2022 - Q3 | TÔI LUYỆN CÙNG ĐẤNG CHRIST

Bài Học 13, 17 — 23 Tháng 9, 2022

ĐẤNG CƠ ĐỐC TRONG CƠN THỬ THÁCH

CÂU GỐC: “Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Ma-thi-ơ 27:46).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Lu-ca 2:7, 22–24; Ma-thi-ơ 2:1–18; Giăng 8:58, 59; Lu-ca 22:41–44; Ma-thi-ơ 27:51, 52; Rô-ma 6:23; Tít 1:2.

Bất cứ khi nào chúng ta nghĩ đến vấn đề đau khổ, câu hỏi đặt ra là: Tội lỗi và đau khổ đầu tiên phát sinh như thế nào? Qua sự mặc khải của Đức Chúa Trời, chúng ta đã có câu trả lời: Chúng đã phát sinh bởi vì các sinh vật tự do đã lạm dụng quyền tự do mà Đấng Tạo thế ban cho. Tín lý này dẫn đến một câu hỏi khác: Chúa có biết trước những sinh vật tự quyết sẽ sa ngã không? Đúng, rõ ràng là Ngài đã nghĩ đến hậu quả ấy rồi, như tác giả C. S. Lewis có viết, nhưng vẫn “rất đáng cho Ngài mạo hiểm.”

Đáng để mạo hiểm? Vì ai? Vì loài người chúng ta, trong khi Chúa vẫn ngồi trên ngai trên trời cao kia? Không phải vậy. Sự tự do của tất cả các tạo vật thông minh của Ngài rất thiết yếu và thiêng liêng đến nỗi, thay vì phủ nhận sự tự do của chúng ta, Đức Chúa Trời đã chọn để chính Ngài phải gánh chịu những đau khổ gây ra bởi việc chúng ta lạm dụng quyền tự do đó. Và chúng ta thấy sự đau khổ tột cùng này trong cuộc đời và cái chết của Đức Chúa Giê-su, Đấng mà, qua những bầm dập của thân xác con người, đã tạo ra mối dây liên kết bất diệt giữa trời và đất.

Kinh Thánh không nói nhiều về những năm đầu cuộc đời Đức Chúa Giê-su. Tuy nhiên, một vài câu Kinh Thánh cho chúng ta biết ít nhiều một số dữ kiện về hoàn cảnh và loại thế giới mà Đấng Cứu Rỗi đã bước vào.

Xin đọc Lu-ca 2:7, 22–24 (xem thêm Lê-vi Ký 12:6–8) và Ma-thi-ơ 2:1–18. Chúng ta thấy điểm gì trong các câu này hé lộ các dấu hiệu về kiểu sống mà Đức Chúa Giê-su phải thích ứng ngay từ lúc đầu?

Tất nhiên, Đức Chúa Giê-su không phải là người đầu tiên sống trong cảnh bần hàn hoặc là mục tiêu của những kẻ muốn giết Ngài, ngay cả từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên, có một yếu tố khác giúp chúng ta hiểu được sự độc đáo của những gì Đấng Cơ Đốc đã phải chịu ngay từ lúc mới bắt đầu hành đạo.

Xin đọc Giăng 1:46. Yếu tố gì trong câu chuyện này giúp chúng ta hiểu được các chướng ngại mà Đức Chúa Giê-su thời trai trẻ phải đối mặt?

Ngoại trừ ông A-đam và bà Ê-va trước khi phạm tội, Đức Chúa Giê-su là người vô tội duy nhất từng sống trên trần thế. Với sự trong sạch của Ngài, với sự vô tội của Ngài, Ngài đã đắm chìm trong một thế giới tội lỗi. Thật là một cực hình, ngay cả khi còn là một đứa trẻ, vì linh hồn trong sạch của Ngài thường xuyên cọ xát với những điều xấu xa. Ngay cả với lương tâm bị chai đá vì tội lỗi, bản thân chúng ta cũng thường rùng mình thu lại để tránh tiếp xúc với tội lỗi và điều ác mà chúng ta thấy thật đầy ghê tởm. Hãy tưởng tượng điều đó hẳn sẽ buồn nôn như thế nào đối với Đấng Cơ Đốc, người có linh hồn tinh khiết, người không hề bị ô uế bởi tội lỗi. Hãy đối chiếu sự tương phản rõ rệt giữa Ngài và những người xung quanh về mặt đó. Mối mâu thuẫn này phải cực kỳ đau đớn cho Ngài.

Hãy tự hỏi bản thân, “Tôi nhạy cảm đến mức nào với những tội lỗi xung quanh tôi? Chúng có làm tôi phiền lòng chút nào không, hay tôi đã trở nên quá chai đá đối với chúng?” Nếu nghe đến tội lỗi mà bạn không một chút mảy may khó chịu, có phải đó là vì những thứ bạn đọc, xem, hoặc thậm chí làm? Hãy thẩm định giả thuyết này.

Hãy đọc các câu Kinh Thánh sau đây, đồng thời ghi nhớ sự kiện rằng Đức Chúa Giê-su có thần tính, Đấng Tạo dựng trời và đất, và Ngài đã đến để dâng chính mình Ngài làm của lễ cho tội lỗi của thế gian (Ma-thi-ơ 12:22–24; Lu-ca 4:21–30; Giăng 8:58, 59). Làm thế nào các câu này giúp chúng ta hiểu các đau khổ mà Đức Chúa Giê-su đã phải đối mặt ở đây trên đất?

Đời sống, hành vi và lời dạy của Đức Chúa Giê-su liên tục bị hiểu sai bởi những nhà lãnh đạo, hay thậm chí bởi những người dân thường, dẫn đến sự từ chối và căm ghét bởi những người mà Ngài đã đến để cứu. Ở một khía cạnh nào đó, nó phải giống như một bậc cha mẹ thấy đứa con ương ngạnh cần được giúp đỡ, và mặc dù cha mẹ sẵn sàng cung phụng mọi thứ cho nó, đứa trẻ vẫn hắt hủi, khinh bỉ và khước từ cha mẹ mình, mà có lẽ là những ân nhân duy nhất trong đời có thể cứu đứa trẻ đó khỏi số phận tự hủy hoại. Đó là cái oái oăm mà Đức Chúa Giê-su phải đối mặt khi ở trên đất. Nó phải xót xa biết bao đối với Ngài.

Xin đọc Ma-thi-ơ 23:37. Câu Kinh Thánh này cho chúng ta biết điều gì về cảm giác của Đấng Cơ Đốc khi bị từ chối? Khi bạn đọc, cũng hãy tự hỏi bản thân, “Ngài có cảm thấy tồi tệ cho bản thân không (như chúng ta thường làm khi bị từ chối) hay là vì một lý do khác?” Nếu vì một lý do khác, đó là gì?

Tất cả chúng ta đều cảm thấy con tim nhức nhối khi bị khước từ, và có thể niềm đau của chúng ta cũng giống với niềm đau của Đấng Cơ Đốc trên phương diện là một niềm đau không ích kỷ: Chúng ta đau lòng, không phải vì tủi thân do bị hắt hủi, nhưng vì sự khước từ sẽ mang đến hậu quả gì cho người đang từ chối chúng ta (có lẽ đây là một người chúng ta quan tâm nhưng lại từ chối chấp nhận sự cứu rỗi trong Đấng Cơ Đốc). Tuy nhiên, hãy hình dung Đức Chúa Giê-su phải cảm thấy thế nào khi Ngài hoàn toàn ý thức được những gì Ngài sẽ phải đối mặt để cứu con cái Ngài, đồng thời nhận thức rõ ràng hậu quả họ từ chối Ngài sẽ như thế nào. “Chính vì sự vô tội của Ngài mà Ngài [Đấng Cơ Đốc] đã cảm thấy rất tỏ tường những cuộc tấn công của Sa-tan.” — Ellen G. White, Selected Messages, tập 3, trang 129.

Bạn học được phương cách nào từ Đấng Cơ Đốc để giúp bạn đối phó hữu hiệu hơn với nỗi đau buồn khi bị từ chối? Gương của Ngài cho bạn thấy điều gì? Bạn có thể áp dụng nó vào cuộc sống của chính mình như thế nào?

“Ngài phán cùng ba người rằng: Linh hồn ta buồn rầu lắm cho đến chết; các ngươi hãy ở đây, và tỉnh thức” (Mác 14:34).

Bất cứ trở ngại nào Đức Chúa Giê-su đã trải qua trong suốt 33 năm trên đất, không gì có thể so sánh được với những thử thách mà Ngài sắp phải đối mặt trong những giờ cuối cùng trước thập tự giá. Từ trước khi sáng thế đã có kế hoạch (Ê-phê-sô 1:1–4; 2 Ti-mô-thê 1:8, 9; Tít 1:1, 2) cho sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su làm của lễ cho tội lỗi của thế gian, và bây giờ kế hoạch ấy sắp được thực hiện.

Các câu Kinh Thánh sau đây cho chúng ta biết điều gì về sự đau khổ của Đấng Cơ Đốc tại vườn Ghết-sê-ma-nê? Ma-thi-ơ 26:39, Mác 14:33–36, Lu-ca 22:41–44.

“Ngài đi một khoảng xa họ — không xa lắm đủ để họ có thể nhìn thấy và nghe tiếng Ngài — và phủ phục trên mặt đất. Ngài cảm thấy rằng do tội lỗi nhân loại mà Ngài bị phân rẽ khỏi Cha Ngài. Cái hố quá rộng, quá đen, quá sâu, đến nỗi linh hồn của Ngài phải rùng mình trước nó. Nỗi thống khổ này Ngài không được dùng thần lực của mình để giải thoát. Là con người, Ngài phải gánh chịu hậu quả do vô số tội lỗi của con người gây ra. Là con người, Ngài phải chịu đựng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với sự vi phạm tràn lan.

“Lúc này Đấng Cơ Đốc đang có một thái độ khác với thái độ mà Ngài đã từng có trước đây. Sự đau khổ của Ngài có thể được miêu tả rõ nhất qua lời của nhà tiên tri: ‘Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng: Hỡi gươm, hãy thức dậy nghịch cùng kẻ chăn của ta, và nghịch cùng người làm bạn hữu ta’ (Xa-cha-ri 13:7). Là người thay thế và bảo đảm cho loài người tội lỗi, Đấng Cơ Đốc đã phải chấp nhận hình phạt quy định bởi công lý thiên quốc. Ngài đã thấy công bằng có nghĩa là gì. Cho đến nay, Ngài đã trở thành người cầu thay cho những người khác; bây giờ Ngài khao khát có được một người cầu thay cho chính Ngài.” — Ellen G. White, The Desire of Age, trang 686.

Hãy suy nghĩ thêm về những gì đang xảy ra với Đức Chúa Giê-su tại Ghết-sê-ma-nê. Tội lỗi của thế giới đã bắt đầu đổ xuống Ngài. Hãy thử hình dung hình ảnh ấy phải như thế nào. Từ xưa tới nay, chưa từng có một con người nào bị kêu gọi để trải qua bất kỳ sự kiện nào tương tự như vậy. Biến cố này cho chúng ta biết điều gì về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta? Bạn có thể rút ra hy vọng gì từ tín lý này cho chính mình?

Cái chết bằng cách bị đóng đinh là một trong những hình phạt khắc nghiệt nhất mà người La Mã dùng trên bất kỳ ai. Đó được coi là cách chết tàn tệ nhất. Vì vậy, thật kinh khủng vô cùng đối với bất cứ ai bị giết bằng cách đó, nhất là Con Đức Chúa Trời! Đức Chúa Giê-su, chúng ta phải luôn nhớ rằng, đã đến trong thân xác con người như chúng ta. Giữa những trận đánh đập chí tử, những lằn roi rướm máu, những chiếc đinh bén nhọn đóng thủng xuyên thịt xương của tay chân Ngài, cộng thêm sức trĩu nặng của thân thể Ngài xé nát những vết thương, nỗi đau thể xác hẳn là không thể nào chịu nổi. Hình phạt này thật dã man, ngay cả đối với những tội phạm gian ác nhất; vậy thì không công bằng chút nào, Đức Chúa Giê-su, Đấng vô tội mọi bề, lại phải chấp nhận một cách thảm thương như vậy.

Tuy nhiên, như chúng ta biết, khi tương phản với những gì đang thực sự xảy ra, nỗi đau đớn thể xác của Đấng Cơ Đốc rất nhẹ nhàng. Biến cố này thật sự không đơn giản là hình thức sát hại một người vô tội nhưng có ý nghĩa sâu rộng hơn.

Những hiện tượng nào xung quanh cái chết của Đức Chúa Giê-su cho thấy có sự kiện khác cũng đang xảy ra vào thời điểm ấy (nhưng hầu hết mọi người đương thời không nhận thức được)? Chúng ta có thể tìm thấy ý nghĩa quan trọng nào trong mỗi sự kiện để có thể giúp tiết lộ những gì đã xảy ra ở đó?

