau sự Sa ngã, ngày Sa-bát, vào cuối của tuần lễ, chỉ về phép lạ của sự cứu rỗi, là điều sẽ chỉ xảy ra nhờ phép lạ của một sự tạo dựng mới (Ê-sai 65:17, Khải huyền 21:1). Ngày Sa-bát là ngày cuối cùng của một tuần lễ của loài người chúng ta, là một dấu hiệu nhắc nhở chúng ta rằng những đau khổ và thử thách của thế giới này rồi cũng sẽ kết thúc.

Đây là lý do tại sao Đức Chúa Giê-su đã chọn ngày Sa-bát là ngày thích hợp nhất để chữa lành người bệnh (Lu-ca 13:13–16). Trái với bất cứ truyền thống nào mà các nhà lãnh đạo đã bị trói buộc, sự chữa bệnh trong ngày Sa-bát của Đức Chúa Giê-su đã chỉ cho đoàn dân và cho chúng ta, đến thời điểm mà mọi đau đớn, mọi đau khổ, mọi sự chết sẽ kết thúc, đó là chung kết cho tiến trình cứu rỗi. Do đó, mỗi ngày Sa-bát hướng chúng ta về niềm hy vọng được cứu chuộc.

Làm thế nào khi nghỉ ngơi vào ngày Sa-bát, chúng ta cảm nghiệm được sự yên nghỉ và sự cứu rỗi mà chúng ta có trong Đức Chúa Giê-su hôm nay, và rằng điều ấy cuối cùng sẽ được hoàn tất qua sự tạo dựng trời mới và đất mới?

Việc tạo dựng con người là hành động tạo dựng cuối cùng của Đức Chúa Trời, ít nhất là qua bài tường thuật của Sáng thế Ký. Con người là đỉnh cao của toàn bộ sự sáng tạo trên trái đất, và là mục đích mà địa cầu được tạo ra.

Đọc Sáng thế Ký 1:26–29 và Sáng thế Ký 2:7. Có sự kết nối nào giữa hai văn bản Kinh Thánh này về sự tạo dựng loài người?

Lời tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài là một trong những tuyên bố táo bạo nhất của Kinh Thánh. Chỉ có con người mới được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Mặc dù “Đức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và các côn trùng trên đất tùy theo loại” (Sáng thế Ký 1:25), “Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài” (Sáng thế Ký 1:27). Công thức này thường được giới hạn trong bản chất tâm linh của con người, “hình ảnh của Đức Chúa Trời” được hiểu là chỉ biểu thị chức năng quản trị đại diện cho Đức Chúa Trời, hoặc chức năng tâm linh trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời hoặc loài người với nhau.

Tuy các cách hiểu này là đúng, nhưng chúng không gồm đủ sự quan trọng về thực tế vật lý của sự sáng tạo này. Thật vậy, cả hai phương diện đều được bao gồm trong hai chữ “hình ta” và “tượng ta” của Sáng thế Ký 1:26. Trong tiếng Do Thái, chữ tselem “hình ảnh” hay “ảnh tượng”, chỉ hình dạng của cơ thể vật chất, thì chữ demut, “giống như”, chỉ những phẩm chất trừu tượng có thể so sánh với một Đấng thiên thượng.

Do đó, khái niệm tiếng Do Thái về “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta. Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài” (câu 26, 27) nên được hiểu theo nghĩa là toàn thể con người là quan điểm của Kinh Thánh về bản chất con người. Bản văn Kinh Thánh khẳng định rằng các cá nhân con người (người nam và người nữ) đã được tạo ra theo hình ảnh của Đức Chúa Trời về mặt thể chất cũng như tâm linh. Như Ellen G. White nhận xét rõ ràng: “Khi Adam đến từ bàn tay của Đấng Tạo Hóa, người mang lấy bản chất giống như với Đấng Tạo Hóa của mình trong mọi phương diện: thể chất, tinh thần và tâm linh.” — Education, trang 15.