Ma-thi-ơ 27:45
Ma-thi-ơ 27:51, 52
Mác 15:38

Rõ ràng, một điều gì đó sâu rộng hơn đang diễn ra với cái chết của một người vô tội, dù là một cái chết rất bất công. Theo Kinh Thánh, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi, tội lỗi của chúng ta, đã trút lên đầu Đức Chúa Giê-su. Đấng Cơ Đốc trên thập tự giá đã phải hứng chịu nỗi phẫn nộ đầy công chính — của một Đức Chúa Trời công bình — bốc lên từ sự chứng kiến tội ác bất công của toàn thế gian. Như vậy, Đức Chúa Giê-su đã gánh chịu một điều gì đó sâu xa hơn, đen tối hơn và đau đớn hơn bất cứ phàm nhân nào có thể biết hoặc trải qua.

Khi bạn trải qua bất kỳ cuộc tranh đấu nào bạn đang đối mặt, bạn có thể rút ra hy vọng và niềm an ủi nào từ sự kiện Đấng Cơ Đốc đã oằn oại vì bạn trên thập tự giá?

Chúng ta cần học cách làm quen và chấp nhận sự thật phũ phàng sau đây: chừng nào chúng ta còn tồn tại trên thế giới này, chúng ta sẽ đau khổ. Là những tạo vật đã bị hoen ố, đó là vận mạng của chúng ta. Không có lời dạy dỗ nào trong Kinh Thánh hứa với chúng ta một thực tại khác hơn. Ngược lại. . .

Các câu Kinh Thánh sau đây cho chúng ta biết lẽ thật gì về chủ đề đang được bàn thảo? Công vụ 14:22; Phi-líp 1:29; 2 Ti-mô-thê 3:12.

Tuy nhiên, giữa những đau khổ của mình, chúng ta nên ghi nhớ hai điều.

Thứ nhất, Đấng Cơ Đốc, Chúa của chúng ta, đã phải chịu đựng tàn tệ hơn bất kỳ ai khác trong chúng ta từng trải nghiệm. Tại thập tự giá, Ngài “đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta” (Ê-sai 53:4); những gì chúng ta chỉ biết một cách cá thể, Ngài đã phải chịu đựng một cách tập thể, cho tất cả chúng ta. Ngài vốn là vô tội đã trở thành “tội lỗi vì chúng ta” (2 Cô-rinh-tô 5:21), và đã trải qua tận cùng đau khổ, mà chúng ta là những vật thọ tạo đầy tội lỗi không thể hình dung được.

Nhưng điều thứ hai, khi chúng ta trải qua những nỗi đau buồn, chúng ta nên nhớ đến kết quả cao đẹp mà sự khổ nạn của Đấng Cơ Đốc đã mang lại, tức là những gì chúng ta đã được hứa qua những gì Đấng Cơ Đốc đã hy sinh vì chúng ta.

Xin đọc Giăng 10:28, Rô-ma 6:23, Tít 1:2 và 1 Giăng 2:25. Chúng ta đã được hứa những gì?

Dù chúng ta có bất cứ đau khổ nào, rất cảm tạ Đức Chúa Giê-su, rất cảm tạ lòng hy sinh cao cả của Ngài để hứng chịu các trừng phạt cho tội lỗi của chúng ta, rất cảm tạ các lẽ thật trong phúc âm — nhờ đức tin mà chúng ta có thể được xem là công bình trong Đức Chúa Giê-su ngay bây giờ — chúng ta có lời hứa về đời sống vĩnh cửu. Chúng ta có lời hứa rằng, vì những gì Đấng Cơ Đốc đã làm, vì sự trọn vẹn của cuộc sống và gương hy sinh hoàn hảo của Ngài, sự tồn tại của chúng ta trên đất này, đầy gian nan, thất vọng và mất mát, chỉ là một khoảnh khắc, một chớp nhoáng, một đời sống phù du, trái ngược với cõi vĩnh hằng đang đón đợi chúng ta, một cõi vĩnh phúc trong trời mới, đất mới, một cõi sẽ không còn bóng dáng tội lỗi, hoặc đau thương hoặc chết mất. Và viễn cảnh tươi đẹp ấy được hứa với chúng ta một cách chắc chắn tuyệt đối là nhờ nơi Đấng Cơ Đốc và cuộc thử thách của Ngài, hầu cho, một ngày nào đó rất gần, Ngài sẽ thấy “kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn” (Ê-sai 53:11).

“Ba lần Ngài đã thốt ra lời cầu nguyện đó. Ba lần nhân loại đã bị thu mình lại từ sự hy sinh cuối cùng, cao cả. Nhưng giờ đây, lịch sử loài người xuất hiện trước Đấng Cứu rỗi của thế gian. Ngài thấy rằng những kẻ vi phạm luật pháp, nếu bị bỏ mặc, sẽ bị hư mất. Ngài nhìn thấy sự bất lực của con người bé nhỏ. Ngài nhìn thấy sức mạnh ghê gớm của tội lỗi. Những tai ương khủng khiếp và tiếng thở than ai oán của một thế giới bị diệt vong nổi lên trước mặt Ngài. Ngài biết trước vận mạng đau buồn sắp xảy ra cho nó, và Ngài đã quyết định. Ngài sẽ trả bất cứ giá nào để cứu chuộc nhân loại. Ngài chấp nhận phép báp-têm bằng huyết của Ngài, để nhờ Ngài mà hàng triệu linh hồn đang giãy chết có thể được sự sống đời đời. Ngài đã từ bỏ thiên đình cao sang, nơi bản chất là sự thánh khiết, hạnh phúc và vinh quang, để cứu một con chiên đi lạc, một thế giới sa ngã vì lỡ lầm. Và Ngài cương quyết sẽ không từ bỏ sứ mệnh trọng đại của mình. Ngài sẽ trở thành con sinh tế không tì vết cho một nhân loại đã cố tình phạm tội. Lời cầu nguyện của Ngài giờ đây thấm nhuần lòng phục tùng: “Nếu chén này không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống, thì xin ý Cha được nên.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 690, 693.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Tư tưởng sau đây giúp ích gì cho chúng ta trong những đau khổ của chính mình: chính Đức Chúa Trời, trong con người của Đấng Cơ Đốc, đã phải chịu đựng nhiều hơn bất cứ ai trong chúng ta có thể? Những đau khổ của Đấng Cơ Đốc nhân danh chúng ta có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Chúng ta có thể rút ra niềm an ủi nào từ sự thật đáng kinh ngạc này? Khi bạn suy nghĩ về câu trả lời của mình, hãy ghi nhớ câu nói sau đây của bà Ellen G. White: “Tất cả những đau khổ do nơi tội lỗi đều đổ hết trên người của Con Trời vô tội.” — Selected Messages, quyển 3, trang 129.
  2. Cả lớp hãy ôn lại các khổ nạn của Đấng Cơ Đốc như đã được khảo sát trong bài học tuần này. Đấng Cơ Đốc đã phải đối diện với những thử thách nào? Chúng giống các thử thách của chúng ta ở những điểm nào, và khác ở những điểm nào? Chúng ta có thể học được gì từ cách Ngài đối phó với các thử thách này để có thể giúp chúng ta giữa vòng những thử thách của chính mình?
  3. Một số lời hứa trong Kinh Thánh ưa thích của bạn là gì, những lời hứa mà bạn có thể bám vào trong lúc buồn phiền và đau đớn? Hãy viết các lời ấy ra, xưng nhận chúng cho chính bạn và chia sẻ chúng trong lớp.
  4. Hãy viết một đoạn tóm tắt, nêu bật bất kỳ vài điểm chính nào bạn thu nhặt được từ các bài học của khóa này. Những câu hỏi nào đã được trả lời cho bạn? Những vấn đề nào vẫn chưa được giải quyết? Làm thế nào chúng ta có thể giúp nhau để vượt qua những nan đề vẫn còn khiến chúng ta bối rối và bận tâm?
Bài Học 12, 10 — 16 Tháng 9, 2022

CHẾT NHƯ HẠT GIỐNG

CÂU GỐC: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu hột giống lúa mì kia, chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều” (Giăng 12:24).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Phi-líp 2:5–9; Rô-ma 12:1, 2; 1 Sa-mu-ên 2:12–3:18; 1 Sa-mu-ên 13:1–14; Xa-cha-ri 4:1–14.

Hình ảnh của Đức Chúa Giê-su về một hạt lúa mì đang chết đi là một ví von rất sâu sắc về việc chúng ta phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời. Đầu tiên, đó là sự rơi rụng. Hạt nhân lúa mì rơi khỏi thân cây lúa giống như “hạt mưa sa” không thể kiểm soát được vị trí và cách thức nó rơi xuống đất. Nó không chọn được mặt đất bao quanh và sau đó sẽ phủ lấp nó.

Thứ hai, có sự đợi chờ. Vì hạt nhân lúa nằm trong đất, nó không biết tương lai sẽ ra sao. Nó không thể “tưởng tượng” được cuộc sống trong tương lai sẽ như thế nào, vì nó chỉ là một hạt lúa mì nhỏ bé.

Thứ ba, tiến trình này cũng bao gồm sự chết. Hạt nhân không thể trở thành thân cây lúa mì trừ khi nó từ bỏ tình trạng an toàn, thoải mái của một hạt nhân. Nó phải “chết”; nghĩa là, nó phải từ bỏ những gì đã luôn luôn là một phần của nó trước đó để có thể được biến đổi từ một hạt giống bé bỏng đơn sơ thành một cây ăn trái sum sê.

Đọc Phi-líp 2:5–9. Sứ điệp quan trọng nào được gửi gắm qua những câu Kinh Thánh này?

Văn hóa đương đại thúc giục tất cả chúng ta đòi hỏi và khẳng định quyền hạn của mình. Và tất cả những hành động này đều đáng cổ võ và thường là những gì cần nên làm. Nhưng cũng như với Đức Chúa Giê-su, thánh ý của Đức Chúa Trời có thể yêu cầu chúng ta từ bỏ các quyền hạn của mình một cách tự nguyện để phụng sự Ngài theo những cách có thể tạo nên ảnh hưởng vĩnh cửu cho thiên đàng. Tiến trình từ bỏ quyền hạn có thể đầy khó khăn và bứt rứt, nhưng tạo ra những điều kiện của một lò trui rèn nhân cách.

Hãy xem cách Đức Chúa Giê-su đã thực hiện sự dạy dỗ trên như thế nào (Phi-líp 2:5–8). Các câu Kinh Thánh này mô tả ba bước mà Ngài đã thực hiện để phục tùng ý muốn của Đức Chúa Cha. Và ở phần đầu, sứ đồ Phao-lô nhắc nhở chúng ta một cách đầy báo động: “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có” (Phi-líp 2:5).

Để có thể cứu chuộc chúng ta, Đức Chúa Giê-su đã từ bỏ quyền bình đẳng của Ngài với Đức Chúa Cha và giáng trần trong hình thể và giới hạn của một con người (Phi-líp 2:6, 7).

Đức Chúa Giê-su không đến với tư cách là một nhân vật vĩ đại và vinh hiển, nhưng với tư cách là một tôi tớ cho những người khác (Phi-líp 2:7).

Là một đầy tớ mang nhân tính, Đức Chúa Giê-su không sống một cuộc sống yên bình và lâu dài nhưng trở nên “vâng phục cho đến chết”. Ngài thậm chí không chết một cách cao quý và hiển vinh. Không, Ngài đã “vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự giá!” (Phi-líp 2:8).

Tấm gương cao cả này của Đức Chúa Giê-su là kiểu mẫu cho chúng ta trong những lĩnh vực nào của cuộc sống? Nếu các quyền hạn và sự bình đẳng là điều phải lẽ và cần được bảo vệ, bạn sẽ giải thích thế nào về lập luận rằng đôi khi cần phải từ bỏ những giá trị này? Bây giờ hãy đọc Phi-líp 2:9. Câu Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu như thế nào về lý do của hành động phục tùng ý muốn Đức Chúa Trời?

 

Hãy cầu xin sự khôn ngoan từ Đức Thánh Linh bằng cách hỏi: “Ngay bây giờ tôi đang khư khư nắm giữ quyền hạn nào mà thực sự chúng có thể là rào cản đối với việc tuân theo ý muốn của Đức Chúa Giê-su, gồm có việc phục vụ gia đình, hội thánh và những người xung quanh tôi? Tôi sẵn sàng chịu đựng nỗi cực nhọc tới mức độ nào để phục vụ tha nhân hiệu quả hơn?”

Nhiều Cơ Đốc nhân chân thành muốn biết ý muốn của Đức Chúa Trời đối với đời sống của họ. “Giá như tôi có thể biết được ý muốn của Đức Chúa Trời cho cuộc đời mình, thì tôi sẽ hy sinh mọi thứ cho Ngài.” Nhưng ngay cả sau khi đã hứa với Chúa như vậy, chúng ta vẫn có thể nhầm lẫn về ý muốn của Ngài. Lý do của sự nhầm lẫn này có thể tìm thấy trong Rô-ma 12:1, 2. Sứ đồ Phao-lô đang miêu tả cách chúng ta có thể biết được ý muốn của Đức Chúa Trời, và ông đưa ra một nhận xét quan trọng: nếu bạn muốn biết thánh ý của Ngài, trước tiên bạn phải hy sinh!

Xin đọc Rô-ma 12:1, 2. Sứ đồ Phao-lô viết rằng chúng ta có thể “thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (Rô-ma 12:2) khi:
1. Chúng ta hiểu đúng về “sự thương xót của Đức Chúa Trời” đối với chúng ta (Rô-ma 12:1).
2. Chúng ta dâng mình làm của lễ sống cho Đức Chúa Trời (Rô-ma 12:1).
3. Tâm trí chúng ta được đổi mới (Rô-ma 12:2).

Chỉ tâm trí được tái tạo mới thực sự có khả năng hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhưng sự đổi mới này phụ thuộc vào cái chết của chúng ta trước hết. Cứ xem sự kiện Đức Chúa Giê-su chịu đau khổ vì chúng ta, nó vẫn chưa đủ — Ngài cũng cần phải chết.

Hãy cầu xin Đức Thánh Linh chỉ cho bạn bất kỳ lĩnh vực nào mà bạn chưa hoàn toàn “chết”. Đức Thánh Linh cần bạn buông bỏ những điều sở hữu nào để bạn trở thành “của lễ sống” cho Đức Chúa Trời?

Khi các lĩnh vực trong cuộc sống của chúng ta chưa hoàn toàn chết hẳn đi đối với bản thân chúng ta, Đức Chúa Trời cho phép những thử thách để khiến chúng ta phải chú ý đến các lĩnh vực ấy. Tuy nhiên, sự đau khổ của chúng ta không chỉ giúp chúng ta trực diện tội lỗi của mình — nó còn cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về sự kiện Đức Chúa Giê-su đã hiến chính thân Ngài cho chúng ta. Bà Elisabeth Elliot viết, “Từ bỏ khát vọng sâu thẳm nhất trong con tim của mình có lẽ gần giống nhất cảm nghĩ của chúng ta về thập tự giá . . . kinh nghiệm của chính chúng ta về việc bị đóng đinh, tuy không thể nào sánh bằng kinh nghiệm của Đấng Cứu Thế, dầu vậy vẫn có thể cho chúng ta một cơ hội để hiệp thông với Ngài qua những đau khổ của Ngài hầu biết về Ngài nhiều hơn. Trong mọi hình thức đau khổ của chúng ta, Ngài kêu gọi chúng ta bước vào sự hiệp thông ấy.” — Elisabeth Elliot, Quest for Love (Grand Rapids, MI: Fleming H. Revell, 1996), trang 182.

Xin đọc và cầu nguyện qua Rô-ma 12:1, 2. Hãy suy nghĩ về những điều bạn cần từ bỏ để trở thành con sinh tế. Suy tư này giúp bạn hiểu thế nào những đau khổ mà Đức Chúa Giê-su phải đối mặt thay cho bạn trên thập tự giá? Làm thế nào kiến thức này có thể giúp bạn bước lên nhịp cầu hiệp thông cùng Đức Chúa Giê-su và những nỗi đau khổ của Ngài?

“Đức Giê-hô-va đến đứng tại đó, gọi như các lần trước: Hỡi Sa-mu-ên! Hỡi Sa-mu-ên! Sa-mu-ên thưa: Xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đương nghe!” (1 Sa-mu-ên 3:10).

Bạn đã bao giờ nghe thấy tiếng nói nhỏ nhẹ giống như vậy của Đức Thánh Linh nhưng lại làm ngơ? Hậu quả là mọi thứ đều xảy ra không theo như ý muốn của bạn, và sau này bạn hối hận: “Tại sao mình đã không nghe lời Đức Thánh Linh?”

Đầu tiên, Sa-mu-ên mô tả câu chuyện về một ông lão và hai đứa con trai gian ác không nghe lời Chúa và một cậu bé đã làm theo. Mặc dù đã có những lời cảnh báo nghiêm trọng từ Đức Chúa Trời, những người lẽ ra cần nghe theo để thay đổi hướng đi của mình đã cự tuyệt.

Xin đọc câu chuyện của họ trong 1 Sa-mu-ên 2:12–3:18. Ở đây có sự tương phản rõ ràng nào giữa những người lắng nghe Đức Chúa Trời và những người không lắng nghe?

Các con trai của thầy tế lễ Hê-li có những ý tưởng theo đường riêng của mình thay vì theo ý tưởng của Chúa. Ngay cả ông Hê-li, sau khi nghe biết ý muốn của Đức Chúa Trời dường như vẫn coi thường và không có bất cứ biện pháp nào khác ngoại trừ cảnh cáo các con mình lấy lệ. Và các con trai ông rõ ràng đã không sẵn sàng dâng hiến mọi mặt của đời sống họ theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Thật hoàn toàn tương phản với cậu bé Sa-mu-ên!

Nhà thuyết giáo Charles Stanley diễn tả sự cần thiết để trau dồi một thái độ cởi mở với tiếng nói của Đức Chúa Trời. Ông gọi nó là “chuyển sang tâm trạng vô tư”. Ông nói: “Đức Thánh Linh . . . không nói với chúng ta chỉ cốt để truyền thông nhưng để nhận được phản hồi. Và Ngài biết có thuyết phục chúng ta mấy cũng vô ích khi tâm trí của chúng ta bị thu hút hầu hết bởi các kế hoạch riêng tư. Khi chúng ta rơi vào tình trạng ấy, Ngài thường im lặng. Ngài đợi đến khi đầu óc chúng ta đủ vô tư để có thể lắng nghe lời Ngài hầu cuối cùng có thể tuân theo.” — Charles Stanley, The Wonderful Spirit-Filled Life, (Nashville, TN: Thomas Nelson Publishers, 1992), trang 179, 180.

Bạn nghĩ ông Stanley có ý gì khi nói cần trở nên “đủ vô tư”? Trong những lúc suy nghĩ về sự cởi mở của lòng mình với Đức Chúa Trời, chướng ngại gì thường khiến bạn không đủ “vô tư để nghe và cuối cùng vâng lời”? Bạn cần chương trình gì trong đời để trau dồi thái độ cởi mở hơn với tiếng nói của Đức Chúa Trời và để hun đúc quyết tâm vâng theo sự chỉ dẫn của Ngài?

Khi bà Ê-va phạm tội trong Vườn Địa Đàng, không đơn giản chỉ là vì bà nghi ngờ lời Chúa. Trọng tâm của vấn đề là bà mang ảo tưởng mình có đủ khôn ngoan để tự quyết định điều thiện hoặc điều ác. Bà tin vào khả năng phán đoán của mình. Khi dựa vào mình thay vì dựa vào Lời Đức Chúa Trời, chúng ta đang mở tung cổng lòng cho cơn lũ nhiễu nhương ùa vào.

Câu chuyện về vua Sau-lơ đã thuật lại các bước nhà vua đã làm để tiến đến tình trạng tự lực, và vì thế một bi kịch đã diễn ra nhanh chóng sau đó. Tiên tri Sa-mu-ên đã xức dầu để ông Sau-lơ làm vua như người đại diện cho Đức Chúa Trời (1 Sa-mu-ên 10:1). Tiếp theo, tiên tri đưa cho vua Sau-lơ những chỉ dẫn cụ thể (1 Sa-mu-ên 10:8), nhưng nhà vua đã từ chối tuân theo.

Xin đọc phần tiếp theo của câu chuyện trong 1 Sa-mu-ên 13:1–14. Vua Sau-lơ đã làm gì dẫn đến sự sụp đổ của triều đại mình?

Chẳng bao lâu sau khi đăng quang, có ba bước dần dần đưa vua Sau-lơ đến sự dựa vào sức riêng của mình mà không cần đến sức của Đức Chúa Trời. Điều nguy hiểm ở đây là không bước nào tự riêng nó quá tệ hại đến mức báo động. Tuy nhiên, mỗi bước chứa đựng những mầm mống của bi kịch cuối cùng bởi vì tất cả chúng đều không dựa vào năng quyền của Chúa. Xin lưu ý thứ tự các bước mà qua đó sự sa ngã của vua Sau-lơ đã xảy ra.
1. Vua Sau-lơ nói: “Tôi thấy” — sự phân tán của quân đội và sự vắng mặt của tiên tri Sa-mu-ên (1 Sa-mu-ên 13:11). Vua bị áp lực, và ông đã tận mắt đánh giá những gì đang xảy ra.
2. Vua Sau-lơ chuyển từ “Tôi thấy” sang “Tôi nói” — tức là người Phi-li-tin sẽ chinh phục họ (1 Sa-mu-ên 13:12). Những gì nhà vua chứng kiến định hình những gì ông nói, hoặc phỏng đoán, về tình hình.
3. Sau đó, vua Sau-lơ chuyển từ “Tôi nói” sang “Tôi miễn cưỡng” — dâng của lễ (1 Sa-mu-ên 13:12). Những gì vua chỉ nghĩ trong đầu bây giờ đã định hình cảm xúc của ông.

Tất cả chúng ta đều đã làm giống vậy: chúng ta dựa vào thị giác của con người, điều này khiến chúng ta dựa vào sự suy nghĩ của con người, dẫn đến chúng ta dựa vào cảm xúc bản thân. Và sau đó chúng ta hành động theo những cảm xúc đó.

Bạn nghĩ tại sao vua Sau-lơ lại dễ dàng làm theo sự phán đoán của mình, mặc dù bên tai ông vẫn còn văng vẳng lời chỉ dẫn rành mạch của Đức Chúa Trời? Nếu chúng ta biết con người mình thật mỏng manh và hiểu biết rất hạn hẹp, tại sao chúng ta vẫn cố gắng dựa vào chính mình? Chúng ta có thể làm gì để học cách tin cậy vào các mệnh lệnh của Chúa hơn là vào bản thân?

Như chúng ta đã thấy ngày hôm qua, sự phục tùng ý muốn Đức Chúa Trời có thể bị hủy hoại khi chúng ta dựa vào sức mạnh của chính mình. Cũng có thể là sự dựa vào những giải pháp khác nhằm thay thế cho Đức Chúa Trời. Khi một số người cảm thấy xuống tinh thần, họ đi mua sắm một thứ gì đó để cho lòng khuây khỏa. Khi một số người cảm thấy mình thua kém, họ chạy theo danh vọng. Khi người ta gặp khó khăn với người bạn đời, họ tìm kiếm một đối tượng khác để mang lại cho họ tình thân mật và niềm phấn khích.

Nhiều thứ chúng ta sử dụng có thể giúp giảm bớt áp lực, nhưng các thứ thay thế này không nhất thiết giải quyết được vấn đề hoặc dạy chúng ta cách xử lý tình hình một cách hiệu quả hơn trong lần tới. Chỉ có sự trợ giúp siêu nhiên từ Chúa mới có thể làm được điều đó. Vấn đề là nhiều khi chúng ta phụ thuộc vào những giải pháp “gọi là” thay thế cho Đức Chúa Trời hơn là phụ thuộc vào chính Ngài.

Dưới đây là ba cách mà chúng ta có thể dựa vào thay vì dựa vào Đức Chúa Trời:
1. Sử dụng lý luận của con người hoặc kinh nghiệm quá khứ trong khi chúng ta thực sự cần mặc khải mới từ Chúa.
2. Ngăn chặn các vấn đề khó khăn khỏi tâm trí mình khi chúng ta thực sự cần giải pháp thiên thượng.
3. Chạy trốn thực tại và tránh né Chúa trong khi chúng ta thực sự cần thông công với Ngài để nhận được sức mạnh thiên đàng.

Ông Xa-cha-ri giúp chúng ta tập trung vào những gì thực sự quan trọng khi chúng ta bị cám dỗ với ý muốn sử dụng những điều khác thay cho Chúa. Sau nhiều năm xa cách, cuối cùng những người lưu vong Giu-đa đã hồi hương từ xứ Ba-by-lôn và ngay lập tức bắt tay xây lại đền thánh. Nhưng họ đã gặp muôn vàn chống đối (Ê-xơ-ra 4–6 cho biết bối cảnh sự việc này). Vì vậy, ông Xa-cha-ri đã gửi một thông điệp khích lệ tới ông Xô-rô-ba-bên, người đang dẫn đầu dự án.

Xin đọc thông điệp này trong Xa-cha-ri 4. Đức Chúa Trời muốn nói gì trong Xa-cha-ri 4:6? Làm thế nào việc hoàn thành một dự án xây dựng có thể bị ảnh hưởng bởi Đức Thánh Linh? Câu chuyện lịch sử này dạy chúng ta bài học nào về mối quan hệ giữa Đức Thánh Linh và những việc chúng ta làm?

Đức Chúa Trời đã không ngăn chặn âm mưu chống đối việc trùng tu đền thánh cũng như không để ông Xô-rô-ba-bên khỏi căng thẳng trong việc đối phó với trở ngại đó. Và không phải lúc nào Chúa cũng sẽ bảo vệ chúng ta khỏi sự chống đối. Nhưng khi sự chống đối xảy đến, Đức Chúa Trời có thể dùng nó như một thử thách để dạy chúng ta phải biết tùy thuộc vào Ngài.

Khi bị căng thẳng, phản ứng đầu tiên của bạn là gì? Món ăn? Truyền hình? Cầu nguyện? Phục tùng Chúa? Câu trả lời của bạn cho biết gì về bản thân bạn và những điều bạn cần học hỏi hoặc thay đổi?