Trên thực tế, sự hiểu biết toàn diện này về hình ảnh của Đức Chúa Trời, bao gồm cả thân thể vật chất, được tái khẳng định trong bài tường thuật sự Tạo dựng khác trong Sáng thế Ký đoạn 2. Sáng thế Ký 2:7 nói rằng “thì người trở nên một loài sanh linh”, nghĩa đen, “một sinh vật có linh hồn” (nefesh), là kết quả của hai động tác thiên thượng: Đức Chúa Trời “nắn” và Đức Chúa Trời “hà sanh khí”. Lưu ý rằng “sanh khí – hơi thở” thường liên hệ đến phương diện tâm linh, nhưng nó cũng gắn liền với khả năng thở sinh học, trong phần Kinh Thánh nói con người đã được “lấy bụi đất nắn nên . . .” Đó là “hơi thở của sự sống”; tức là hơi thở (tâm linh) và sự sống (thể chất).

Sau đó, Đức Chúa Trời sẽ thực hiện một cuộc phẫu thuật thứ ba, lần này là để tạo ra người nữ từ thân thể của người nam (Sáng thế Ký 2:21, 22), một cách để nhấn mạnh rằng nàng cũng có cùng bản chất như người nam.

Ngay khi Đức Chúa Trời tạo ra người đàn ông đầu tiên, Ngài đã ban cho anh ta ba món quà: Vườn Ê-đen (Sáng thế Ký 2:8), thực phẩm (Sáng thế Ký 2:16) và người nữ (Sáng thế Ký 2:22).

Đọc Sáng thế Ký 2:15–17. Con người có bổn phận gì đối với tạo vật và đối với Đức Chúa Trời? Hai nhiệm vụ này có quan hệ với nhau như thế nào?

Nhiệm vụ đầu tiên của con người liên quan đến môi trường thiên nhiên mà Đức Chúa Trời đã đặt “để trồng và giữ vườn” (Sáng thế Ký 2:15). Động từ “avad,” là “chăm sóc” đề cập đến việc làm. Nó chỉ về việc không nhận một món quà cho không. Chúng ta phải làm việc và làm cho nó có kết quả — một bài học mà Đức Chúa Giê-su sẽ lặp lại trong dụ ngôn về các ta-lâng (tài năng) trong Ma-thi-ơ 25:14–30. Động từ shamar, là “giữ gìn”, ngụ ý trách nhiệm bảo quản những gì đã nhận được.

Nhiệm vụ thứ hai liên quan đến thực phẩm của anh ta. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Chúa Trời đã ban nó cho con người (xem Sáng thế Ký 1:29). Ngài cũng nói với A-đam rằng “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn” (Sáng thế Ký 2:16). Con người không tạo ra cây cối cũng như các thức ăn đến từ chúng. Chúng là một món quà, một món quà của ân điển.

Nhưng cũng có một mạng lệnh ở đây: họ được nhận và tận hưởng món quà hào phóng của Đức Chúa Trời “các thứ cây”. Tuy nhiên, là một phần của ân sủng này, Đức Chúa Trời thêm vào một hạn chế. Họ không nên ăn từ một cây đặc biệt. Thưởng thức mà không có bất kỳ hạn chế nào sẽ dẫn đến cái chết. Nguyên tắc này đã có ngay trong Vườn Ê-đen, và theo nhiều nghĩa, nguyên tắc đó vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Bổn phận thứ ba của người nam liên quan đến người nữ, món quà thứ ba của Đức Chúa Trời: “người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt” (Sáng thế Ký 2:24). Lời tuyên bố lạ kỳ này là một cách diễn đạt mạnh mẽ nêu rõ trách nhiệm của con người đối với giao ước vợ chồng và mục đích trở thành “một xương một thịt” nghĩa là một người (so sánh với Ma-thi-ơ 19:7–9).