Sự phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ xảy ra khi các ước muốn và tham vọng của chúng ta đã tàn lụi. Nó sẽ mở ra con đường cho nỗ lực thực sự phục vụ tha nhân. Chúng ta không thể sống cho Đức Chúa Trời mà không trở thành con sinh tế. Chúng ta cũng không thể sống cho Ngài mà không bằng lòng luôn mở cửa lòng để nghe tiếng gọi của Ngài. Để ý muốn của chúng ta thực sự phục tùng ý muốn của Chúa, chúng ta phải sáng suốt nhận ra những nguy hiểm của hành động dựa vào chính mình và dựa vào những gì thay thế cho Lời và quyền năng của Đức Chúa Trời. Vì sự phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời là trọng tâm của một đời sống Cơ Đốc xứng đáng, Ngài có thể cho phép các thử thách xảy ra để dạy chúng ta cần biết lệ thuộc nơi Ngài.

“Việc bỏ bê bổn phận làm cha của thầy tế lễ Hê-li không bậc làm cha mẹ nào trong nước mà không biết. Hậu quả của tình cảm không thánh khiết của ông hoặc sự thiếu quyết tâm để thi hành một bổn phận khó ưa đã khiến ông phải gặt hái tội ác gây ra bởi các đứa con trai ương ngạnh của mình. Cả những cha mẹ nào cho phép điều ác lẫn các con cái nào thực hành điều ác đều phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ không chấp nhận sự hy sinh hay dâng hiến nào nhằm khỏa lấp trọng tội ấy.” —Ellen G. White, Child Guidance, trang 276.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Cả lớp hãy nói về sự hạ mình khó tin của Con Đức Chúa Trời khi đến thế gian làm người để chết cho tội lỗi của chúng ta. Sự kiện này cho mỗi chúng ta biết ý nghĩa gì về việc hy sinh bản thân và từ bỏ bản thân cho lợi ích của người khác? Mặc dù chúng ta chắc chắn không thể làm bất cứ điều gì có thể so với những điều Đức Chúa Giê-su đã làm, nguyên tắc của các hành động của Ngài rất rõ ràng và chúng ta phải luôn đặt nó trước mặt. Bằng những cách nào, trong phạm vi của mình, chúng ta có thể bắt chước cách phục tùng và hy sinh bản thân mà Đức Chúa Giê-su đã cho chúng ta thấy tại thập tự giá?
  2. Đối với nhiều người, phục tùng Đức Chúa Trời mà không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo thì quả là đáng sợ. Bạn sẽ khuyên những người dựa vào bản thân hơn là dựa vào Chúa như thế nào? Bạn sẽ nói gì để giúp họ xóa bỏ nỗi sợ hãi về việc không biết — hoặc không thể kiểm soát được — tương lai?
  3. Với tư cách là một lớp học, hãy dành thời gian cầu nguyện cho những người mà bạn biết gặp khó khăn trong việc phục tùng ý muốn Đức Chúa Trời, để họ có thể thấy rằng tin cậy ý muốn của Đức Chúa Trời là con đường duy nhất dẫn đến bình an lâu dài. Đồng thời, bạn có thể làm những việc thiết thực nào cho những người này để giúp họ thấy rằng đường lối của Ngài là tốt nhất và họ có thể đầu phục Đức Chúa Trời? Nói cách khác, làm thế nào Đức Chúa Trời có thể sử dụng bạn để giúp người khác biết về tình yêu thương và sự sẵn lòng cung cấp chu đáo của Ngài?
Bài Học 11, 3 — 9 Tháng 9, 2022

ĐỢI CHỜ TRONG HOẠN NẠN

CÂU GỐC: “Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ” (Ga-la-ti 5:22).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Rô-ma 15:4, 5; Rô-ma 5:3–5; 1 Sa-mu-ên 26; Thi thiên 37:1–11.

Những nhà khoa học đã làm một thí nghiệm với trẻ em 4 tuổi và kẹo dẻo marshmallow. Mỗi đứa trẻ được bảo rằng chúng sẽ được cho một cục kẹo dẻo; tuy nhiên, chúng sẽ được cho hai viên nếu đợi nhà khoa học trở lại phòng sau một công việc vặt. Một số đứa trẻ nhét kẹo dẻo vào miệng ngay khi nhà khoa học vừa rời đi; nhưng các đứa trẻ khác đã chờ đợi. Sự khác biệt đã được ghi nhận.

Những nhà khoa học này sau đó đã theo dõi những đứa trẻ này đến tuổi thiếu niên. Những em chịu chờ đợi trong cuộc thí nghiệm đã trở nên thích ứng hiệu quả hơn, làm học sinh giỏi hơn và tự tin hơn những em đã không chờ đợi. Có vẻ như lòng kiên nhẫn là biểu hiện của một điều gì đó lớn lao hơn và quan trọng trong nhân cách. Vì vậy, không có gì lạ khi Chúa bảo chúng ta phải trau dồi tính nhẫn nại.

Xin đọc Rô-ma 15:4, 5. Chúng ta tìm thấy ý tưởng gì trong những câu Kinh Thánh này?

Chúng ta thường thiếu kiên nhẫn về những điều chúng ta thực sự ham muốn hoặc đã được hứa nhưng chưa nhận được. Chúng ta thường chỉ hài lòng khi đạt được những gì chúng ta hằng ao ước. Và bởi vì hiếm khi đạt được những điều mình muốn vào lúc mình muốn, điều đó có nghĩa là chúng ta thường phải chịu đựng sự cáu kỉnh và thiếu kiên nhẫn. Và khi chúng ta ở trong tình trạng như vậy, hầu như chúng ta không thể duy trì một sự bình an và tin tưởng vào Chúa.

Theo định nghĩa, sự chờ đợi tạo cảm giác khó chịu hay “đau đớn”. Trong tiếng Do Thái, một trong những từ mang ý nghĩa “Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài” (Thi thiên 37:7) hoặc “hãy chờ đợi một cách kiên nhẫn” bắt nguồn từ một từ Do Thái có thể được dịch là “đau đớn nhiều”, “rung chuyển”, “run rẩy”, “bị thương”, “buồn bã”. Học tính nhẫn nại không dễ dàng; đôi khi đó chính là ý nghĩa thiết yếu của tình trạng “ở trong lò luyện” hay “chịu thử thách”.

Xin đọc Thi thiên 27:14, Thi thiên 37:7 và Rô-ma 5:3–5. Những câu thơ này diễn đạt ý gì với chúng ta? Tính kiên nhẫn dẫn đến điều gì?

Trong khi chờ đợi, chúng ta có thể tập trung vào một trong hai điều. Chúng ta có thể tập trung vào những ao ước mà chúng ta đang chờ đợi, hoặc chúng ta có thể tập trung vào Đấng nắm giữ những ao ước đó trong tay. Yếu tố tạo nên sự khác biệt khi chúng ta chờ đợi kết quả nào đó không phải là chúng ta phải đợi bao lâu mà là thái độ của chúng ta trong khi chờ đợi. Nếu chúng ta tin cậy Chúa, nếu chúng ta đặt cuộc đời mình trong tay Ngài, nếu chúng ta từ bỏ ý muốn của mình vì Ngài, thì chúng ta có thể tin tưởng rằng Ngài sẽ làm những gì tốt nhất cho chúng ta khi nào thuận lợi nhất cho chúng ta, cho dù đôi khi rất khó để tin như vậy.

Những gì bạn đang chờ đợi một cách tuyệt vọng? Làm thế nào bạn có thể học cách phó thác mọi thứ cho Đức Chúa Trời và tùy theo thời khóa biểu của Ngài? Hãy cầu nguyện thế nào để bạn có một thái độ hoàn toàn đầu phục và phục tùng Chúa.

Xin đọc Rô-ma 5:6 và Ga-la-ti 4:4. Các câu Kinh Thánh này nói cho chúng ta biết gì về thời khóa biểu của Đức Chúa Trời?

Trong các câu này, sứ đồ Phao-lô nói với chúng ta rằng Đức Chúa Giê-su đến để chết thay cho chúng ta vào thời điểm thích hợp nhất. Nhưng sứ đồ Phao-lô không cho chúng ta biết tại sao lại là thời điểm thích hợp. Rất dễ dàng để đọc những câu này và tự hỏi, Tại sao Đức Chúa Giê-su đã đợi hàng ngàn năm trước khi Ngài đến thế gian để giải quyết tội lỗi — không phải vũ trụ đã biết tội lỗi là một điều vô cùng xấu xa từ ngàn xưa hay sao? Chúng ta có thể hỏi tại sao Đức Chúa Giê-su lại phải chờ đến lúc phục lâm. Mỗi người chúng ta cũng đều có thể hỏi “Tại sao Chúa để quá lâu mới đáp lời cầu nguyện của tôi?”

Ví dụ, hãy nghĩ về lời tiên tri 70 tuần lễ trong Đa-ni-ên 9:24–27, lời tiên tri chỉ ra cho chúng ta biết Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si (hãy xem lại nếu bạn cần). Khoảng thời gian này là bao lâu? Khải thị này cho bạn biết gì về việc cần phải học cách chờ đợi mọi sự theo lịch trình của Đức Chúa Trời, ngay cả dường như quá lâu theo sự suy nghĩ của loài người chúng ta?

Có nhiều lý do thiêng liêng quan trọng khiến chúng ta phải trải qua thời gian đợi chờ. Đầu tiên, sự chờ đợi có thể khiến chúng ta chuyển sự chú ý của mình vào Chúa thay vì vào “đời” này. Thứ hai, sự chờ đợi cho phép chúng ta phát triển một bức tranh rõ ràng hơn về động lực và mong muốn của bản thân. Thứ ba, sự chờ đợi hun đúc tính kiên trì — sức chịu đựng tinh thần. Thứ tư, sự chờ đợi mở ra cánh cửa để phát triển nhiều sức mạnh tinh thần, chẳng hạn như đức tin và lòng tin cậy. Thứ năm, sự chờ đợi giúp chúng ta nhìn thấy dần dần sự sắp xếp của Đức Chúa Trời trong bức tranh toàn cảnh còn thiếu sót. Thứ sáu, chúng ta có thể không bao giờ biết lý do mình phải chờ đợi; do đó, chúng ta học cách sống bằng đức tin. Bạn có thể nghĩ ra bất kỳ lý do nào khác để chờ đợi không?

Bạn có thể tìm thấy những ví dụ nào trong Kinh Thánh về việc Đức Chúa Trời đang làm việc theo thời khóa biểu của Ngài hầu giúp bạn học cách tin tưởng rằng Ngài cũng sẽ làm những nhu cầu chính đáng của bạn theo thời khóa biểu của Ngài? (Ví dụ, hãy nghĩ về ông Áp-ra-ham và bà Sa-ra và lời hứa về một đứa con trai.) Đồng thời, hãy tự hỏi bản thân, “Tôi có thể làm điều gì đó khiến trì hoãn kết quả một lời cầu nguyện mà lẽ ra đã phải được đáp lại từ lâu?”

Trong 1 Sa-mu-ên 16:1–13, chúng ta thấy chàng trai trẻ Đa-vít được tiên tri Sa-mu-ên xức dầu làm vua. Tuy nhiên, đó là một dấu mốc trong một cuộc hành trình dài từ những cánh đồng của cha ông là Y-sai đến ngai vàng ở Giê-ru-sa-lem. Không còn nghi ngờ gì nữa, có lúc chàng cảm thấy mình đang ở giữa một lò luyện.

Đầu tiên, chàng được đòi đến để khảy đàn xoa dịu tinh thần đang bối rối của vua Sau-lơ (2 Sa-mu-ên 16). Sau đó, nhờ chiến thắng tên khổng lồ Gô-li-át, chàng trở thành vị anh hùng dân tộc rất trẻ của Y-sơ-ra-ên (1 Sa-mu-ên 17). Và sau đó nữa, có rất nhiều năm chàng đã phải chui nhủi trốn chạy để giữ mạng sống mình khỏi bàn tay ganh tị của vua Sau-lơ. Cả vua và hoàng tử Giô-na-than đều biết rằng người trẻ tuổi Đa-vít sẽ làm vua Y-sơ-ra-ên (1 Sa-mu-ên 23:17, 1 Sa-mu-ên 24:20). Nhưng chàng đã không lợi dụng đặc ân đó để làm bất cứ điều gì nhằm thăng tiến địa vị do Đức Chúa Trời ban cho mình. Trên thực tế, chàng dường như còn làm ngược lại. Ngay cả khi bị vua Sau-lơ tìm cách truy diệt, và chàng đã lén cắt một mảnh vải hoàng bào trong lúc nhà vua không hay biết để chứng minh là chàng đã không động đến vua, chàng vẫn hối hận là mình đã mắc tội phạm thượng với vua (1 Sa-mu-ên 24:5–7). Rồi sau đó khi bị vua Sau-lơ tiếp tục tìm cách cố giết, chàng vẫn cự tuyệt ám sát nhà vua dầu đã nắm được cơ hội trong tay (1 Sa-mu-ên 26:7–11).

Xin đọc 1 Sa-mu-ên 26:1–11. Tại sao chàng trai trẻ Đa-vít từ chối giết vua Sau-lơ? Điều này dạy chúng ta những nguyên tắc nào về cách Đức Chúa Trời thực hiện những kế hoạch của Ngài cho cuộc sống của chúng ta?

 

Bây giờ hãy đọc 1 Sa-mu-ên 26:12–25. Việc anh hùng dân tộc Đa-vít từ chối giết vua Sau-lơ ảnh hưởng đến nhà vua như thế nào? Điều này dạy chúng ta điều gì về lợi ích của việc trông đợi Đức Chúa Trời?

Nhìn vào toàn bộ con đường lên ngôi của vua Đa-vít, có lẽ chúng ta có thể tóm tắt trong một câu ngắn gọn — đừng lấy trước những gì Chúa chưa ban. Quà tặng của Đức Chúa Trời luôn luôn được nhận một cách tốt nhất từ chính bàn tay của Ngài và theo lịch trình của Ngài. Điều này có thể đòi hỏi một thời gian chờ đợi lâu dài. Những cọng giá có thể nảy mầm cực kỳ nhanh trong vòng vài giờ; ngược lại, một cây sồi sẽ mất nhiều năm để tăng trưởng, nhưng mà sau đó, khi gió to đến, nó sẽ không bị bật gốc.

Hãy nghĩ xem người trai trẻ Đa-vít có thể biện minh cho việc giết Sau-lơ một cách dễ dàng như thế nào. (Nói gì thì nói, chàng cũng đã được hứa rằng mình sẽ nhận được ngai vàng, và, dù sao đi nữa, vua Sau-lơ cũng là một kẻ đại ác.) Tuy nhiên, hành động của chàng nói lên đức tin thực sự nơi Đức Chúa Trời. Bạn có thể rút ra bài học nào từ ví dụ này để áp dụng cho chính mình về một ước muốn nào đó?

Cuộc đọ sức trên đỉnh núi Cạt-mên đã kết thúc (1 Các Vua 18). Lửa từ trời giáng xuống, mọi người đều thừa nhận Đức Chúa Trời thật, và các tiên tri giả đã bị xử tử. Đức Chúa Trời đã được minh chứng. Bạn có thể tưởng rằng sức mạnh thuộc linh của tiên tri Ê-li đang ngày càng phát triển, nhưng đột nhiên ông nghe thấy một điều gì đó khiến ông quá hãi hùng đến mức muốn chết. Xin đọc phần còn lại của câu chuyện trong 1 Các Vua 19:1–9. Những lời cuối cùng trong câu chuyện thật đáng lo ngại cho tình trạng của tiên tri: “có lời của Đức Giê-hô-va phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi?” (1 Các Vua 19:9). Rõ ràng là tiên tri Ê-li đang ở nhầm chỗ vì đã hối hả bỏ chạy do lòng quá kinh hãi.

Sau sự can thiệp tích cực như vậy của Đức Chúa Trời trên núi Cạt- mên, lẽ ra tiên tri Ê-li phải tỏ ra tin tưởng hết lòng; nhưng thay vào đó, ông ta chạy trốn cho tính mạng của mình. Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ tấm gương xấu này?

Câu chuyện của tiên tri minh họa một ý tưởng quan trọng: khi chúng ta hấp tấp, chúng ta rất dễ đến nhầm địa điểm. Trong trường hợp của tiên tri Ê-li, chính nỗi sợ hãi đã khiến ông bị choáng ngợp nên lao vào sa mạc và ước gì mình chưa từng được sinh ra. Nhưng có những lý do khác cũng khiến chúng ta vội vã đi ra ngoài kế hoạch của Đức Chúa Trời đã dành cho chúng ta.

Xin đọc các câu Kinh Thánh sau đây. Sáng thế Ký 16:1–3; Dân số Ký 20:10–12; Các Quan xét 14:1–3; Ma-thi-ơ 20:20, 21; Lu-ca 9:52–56; Công vụ 9:1. Lý do gì đã khiến các nhân vật được miêu tả ở đây hấp tấp đi ra ngoài ý định của Đức Chúa Trời?

Rất dễ dàng để bị những điều như tham vọng, giận dữ, đam mê, thiếu đức tin, hoặc cái được gọi là “lòng nhiệt thành” quá đáng đối với Chúa khiến chúng ta hồ đồ chạy tới những nơi mà chúng ta không nên đến. Không ai tránh được nguy cơ này. Chìa khóa giữ mình là nuôi dưỡng một đức tin đầy trọn nơi lòng tốt và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, Đấng mà chúng ta biết rất yêu thương chúng ta và mong muốn những điều tốt nhất cho chúng ta. Nắm giữ được chìa khóa ấy không tự động xảy ra. Niềm tin có thể là một món quà, nhưng đó là một món quà cần được bảo vệ, vun xới, và bồi dưỡng.

Thi Thiên 37:4 là một lời hứa tuyệt diệu. Hãy tưởng tượng viễn ảnh đạt được những gì bạn luôn mong muốn. Nhưng nên nhớ rằng nhận được những ước muốn của mình phụ thuộc vào việc chúng ta có một tấm lòng vui thỏa trong Chúa hay không. Vậy “khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va” có nghĩa gì?

Xin đọc Thi thiên 37:1–11. Bối cảnh của Thi thiên 37:4 có lẽ làm người đọc hơi ngạc nhiên. Vua Đa-vít đang viết về tình cảnh bị bao vây bởi những kẻ đang làm đủ cách để chống lại Đức Chúa Trời và chống lại ông. Khi người khác tìm cách chống lại chúng ta, phản ứng tự nhiên của chúng ta thường là nổi giận hoặc tìm cách biện minh cho bản thân. Nhưng vua Đa vít thì khuyên ngược lại.

Trong các câu sau đây, vua Đa-vít có lời khuyên nào cho dân sự Đức Chúa Trời đang ở trong tình huống này?

Thi thiên 37:1
Thi thiên 37:5
Thi thiên 37:7
Thi thiên 37:8

Xin đọc lại Thi thiên 37:4. Trong ngữ cảnh của các câu bạn vừa nhận xét ở trên, “khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va” có nghĩa gì?

Vua Đa-vít lặp đi lặp lại theo nhiều cách khác nhau “Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va”. Hãy tin cậy Ngài sẽ hành động. Đừng buồn phiền, bởi vì Đức Chúa Trời là Chúa của bạn và Ngài đang làm việc cho bạn — ngay cả trong lúc này. Bạn không cần phải lao đầu vào để cố gắng sắp xếp mọi thứ một mình. Cha của bạn ở trên trời là Đấng nắm quyền kiểm soát. Hãy tin tưởng Ngài. Hãy tin cậy Ngài hoàn toàn.

Trong bối cảnh trên, vua Đa-vít diễn tả lòng vui mừng nơi Chúa. Làm vui lòng Đức Chúa Trời có nghĩa là chúng ta sống trong trạng thái hoàn toàn tin cậy. Không gì có thể làm xáo trộn sự bình an của chúng ta, bởi vì Đức Chúa Trời ở đây và đang làm việc. Chúng ta có thể ngợi khen Ngài, thậm chí có thể mỉm cười, bởi vì không ai có thể hơn Đức Chúa Trời của chúng ta! Khi chúng ta có thể học cách suy nghĩ và hành động như vậy, chúng ta thực sự sẽ nhận được điều mà lòng mình khao khát, bởi vì sẽ nhận được những gì mà Cha yêu thương muốn ban cho chúng ta, vào thời điểm có lợi nhất cho chúng ta và cho vương quốc của Ngài.

Làm thế nào bạn có thể học cách “khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va”? Hãy dành một chút thời gian để cầu nguyện, tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời về cách nào để thực hành này có thể trở thành sự thực trong cuộc sống của bạn.

Kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta có thể đòi hỏi chúng ta phải trông đợi rất nhiều, và thực sự điều này có thể cảm thấy giống như một sự thử thách. Học tính kiên nhẫn trong thời gian đợi chờ có thể làm được khi chúng ta tập trung vào chính Đức Chúa Trời và tin tưởng rằng Ngài đang hành động cho chúng ta. Có nhiều lý do để chờ đợi, nhưng tất cả đều liên hệ đến tiến trình thực hiện các kế hoạch của Đức Chúa Trời cho chúng ta và cho vương quốc của Ngài. Chúng ta có thể sẽ mất mát nhiều nếu chúng ta nôn nả đi trước Chúa, nhưng chúng ta có thể thu được nhiều lợi ích bằng cách duy trì thái độ tin cậy và vui mừng nơi Ngài. Chúa cân và đo đếm mọi thử thách mà chúng ta trải nghiệm.

“Tôi không thể đoán được mục đích của Đức Chúa Trời trong cơn khổ nạn của tôi, nhưng Ngài biết điều gì là điều tốt nhất cho tôi, và tôi sẽ giao phó linh hồn, thể xác và tinh thần của tôi cho Ngài như là Đấng Tạo Hóa thành tín của tôi. ‘vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó’ (2 Ti-mô-thê 1:12). Nếu chúng ta dạy dỗ và rèn luyện tâm hồn mình để có thêm đức tin, tình yêu thương, tính kiên nhẫn và lòng tin cậy hoàn toàn nơi Cha thiên thượng, thì tôi biết rằng, khi vượt qua các tranh chấp trong cuộc đời này, tôi sẽ có nhiều bình an và hạnh phúc hơn mỗi ngày.

“Chúa rất đau lòng khi chúng ta băn khoăn và lo lắng đến nỗi bị lọt ra khỏi vòng tay bồng ẵm của Đức Chúa Giê-su. Chúng ta cần có thêm sự trầm tĩnh quan sát và chờ đợi. Chúng ta nghĩ rằng, trừ phi cảm thấy bế tắc, thì chúng ta cứ tiếp tục tìm kiếm những dấu hiệu nội tâm nào cho phù hợp với hoàn cảnh thay vì tìm kiếm những dấu hiệu ngoại tại; nhưng chúng ta nên nhớ rằng nhận thức về sự an bài của Chúa không phải là cảm xúc nội tâm mà là đức tin.” — Ellen G. White, Selected Messages, tập 2, trang 242.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Việc Đức Chúa Giê-su “lượng định” mọi thử thách có nghĩa là gì? Biết tín điều này có thể giúp chúng ta như thế nào trong khi chờ đợi?
  2. Yêu cầu mọi người trong lớp làm chứng từ kinh nghiệm bản thân về sự kiên nhẫn chờ đợi. Nỗi sợ hãi của họ, niềm vui của họ là gì? Họ đã đối phó như thế nào? Họ đã học được những gì? Họ đã bám vào những lời hứa nào?
  3. Bạn có thể làm gì với tư cách một hội thánh hoặc một lớp học để giúp đỡ những người khác đang gặp thử thách khi họ chờ đợi một kết quả nào đó chưa xảy ra vì nó theo lịch trình của Đức Chúa Trời?
  4. Vai trò của cầu nguyện trong việc phát triển lòng nhẫn nại là gì? Bạn có thể cầu nguyện cho những người khác để Đức Thánh Linh phát triển sự kiên nhẫn trong cuộc sống của họ không?
Bài Học 10, 27 Tháng 8 — 2 Tháng 9, 2022

NHU MÌ TRONG CƠN THỬ THÁCH

CÂU GỐC: “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” (Ma-thi-ơ 5:5).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Ê-xê-chi-ên 24:15–27; Xuất Ê-díp-tô Ký 32:1–14; Ma-thi-ơ 5:43–48; 1 Phi-e-rơ 2:18–25; Thi thiên 62:1–8.

Chúng ta không nghe thấy từ nhu mì được sử dụng nhiều, ngoại trừ khi đọc về cuộc đời của thủ lĩnh Môi-se hoặc khi nghiên cứu các Phước lành trong bài giảng trên núi của Đức Chúa Giê-su. Cũng không khó để tìm ra lý do cho sự thiếu sót này. Tính nhu mì được định nghĩa là “chịu đựng tổn thương với sự kiên nhẫn và không oán giận.” Không có gì ngạc nhiên khi chúng ta không nghe nói nhiều về đức tính quý báu này vì nó hầu như không phải là một đặc điểm được tôn trọng trong văn hóa ngày nay. Đôi khi Kinh Thánh dịch từ này là “khiêm nhường”. Một lần nữa, khiêm tốn cũng không phải là một tính nết được hầu hết các nền văn hóa coi là điều đáng ao ước.

Nhưng tính nhu mì, chịu đựng thương tổn với sự kiên nhẫn và không oán hận, là một trong những đặc điểm nổi bật nhất của Đức Chúa Giê-su và những người theo Ngài. Tuy nhiên, nó không dừng ở đó: tinh thần nhu mì có thể là một vũ khí lợi hại trong tay những người đang ở giữa cơn đau đớn và khổ sở. Thật vậy, lò luyện là một nơi rất tốt để học tấm lòng nhu mì, vì nhờ lòng nhu mì và những tan vỡ của chính chúng ta, chúng ta có thể trở thành nhân chứng hùng hồn cho Đức Chúa Trời.

Ông Oswald Chambers đã nói rằng chúng ta phải trở nên “bánh được bẻ và rượu được rót” cho người khác. Theo bạn, ông ta có ý gì?