Lý do mà người nam (không phải người nữ) phải rời bỏ cha mẹ mình có thể liên quan đến cách trong Kinh Thánh hay dùng “người nam” chung trong Kinh Thánh; do đó, có lẽ, mạng lệnh này cũng áp dụng cho người nữ nữa. Nhưng thế nào đi nữa, mối ràng buộc của hôn nhân, mặc dù là một món quà từ Đức Chúa Trời, đòi hỏi trách nhiệm của con người khi món quà đã được nhận, một trách nhiệm mà cả người nam và người nữ phải hoàn thành một cách trung thành.

Hãy nghĩ về tất cả những gì bạn đã được Chúa ban cho. Bạn có trách nhiệm gì với những gì bạn đã được giao?

“Vì cuốn sách của thiên nhiên và sách mặc khải mang dấu của cùng một tư tưởng gia, chúng hoàn toàn hòa hợp cùng một nhịp. Tuy khác phương pháp, khác ngôn ngữ, chúng cùng làm chứng về các lẽ thật khôn lường như nhau. Khoa học luôn khám phá những điều kỳ diệu mới; nhưng từ những nghiên cứu của khoa học, theo như chúng ta hiểu, không có một mâu thuẫn nào với sự mặc khải của thiên thượng. Cuốn sách của thiên nhiên và những sách đã được viết xuống làm sáng tỏ lẫn nhau. Chúng làm cho chúng ta quen thuộc với Đức Chúa Trời bằng cách dạy chúng ta điều gì đó về luật pháp mà dựa trên đó Ngài làm việc.

“Tuy nhiên, những suy luận được rút ra một cách sai lầm từ các sự kiện quan sát được trong thiên nhiên đã dẫn đến sự như là xung đột giữa khoa học và sự mặc khải; và trong nỗ lực khôi phục sự hòa hợp, những cách giải thích Kinh Thánh đã được dùng để làm suy yếu và phá hủy sức mạnh của Lời Đức Chúa Trời. Địa chất đã được cho là mâu thuẫn với cách giải thích theo nghĩa đen của bài tường trình của Môi-se về sự sáng tạo. Người ta khẳng định rằng hàng triệu năm là cần thiết cho sự tiến hóa của trái đất đến từ sự hỗn loạn; và để làm cho Kinh Thánh phù hợp với sự mặc khải khoa học được cho là này, những ngày của tuần lễ tạo thế được cho là những khoảng thời gian rộng lớn, vô thời hạn, bao gồm hàng nghìn hoặc thậm chí hàng triệu năm.

“Một kết luận như vậy là hoàn toàn không căn bản. Bản ghi chép của Kinh Thánh hòa hợp với chính nó và với sự dạy dỗ của thiên nhiên.” — Ellen G. White, Education, trang 128, 129.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Tại sao phẩm chất đức tin của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng nếu chúng ta tin rằng những câu chuyện về sự khởi thủy là truyền thuyết, là “thần thoại” về căn bản được dựng nên để hướng dẫn chúng ta bằng những bài học tâm linh nhưng không có thật về phương diện lịch sử? Có những bằng chứng nào trong văn bản Kinh Thánh cho thấy tác giả Kinh Thánh biết rằng chúng là “lịch sử” giống như phần còn lại của các câu chuyện trong sách Sáng thế Ký? Lời chứng của Đức Chúa Giê-su về sự thật lịch sử của những câu chuyện này là gì?
  2. Câu chuyện Sáng thế Ký dạy chúng ta điều gì về tầm quan trọng của việc quản lý trái đất? Làm thế nào chúng ta có thể là những người quản lý tốt cho địa cầu của chúng ta, đồng thời tránh được các nguy hiểm của việc tôn thờ các tạo vật, thay vì thờ lạy Đấng Tạo Hóa, đó là một cám dỗ rất thực tế? (Xem Rô-ma 1:25).
  3. Bất chấp sự tàn phá của tội lỗi qua hàng thiên niên kỷ dài, theo những cách nào, sự kỳ diệu và vẻ đẹp và sự uy nghi nguyên thủy của Công trình Tạo dựng rất “tốt lành” vẫn hiển hiện với chúng ta, nói với chúng ta bằng những cách thức mạnh mẽ về sự nhân từ và quyền năng của Đức Chúa Trời?