Qua toàn Kinh Thánh, có những ví dụ về những nhân vật đầy “lầm lỗi và đau thương” được Chúa dùng để phục vụ người khác. Thủ lĩnh Môi-se được kêu gọi để chịu đựng những làn sóng đàm tiếu và chỉ trích không ngớt khi ông dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên đến miền Đất Hứa. Còn chàng trai trẻ Giô-sép thì được kêu gọi để bước chân trong một cuộc hành trình được lót bằng phản bội và tù đày để chàng được đưa đến một vị thế quan trọng ở xứ Ai Cập nơi có thể kinh ban tế thế. Trong mỗi trường hợp, Đức Chúa Trời cho phép xảy ra những tình huống để cuộc sống của dân sự Ngài có thể trở thành nơi bày tỏ ân điển và sự quan tâm của Ngài, không chỉ cho bản thân họ mà còn cho lợi ích của tha nhân. Đức Chúa Trời có thể sử dụng chúng ta theo cách tương tự. Bạn rất dễ cảm thấy tức giận hoặc tổn thương trong những trường hợp như vậy. Nhưng như chúng ta đã lưu ý ngày hôm qua, nhu mì là khả năng Đức Chúa Trời ban cho để chịu đựng “với sự kiên nhẫn và không oán giận.”

Xin đọc Ê-xê-chi-ên 24:15–27. Sự việc gì đang xảy ra? Tại sao tiên tri Ê-xê-chi-ên bị đặt trong cuộc thử thách này?

Trong Ê-xê-chi-ên 24:24 Đức Chúa Trời phán, “Ê-xê-chi-ên sẽ là một dấu hiệu cho các ngươi, phàm sự nó đã làm, thì các ngươi cũng sẽ làm. Khi mọi sự đó xảy đến, các ngươi sẽ biết ta là Chúa Giê-hô-va”. Qua gương của tiên tri Ê-xê-chi-ên, niềm tin của dân Y-sơ-ra-ên về lẽ thật rằng Đức Chúa Trời là ai, là Chúa tể trị vì, sẽ được khẳng định. Rồi họ sẽ thấy sự thật này khi họ từng trải sự ứng nghiệm của lời tiên tri mà cuộc đời của tiên tri Ê-xê-chi-ên tượng trưng. Ngoài ra, họ cũng sẽ từng trải sự đau khổ mà ông phải chịu. Ai biết được có bao nhiêu người sẽ nhìn thấy “Chúa tể trị vì” xuyên qua chúng ta từ những suy sụp của chính chúng ta?

Cuộc sống sớm muộn gì cũng đánh gục tất cả chúng ta. Bạn đã trải nghiệm gì khi bị đời quật ngã? Bạn đã học được những bài học gì? Làm thế nào để Chúa có thể sử dụng tâm hồn tan nát của chính bạn để giúp đỡ người khác?

Xin đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 32:1–14. Ông Môi-se giữ vai trò gì ở đây?

Sau khi dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu thờ con bê vàng, Đức Chúa Trời kết luận rằng họ đã đi quá xa và tuyên bố Ngài sẽ tiêu diệt họ. Thay vào đó, Ngài sẽ biến dòng dõi của thủ lĩnh Môi-se thành một dân tộc vĩ đại. Nhưng thay vì ích kỷ nhận lời đề nghị này của Đức Chúa Trời, người cầu xin Đức Chúa Trời ban ân điển cho dân Ngài, và Đức Chúa Trời đầy lòng nhân từ đã chấp thuận.

Xuất Ê-díp-tô Ký 32:1–14 nêu lên hai vấn đề quan trọng. Thứ nhất, lời đề nghị của Đức Chúa Trời để tiêu diệt những người nổi loạn và ban phước cho ông Môi-se là một thử thách nhân cách cho ông. Đức Chúa Trời muốn ông thể hiện lòng trắc ẩn đối với những người tuyệt vọng không vâng lời. Và ông Môi-se đã vượt qua được thử thách ấy. Giống như Đức Chúa Giê-su, ông cầu xin Chúa có lòng thương xót cho những kẻ tội lỗi. Câu chuyện này tiết lộ một ý tưởng rất thú vị: đôi khi Đức Chúa Trời cũng có thể cho phép chúng ta đối mặt với sự chống đối; Ngài có thể cho phép chúng ta ở trong một lò luyện để Ngài, chúng ta và toàn thể vũ trụ đang theo dõi phản ứng của chúng ta có thể nhìn thấy chúng ta có lòng nhân từ như thế nào đối với những cá nhân ương ngạnh.

Ông Môi-se đã đưa ra lý do nào để xin Chúa đừng hủy diệt dân Y-sơ-ra-ên?

Thứ hai, phân đoạn này cho thấy sự chống đối và không vâng lời là một cơ hội kêu gọi sự bày tỏ ân điển. Ân điển rất cần khi người ta ít xứng đáng nhất. Nhưng khi họ ít xứng đáng nhất cũng là lúc chúng ta cảm thấy ít muốn ban bố nhất. Tuy nhiên khi em gái ông Môi-se là bà Mi-ri-am chỉ trích ông, ông đã kêu cầu Chúa chữa lành cho bà khỏi bệnh phung (Dân số Ký 12). Khi Đức Chúa Trời nổi giận với Cô-rê cùng những người theo ông và đe dọa sẽ tiêu diệt tất cả, ông Môi-se đã gục mặt xuống để cầu xin cho mạng sống của họ. Ngày hôm sau, khi dân Y-sơ-ra-ên căm phẫn Môi-se về cái chết của những kẻ nổi loạn và Đức Chúa Trời đe dọa sẽ tiêu diệt tất cả bọn họ một lần nữa, Môi-se lại cúi mặt xuống và thúc giục ông A-rôn nhanh chóng làm lễ chuộc tội cho tất cả dân sự (Dân số Ký 16). Trong sự nhu mì, trong sự quên mình khi ở giữa cơn thử thách này, Môi-se đã tìm kiếm ân điển thay mặt cho những người chắc chắn không xứng đáng được hưởng.

Hãy nghĩ về những người xung quanh bạn, những người mà bạn cho là ít đáng được ân huệ nhất. Làm thế nào bạn, với sự nhu mì và khiêm nhường vị tha, có thể chính là sự mặc khải về ân điển của Đức Chúa Trời cho họ?

Có người đã từng nói: “Vậy thì yêu kẻ thù của mình không có nghĩa là yêu những đất bụi chôn dấu ngọc báu; đúng hơn là chúng ta yêu viên ngọc trai nằm trong cát bụi. . . . Đức Chúa Trời không yêu chúng ta bởi vì bản chất đáng yêu của chúng ta. Nhưng chúng ta trở nên đáng yêu vì Ngài yêu chúng ta.”

Khi nhìn vào “kẻ thù” của mình, bạn thường thấy gì — viên ngọc trai hay bụi bẩn xung quanh nó?

 

Xin đọc Ma-thi-ơ 5:43–48. Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù của chúng ta. Ở đó, Đức Chúa Giê-su đưa ra ví dụ nào từ thiên nhiên giúp chúng ta hiểu tại sao chúng ta nên yêu những kẻ làm hại chúng ta? Điểm mà Ngài đang dạy chúng ta là gì?

Trong Ma-thi-ơ 5:45, Đức Chúa Giê-su sử dụng gương của Cha Ngài ở trên trời để minh họa cách chúng ta nên đối xử với những người làm tổn thương chúng ta, những người có lẽ đã đặt chúng ta vào lò luyện nóng nhất. Đức Chúa Giê-su nói rằng Cha Ngài ban phước lành là mưa cho cả người công bình và kẻ không công bình; nếu Đức Chúa Trời ban mưa ngay cả cho bọn bất chính, thì chúng ta nên đối xử với họ ra sao?
Đức Chúa Giê-su không dạy chúng ta phải luôn có cảm giác ấm áp và thân thiện đối với những người gây rắc rối cho chúng ta, mặc dù điều này cũng có thể làm được. Về cơ bản, “tình yêu” đối với kẻ chống đối chúng ta không đích xác nói về tình cảm chúng ta dành cho họ, mà nói về những hành động cụ thể bày tỏ sự quan tâm và cân nhắc đối với họ.

Đức Chúa Giê-su kết thúc phân đoạn này bằng một câu thường gây ra nhiều tranh cãi: “Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn” (Ma-thi-ơ 5:48). Nhưng nếu để ý đến bối cảnh của lời khuyên dạy này, thì ý nghĩa của nó rất rõ ràng: những người muốn trở nên hoàn hảo như Đức Chúa Trời hoàn hảo phải bày tỏ tình yêu thương đối với kẻ thù của họ như Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu thương đối với những kẻ chống đối Ngài. Để trở nên hoàn hảo trước mắt Đức Chúa Trời thì phải yêu thương những người chống đối mình; và để làm được điều đó chúng ta cần một tấm lòng nhu mì mà chỉ Đức Chúa Trời mới có thể ban cho.

Dựa trên định nghĩa của chúng ta về sự nhu mì (“chịu đựng tổn thương với lòng kiên nhẫn không oán hận”), hãy liệt kê những thay đổi bạn cần phải thực hiện để tạo cơ hội cho Chúa ban cho bạn loại lòng nhu mì mà sẽ giúp bạn có thái độ đúng đắn đối với “kẻ thù”.

Những ví dụ hùng hồn nhất về sự nhu mì trong cơn hoạn nạn có thể tìm thấy nơi Đức Chúa Giê-su. Khi Ngài nói, “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường. . . hãy đến cùng ta . . . và học theo ta” (Ma-thi-ơ 11:29), Ngài muốn nói về điều đó theo những cách mà chúng ta không thể hình dung được.

Xin đọc 1 Phi-e-rơ 2:18–25. Sứ đồ Phi-e-rơ đang đưa ra một số lời khuyên đáng ngạc nhiên cho những người nô lệ. Ông mô tả cách Đức Chúa Giê-su phản ứng với sự đối xử bất công và tàn nhẫn và gợi ý cho họ rằng Ngài đã để lại cho họ “một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài” (1 Phi-e-rơ 2:21). Chúng ta có thể học được những nguyên tắc nhu mì và khiêm nhường nào trong gương của Đức Chúa Giê-su, như sứ đồ Phi-e-rơ trình bày ở đây?

Thật kinh khủng khi chứng kiến kẻ nào đó đối xử bất công với người khác. Và thật vô cùng đau đớn khi chúng ta là nạn nhân của một sự bất công như vậy. Bởi vì chúng ta thường có một ý thức minh bạch về công lý, khi sự bất công xảy ra, bản năng của chúng ta là muốn “chỉnh đốn” hiện trạng và đồng thời nung nấu trong lòng một cơn thịnh nộ mà chúng ta cho rằng rất công bình và chính đáng.

Không dễ để sống như vậy. Có lẽ không thể nào thực hiện được trừ khi chúng ta chấp nhận một sự thật quan trọng — rằng trong mọi trường hợp bất công, chúng ta phải tin rằng Cha thiên thượng của chúng ta đang nắm quyền kiểm soát và rằng Ngài sẽ thay mặt chúng ta hành động theo thánh ý của Ngài. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta phải cởi mở với ý tưởng rằng, cũng như Đức Chúa Giê-su, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể được cứu khỏi cảnh bất công. Nhưng chúng ta phải luôn nhớ rằng Cha thiên thượng vẫn ở cùng chúng ta và đang lèo lái bánh xe lịch sử.

Lời khuyên của sứ đồ Phi-e-rơ (được mô phỏng từ cuộc đời của Đức Chúa Giê-su) thật đáng ngạc nhiên vì qua đó, dường như sự im lặng khi đối mặt với đau khổ đầy bất công là một nhân chứng lớn cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời hơn là “sửa sai người khác”. Khi bị thầy tế lễ cả Cai-phe và quan toàn quyền Phi-lát chất vấn, Đức Chúa Giê-su có thể đã nói rất nhiều để sửa đổi tình hình và để biện minh cho chính Ngài, nhưng Ngài đã giữ im lặng. Sự im lặng của Ngài là bằng chứng cho lòng nhu mì của Ngài.

Bạn đã đối phó thế nào với những trường hợp mình bị đối xử bất công? Làm thế nào bạn có thể áp dụng một cách công hiệu hơn các nguyên tắc được xem xét ở đây vào cuộc sống của chính bạn?

Những kẻ kiêu căng nhất, ngạo mạn và hay lấn lướt nhất, là những người mắc chứng tự ti. Tính ngạo mạn và kiêu hãnh của họ — và hoàn toàn thiếu nhu mì hoặc khiêm tốn — tồn tại như một vỏ bọc, thậm chí có thể là vô thức, cho một điều gì đó thiếu thốn bên trong. Điều họ cần là thứ mà tất cả chúng ta cũng cần: cảm giác an toàn, cảm thấy xứng đáng, được chấp nhận, đặc biệt là trong lúc khốn khó và đau khổ. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy sự thỏa mãn các nhu cầu này qua Chúa mà thôi. Nói tóm lại, lòng nhu mì và khiêm nhường, hoàn toàn không phải là thuộc tính của một tâm hồn yếu đuối, mà trái lại thường là biểu hiện hùng hồn nhất của một linh hồn biết nương dựa kiên cố trên Vầng Đá muôn đời.

Xin đọc Thi thiên 62:1–8. Cái gì dường như là bối cảnh cho bài Thi thiên này? Vua Đa-vít đang đưa ra những điểm nào? Bạn có thể học được những nguyên tắc tâm linh nào từ những gì vua đang nói? Quan trọng nhất là bằng cách nào bạn có thể học cách áp dụng những nguyên tắc này vào cuộc sống của chính mình?

“Một cách vô cớ, người ta có thể trở thành kẻ thù của chúng ta. Động lực của con dân Chúa sẽ bị diễn dịch sai lầm, không chỉ bởi thế gian, mà còn bởi chính anh em của họ. Các tôi tớ của Chúa sẽ bị đưa vào những nơi khó khăn. Chuyện bé xé ra to để biện minh cho những kẻ theo đuổi con đường ích kỷ, bất chính . . . Bị kẻ thù xuyên tạc, họ sẽ bị khoác lên mình bộ lễ phục đen tối của sự thiếu trung thực bởi vì những hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát của họ khiến công việc của họ trở nên khó hiểu. Họ sẽ bị coi là những người không thể tin cậy được. Và điều này sẽ được thực hiện bởi các tín hữu hội thánh. Các tôi tớ của Đức Chúa Trời phải mang tâm trí của Đấng Cơ Đốc. Họ không nên kỳ vọng sẽ được thoát khỏi sự xúc phạm và bị đánh giá sai. Họ sẽ được gọi là những kẻ đam mê và cuồng tín. Nhưng họ đừng để bị nản lòng. Bàn tay của Đức Chúa Trời ở trên bánh xe quan phòng của Ngài, hướng dẫn công việc của Ngài đến sự vinh hiển của danh Ngài.” — Ellen G. White, The Upward Look, trang 177.

Bạn có khả năng miễn nhiễm với những lời trách móc và nói xấu của người khác đến mức nào? Chắc rằng rất khó để miễn nhiễm, phải không? Làm thế nào bạn có thể gắn bó với Chúa và đóng neo giá trị bản thân mình nơi Ngài, vì Ngài là Đấng yêu thương bạn đến nỗi đã chết vì tội lỗi của bạn, và do đó có thể giúp bảo vệ được bạn trước sự khinh thường của người đời?

“Những khó khăn chúng ta gặp có thể giảm bớt rất nhiều nhờ sự nhu mì ẩn mình trong Đấng Cơ Đốc. Nếu chúng ta có được sự khiêm nhường của vị Thầy vĩ đại, chúng ta sẽ vượt lên trên những điều nhỏ nhặt, những phản đối, những khó chịu mà chúng ta phải tiếp xúc hàng ngày, và chúng ta sẽ không còn ủ rũ tinh thần nữa. Bằng chứng cao nhất về sự cao quý ở một Cơ Đốc nhân là sự tự chủ. Ai bị ngược đãi hoặc bị hành hạ mà không giữ được tinh thần bình tĩnh và tỏ ra đa nghi là người cướp đi quyền của Đức Chúa Trời để bày tỏ nơi người ấy cá tính hoàn hảo của chính Ngài. Lòng khiêm nhường là sức mạnh đem lại chiến thắng cho những người theo Đấng Cơ Đốc; nó là dấu hiệu của mối liên hệ giữa họ với các tòa án thiên thượng.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 301.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Làm thế nào để lòng nhu mì cho phép chúng ta “vượt lên trên” những tổn thương và khó chịu? Theo bạn nghĩ, đặc điểm quan trọng nhất của tính khiêm tốn cho phép chúng ta làm được điều này là đặc điểm nào?
  2. Trong nền văn hóa đặc biệt của bạn, những đặc điểm của sự khiêm tốn và nhu mì được nhìn như thế nào? Các đặc điểm ấy có được tôn trọng, hoặc bị khinh thường hoặc được nhìn bằng lối nào khác? Trong nỗ lực trau dồi các đặc điểm đó trong nền văn hóa của bạn, bạn phải đối mặt với những áp lực chống đối nào?
  3. Trong vòng những người còn sống ngày nay, có những tấm gương vĩ đại nào về tính nhu mì và khiêm nhường không? Nếu vậy, họ là ai, họ đã thể hiện các đức tính này như thế nào và bạn có thể học hỏi được gì từ họ?
  4. Tại sao chúng ta thường đánh đồng lòng nhu mì và khiêm tốn với tính nhu nhược?
  5. Chúng ta đã thấy cách vua Đa-vít tìm kiếm Đức Chúa Trời như một nơi ẩn náu. Nhưng hành động ấy thật sự là như thế nào? Sự nương tựa ấy luôn được biểu hiện như thế nào? Nói cách khác, làm thế nào chúng ta, với tư cách là một giáo hội, làm nơi ẩn náu cho những người cần nương tựa? Hội thánh địa phương của bạn cung cấp nơi nương tựa nào? Bạn có thể làm gì để giúp nó trở thành nơi nương tựa cho những người cần nó?
Bài Học 9, 20 — 26 Tháng 8, 2022

MỘT CUỘC SỐNG NGỢI KHEN

CÂU GỐC: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi” (Phi-líp 4:4).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Phi-líp 4:4–7; Giô-suê 5:13–6:20; Thi thiên 145; Công vụ các Sứ đồ 16:16–34; 2 Sử-ký 20:1–30.

Luôn dễ hô lên vui mừng với Chúa khi chúng ta cảm thấy lòng mình hân hoan. Tuy nhiên, khi mọi thứ trở nên tồi tệ, khi chúng ta ở trong những hoàn cảnh khó khăn nhất có thể tưởng tượng được, khi lò luyện nóng lên, thì bày tỏ lòng vui mừng không còn dễ dàng như vậy nữa. Tuy nhiên, chính xác đó là lúc chúng ta cần — có lẽ hơn bao giờ hết — ca ngợi Đức Chúa Trời, vì sự ngợi khen là một bí quyết giúp chúng ta giữ vững đức tin.

Thật vậy, lời khen ngợi có thể cải tiến ngay cả những tình cảnh đen tối nhất của chúng ta, có thể không thay đổi thực trạng xung quanh chúng ta, nhưng có thể thay đổi chính chúng ta và những người xung quanh theo một chiều hướng thuận lợi để giúp chúng ta đối mặt hoạn nạn.

Khen ngợi là niềm tin thể hiện bằng hành động. Tuy có thể không phải lúc nào cũng là phản ứng tự nhiên, nhưng khi chúng ta thực hành khen ngợi để biến nó thành một phần tự nhiên của đời sống, sự khen ngợi có sức mạnh chuyển đổi và chinh phục.

Đại văn hào Nga Fyodor Dostoyevski bị kết án tử hình, nhưng vào giây phút cuối đã được giảm án. Thay vì chết, ông ta đã ngồi tù nhiều năm. Nói về kinh nghiệm bị giam cầm của mình, ông viết: “Hãy tin tưởng đến cùng, cho dù tất cả mọi người đều lạc lối và chỉ còn lại bạn là người chung thủy duy nhất; hãy đem lễ vật của bạn để dâng hiến Chúa ngay cả lúc đó và ngợi khen Ngài trong nỗi cô đơn của bạn.”

Trong các bài học này, chúng ta đã thấy sứ đồ Phao-lô chịu đựng sự chống đối và bắt bớ thật kinh hoàng. Bây giờ sứ đồ đang ngồi trong một nhà tù La Mã, nhưng người không chán nản; thay vào đó, người hăng hái viết thư để khích lệ các tín hữu ở thành Phi-líp!

Xin đọc Phi-líp 4:4–7. Theo bạn nghĩ, làm thế nào mà sứ đồ Phao-lô có thể viết được những lời nâng đỡ đầy phấn chấn như vậy khi chính người đang ngồi trong ngục thất? Trong phân đoạn này, chìa khóa để đạt được “sự bình an của Đức Chúa Trời” là gì?

Khi mọi thứ đang diễn ra tốt đẹp, vui mừng là một chuyện, nhưng hoàn toàn là một chuyện khác khi chúng ta cần phải cố luôn vui mừng trong mọi hoàn cảnh như sứ đồ Phao-lô khuyên nhủ. Điều ấy nghe có vẻ lạ. Nếu chúng ta hiểu những gì sứ đồ viết theo nghĩa đen, thì có hai ý nghĩa quan trọng ở đây.

Đầu tiên, nếu chúng ta phải luôn luôn vui mừng, điều đó có nghĩa là chúng ta nên vui mừng ngay cả khi hoàn cảnh dường như không cho bất kỳ lý do nào để vui mừng. Thứ hai, nếu chúng ta luôn luôn vui mừng, điều đó cũng có nghĩa là chúng ta sẽ phải học cách vui mừng vào những lúc chúng ta không cảm thấy vui trong lòng.

Sứ đồ Phao-lô kêu gọi chúng ta ca ngợi Đức Chúa Trời mặc dù lắm lúc điều đó có vẻ không tự nhiên với chúng ta, hoặc thậm chí có vẻ vô lý. Nhưng như chúng ta sẽ thấy, chính xác vì có những lúc hành động ca ngợi nghe không hợp lý mà chúng ta cần được khuyên và nhắc nhở nên vui mừng vào những lúc ấy. Nói cách khác, khen ngợi là một hành động của đức tin. Cũng như đức tin không dựa trên hoàn cảnh của chúng ta mà dựa trên sự thật về Đức Chúa Trời, vì vậy, chúng ta ngợi khen Chúa không phải vì cảm thấy vui trong lòng mà chính yếu là vì lẽ thật về Đức Chúa Trời là ai và về những gì Ngài đã hứa với chúng ta. Và vô cùng kỳ diệu, chính niềm tin này bắt đầu hình thành sự suy nghĩ của chúng ta, rồi cảm xúc và ngay cả hoàn cảnh của chúng ta.

Sự thật về Đức Chúa Trời mà sứ đồ Phao-lô xác định trong đoạn văn hôm nay là gì (sự thật mà đã khiến ông có lòng vui mừng, ngay cả khi đang lâm vào cảnh tù tội)? Viết ra một danh sách ngắn những gì bạn biết là sự thật về Chúa. Lượt qua danh sách này và ngợi khen Chúa từng điểm một. Thực tập này thay đổi thế nào cách bạn nhìn và cảm nhận tình cảnh của chính mình?

Có một lối nói trong tiếng Anh: “bị sơn vào một góc phòng”. Hãy tưởng tượng bạn đang sơn sàn của một căn phòng, nhưng sau đó nhận ra rằng bạn đã sơn đến một góc phòng và không thể trở ra ngoại trừ bước lên lớp sơn ướt. Bạn phải ở đó, chờ cho đến lúc sơn khô!

Đôi khi đức tin của chúng ta dường như “sơn chúng ta vào một góc phòng”. Chúng ta đến một tình huống, và giống như lớp sơn ướt trên sàn, đức tin của chúng ta “cầm giữ” chúng ta. Chúng ta nhìn vào tình thế vô cùng khó xử, và hoặc chúng ta phải từ chối tất cả, Chúa, đức tin, và mọi thứ chúng ta tin, hoặc là đức tin chúng ta buộc chúng ta phải tiếp tục tin vào những gì dường như không thể được.

Đức Chúa Trời đã đưa dân Y-sơ-ra-ên vào một “góc phòng” bế tắc. Sau khi họ lưu lạc 40 năm trong đồng vắng, Đức Chúa Trời không dẫn dân Ngài đến những đồng cỏ yên tĩnh và không người. Trái lại Ngài dẫn họ đến Giê-ri-cô, một trong những thành lũy kiên cố nhất thời đó trong toàn khu vực. Tiếp theo, họ phải yên lặng đi vòng quanh thành ấy luôn sáu ngày. Vào ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời bảo họ la tiếng lớn lên và tiếng la hét đó cùng với tiếng kèn sẽ mang lại chiến thắng.

Xin đọc Giô-suê 5:13–6:20. Đức Chúa Trời muốn dạy dân Y-sơ-ra-ên bài học gì?

Hành động la hét thật to tự nó không tạo ra đủ rung động để gây nên sự sụp đổ của những bức tường thành đồ sộ. Khi Đức Chúa Trời phán biểu dân Y-sơ-ra-ên “la tiếng lớn lên”, đó là kiểu kêu la giống như vua Đa-vít viết trong Thi thiên 66: “Hỡi cả trái đất, Khá cất tiếng reo mừng Đức Chúa Trời. Hãy hát ra sự vinh hiển của danh Ngài. Hãy ngợi khen và tôn vinh Ngài” (Thi thiên 66:1, 2). Tiếng la lớn này là lời khen ngợi! Sau sáu ngày nhìn lên những bức tường thành vĩ đại, dân Y-sơ-ra-ên chắc hẳn đã thở dài kết luận rằng họ không cách chi tự phá hủy chúng được.

Sự tích trên đây giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của Hê-bơ-rơ 11:30 như thế nào?

Khi Đức Chúa Trời sắp làm điều gì đó mới mẻ trong cuộc sống của chúng ta, Ngài có thể đưa chúng ta đến một “thành Giê-ri-cô”, vì Ngài có thể cần dạy chúng ta rằng sức mạnh để chiến thắng không đến từ sức mạnh và chiến lược của chúng ta. Mọi thứ chúng ta cần đều đến từ bên ngoài bản thân. Vì vậy, bất kể chướng ngại gì đang ở trước mắt, cho dù có vẻ không thể nào vượt qua, vai trò của chúng ta vẫn là ca ngợi Đức Chúa Trời, là nguồn lực của mọi thứ chúng ta cần. Đây là niềm tin đang hành động.

Ca ngợi Chúa có thể không là một việc tự nhiên đối với chúng ta, ngay cả trong những hoàn cảnh thuận lợi. Vì vậy, càng khó làm hơn trong những hoàn cảnh tồi tệ. Tuy nhiên, đó là điều chúng ta được kêu gọi để làm. Khen ngợi là đức tính mà chúng ta phải thực hành thường xuyên cho đến khi trở nên một bầu không khí chúng ta sống, thay vì chỉ là một hành động tại một thời điểm cụ thể. Khen ngợi không chỉ là một hành động cụ thể mà phải là một cách sống cụ thể.

Xin đọc Thi thiên 145. Vua Đa-vít đưa ra những lý do nào để ngợi khen Đức Chúa Trời? Bằng những cách nào những lời trong Thi thiên này nên là lời của riêng bạn?

Nhà thuyết giáo vĩ đại người Anh Charles Haddon Spurgeon đã viết một cuốn sách mang tên Thực hành Khen ngợi (The Practice of Praise). Sách dựa trên câu 7 của bài Thi thiên hôm nay. Trong câu thơ ngắn này, Mục sư Spurgeon kêu gọi chúng ta chú ý ba điều quan trọng có thể giúp phát triển sự khen ngợi trong cuộc sống của chúng ta.

1. Sự khen ngợi được thực hành khi chúng ta nhìn quanh mình. Nếu chúng ta không nhìn quanh mình để thấy sự vĩ đại của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không có lý do gì để ca ngợi. Bạn có thấy điều gì đáng ngợi khen trong thế giới thọ tạo, chẳng hạn như vẻ đẹp của công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời? Bạn có thấy điều gì đáng ngợi khen trong thế giới tâm linh, chẳng hạn như niềm tin ngày càng tăng trưởng của một Cơ Đốc nhân trẻ tuổi?

2. Sự khen ngợi được thực hành khi chúng ta nhớ lại những gì chúng ta đã thấy. Nếu chúng ta muốn sống trong bầu không khí ca ngợi, chúng ta phải có khả năng nhớ lại lý do để ca ngợi. Bằng những cách nào chúng ta có thể nhớ những sự kiện diệu kỳ về Đức Chúa Trời (chẳng hạn như bằng cách tạo thêm những nghi lễ hoặc biểu tượng mới để nhắc nhở mình về bản tính tốt lành của Chúa), để sự tốt lành của Ngài và lẽ thật về Ngài không phai mờ trong tâm khảm chúng ta?

3. Sự khen ngợi được thực hành khi chúng ta nói về nó. Khen ngợi không phải là điều mà chúng ta chỉ suy nghĩ trong đầu nhưng phải được thốt ra từ môi miệng để những người xung quanh cũng nghe được. Bạn có thể nghĩ đến những lý do nào để ngợi khen Đức Chúa Trời bằng lời nói? Tác động của lời khen ngợi đó sẽ như thế nào, và đối với ai?

Lấy một cây bút và một ít giấy và dành chút thời gian để tìm hiểu ba nhận xét trên. Bạn có thể làm gì để phát triển thói quen khen ngợi trong cuộc sống của mình?

Sách Công vụ các Sứ đồ chứng tỏ rằng lời khen ngợi ảnh hưởng người nghe một cách không thể ngờ. Xin đọc Công vụ 16:16–34. Bị lột quần áo và đánh đập dã man, sứ đồ Phao-lô và Si-la bị tống vào ngục tối. Không có ai ở đó để bôi dầu lên lưng bị bầm tím và rướm máu của họ. Trong nỗi đau đớn thể xác tột cùng và với đôi chân bị cùm, họ bị đặt trong một góc tối của nội ngục. Nhưng trong khi các tù nhân khác ngồi quan sát và lắng nghe, sứ đồ Phao-lô và Si-la bắt đầu cầu nguyện và cất tiếng hát.

Sau trận động đất, và sau khi cai tù phát hiện ra rằng cả sứ đồ Phao-lô, Si-la và không bất kỳ tù nhân nào khác tìm cách vượt ngục, anh ta “run sợ lắm, gieo mình nơi chân Phao-lô và Si-la. Đoạn, đưa hai người ra ngoài, mà hỏi rằng: Các chúa ơi, tôi phải làm chi cho được cứu rỗi?” (Công vụ các Sứ đồ 16:29, 30).

Tại sao biến cố này lại khiến quản ngục tập trung vào nhu cầu cứu rỗi của chính mình? Bạn nghĩ những lời cầu nguyện và bài hát của sứ đồ Phao-lô và Si-la đóng vai trò gì trong việc các tù nhân không bỏ chạy, cũng như trong việc cải đạo người cai ngục và cả gia đình anh ta?

Thật diệu kỳ khi nhận thức rằng lời khen ngợi của chúng ta có thể thay đổi số phận vĩnh cửu của những người xung quanh. Nếu sứ đồ Phao-lô và Si-la ngồi trong bóng tối lầm bầm và phàn nàn như nhiều tù nhân thường làm, bạn có nghĩ sẽ có linh hồn nào nhận được sự cứu rỗi vào đêm đó không?

Chúng ta không biết chuyện gì đã xảy ra với người quản ngục và gia đình của ông ta sau này, nhưng bạn có thể tưởng tượng họ đang đọc những lời sứ đồ Phao-lô đã viết từ một nhà tù khác ở Rô-ma về sau: “Ngài nhân Đấng Christ, ban ơn cho anh em, không những tin Đấng Christ mà thôi, lại phải chịu khổ vì Ngài nữa, là phải chịu cùng một cuộc chiến tranh như anh em đã thấy ở nơi tôi và hiện nay còn nghe nói có nơi tôi” (Phi-líp 1:29, 30). Nếu họ đã đọc được những lời này của sứ đồ Phao lô và suy gẫm về cách nào mà sự đau khổ của ông đã mang lại niềm hân hoan cho họ, thì nhận thức ấy chắc phải khiến lòng họ nhiều ấm áp. Ngoài ra, nó cũng mang đến cho họ một thách thức mới để trọn lòng sắt son với Chúa trên nẻo đường đời gập ghềnh.

Bạn nghĩ ai có thể bị ảnh hưởng để quay về Chúa do một bài hát ngợi khen được phát ra từ con tim bạn? Bạn cần cố gắng bớt dè dặt và không ngớt lời ngợi khen Đức Chúa Trời trước sự hiện diện của người khác. Chúng ta không lường được tác động tích cực của những hành động như vậy đâu.

Xin đọc 2 Sử Ký 20:1–30. Như vua Giô-sa-phát đã khám phá ra, lời khen ngợi là một vũ khí đáng sợ. Sau khi nhận được báo cáo về một “đám quân đông đảo” đang đến chống lại mình, vua Giô-sa-phát không lập tức có hành động quân sự, mà “rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va” (2 Sử Ký 20:3). Khi dân Giu-đa đến Giê-ru-sa-lem một cách nhanh chóng, vua thừa nhận thực tế gay cấn của tình hình và nói rằng “Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo nầy đương đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!”(2 Sử Ký 20:12).

Khi bạn nhìn thấy một “đám quân đông đảo” từ chân trời đang mau chóng tiến tới trong khói bụi mịt mù, phản xạ tự nhiên của bạn là gì? Từ phản ứng của vua Giô-sa-phát trong 2 Sử Ký 20:3–12, bạn có thể học được điều gì về cách đối phó với một đối phương đầy áp đảo và hăm dọa?

Khi Thần của Chúa đến với thầy tế lễ Gia-ha-xi-ên, ông ta đã mạnh dạn tuyên bố: “Trong trận nầy các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! Chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai, hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.” (2 Sử Ký 20:17). Sau đó, họ thờ phượng Đức Chúa Trời và “cất tiếng lớn” hát ca ngợi Ngài (2 Sử Ký 20:19). Mặc dù Đức Chúa Trời sẽ chiến đấu cho họ, họ vẫn phải ra ngoài để giáp mặt kẻ thù.

Nhưng đây không phải là cuộc xuất quân bình thường ra chiến trường. Vua Giô-sa-phát có một kế hoạch lạ thường là chỉ định một ca đoàn hát khen ngợi Chúa trong lúc họ tiến quân. “Đương lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen, thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu đa; và các dân ấy đều bị bại” (2 Sử Ký 20:22). Theo tác giả, Đức Chúa Trời đã can thiệp ngay lúc họ thực thi đức tin của họ về lời hứa của Ngài, khi họ bắt đầu “ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời” (2 Sử Ký 20:21).

Xin đọc lại 2 Sử Ký 20:1–30. Bạn có thể tìm thấy những nguyên tắc thuộc linh nào có thể áp dụng cho bước đi của chính bạn với Đức Chúa Trời, đặc biệt là trong những lúc đầy thử thách và căng thẳng?

“Vậy chúng ta hãy dạy dỗ con tim và đôi môi của mình biết nói lên những lời ngợi khen Đức Chúa Trời vì tình yêu vô song của Ngài. Chúng ta hãy giáo dục tâm hồn mình biết hy vọng và sống trong ánh sáng chiếu rọi từ thập giá đồi Gô-gô-tha đẫm máu. Đừng bao giờ quên rằng chúng ta là con cái của Vua thượng giới chí cao, là con trai và con gái của Chúa tể muôn loài. Vì vậy, duy trì thái độ tĩnh lặng trong Chúa là một diễm phúc.” — Ellen G. White, The Ministry of Healing, trang 253.

“Và trong khi tôi tôn thờ và tôn vinh Ngài, tôi muốn bạn cùng tôi tôn vinh Ngài. Hãy ngợi khen Chúa ngay cả khi đời bạn rơi vào bóng đêm. Ngợi khen Ngài ngay cả trong cơn cám dỗ dữ dội. Sứ đồ nói: Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn; Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi.” Lời khuyến dục này có mang lại sự u ám và tăm tối cho những người thân thương của bạn không? Không, dĩ nhiên là không; ngược lại nó sẽ mang lại một tia nắng cho tâm hồn. Do đó, bạn sẽ góp nhặt những tia sáng rực rỡ vĩnh cửu từ ngai vàng của vinh quang và gieo rắc chúng xung quanh bạn. Hãy để tôi khuyến khích bạn tham gia vào công tác này, gieo rắc ánh sáng và sự sống ấy xung quanh mình, không chỉ trong con đường của riêng bạn, mà còn trong con đường của những người mà bạn kết giao. Hãy đặt công công tác này làm mục tiêu của bạn, ấy là làm cho những người quanh bạn trở nên tốt đẹp hơn, nâng cao tâm hồn họ, hướng họ đến thiên đàng và vinh quang, và dẫn dắt họ tìm kiếm, trên tất cả mọi thứ trần tục, thực chất vĩnh cửu, cơ nghiệp bất tử, sự giàu có không hư mất.” — Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 2, trang 593, 594.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Hành động đồng ngợi khen đóng vai trò gì trong đời sống Cơ Đốc nhân? Về sự tụng ngợi trong những buổi lễ ngày Sa-bát, bạn mô tả nó như thế nào? Nó có nâng cao tinh thần không? Nó có khuyến khích các tín hữu duy trì lòng trung tín giữa thử thách và tổn thương không? Nếu không, những gì cần phải làm?
  2. “Hãy ngợi khen Chúa ngay cả khi đời bạn rơi vào đen tối” hoặc “ngợi khen Ngài ngay cả trong lúc bị cám dỗ” có nghĩa là gì? Làm thế nào sự ngợi khen có thể giúp chúng ta vượt qua những tình trạng ấy?
  3. Hãy để tín hữu làm chứng về sự kiện hành động ngợi khen đã ảnh hưởng đến cuộc sống của họ như thế nào. Bạn có thể học hỏi gì từ kinh nghiệm của nhau?
  4. Cả lớp hãy chọn một bài Thi thiên ngợi khen và dành thời gian để đọc. Bài đó dạy bạn điều gì về sự ca ngợi? Lời ngợi khen tác động gì đến đức tin của bạn?
Bài Học 8, 13 — 19 Tháng 8, 2022

THẤY ĐIỀU VÔ HÌNH

CÂU GỐC: “Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được” (Hê-bơ-rơ 11:27).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Rô-ma 8:28–39; Giăng 14:1–14; Ê-phê-sô 1:18–23; Ê-sai 40:27–31.

Định nghĩa về đức tin trong sách Hê-bơ-rơ rất thách đố cho độc giả. “Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy” (Hê-bơ-rơ 11:1). Làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn về những gì chúng ta không nhìn thấy? Tuy nhiên, đây chính là điều mà ông Môi-se minh họa trong câu gốc hôm nay: “vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được” (Hê-bơ-rơ 11:27).

Càng khó làm hơn khi nhận ra rằng chúng ta được mời gọi để nhìn thấy “Ngài là Đấng vô hình” không chỉ trong những lúc thuận lợi, mà đặc biệt là khi mọi thứ đang diễn ra không như ý muốn. Vì điều này, chúng ta cần có đức tin, một đức tin giống như Đấng Cơ Đốc, ấy là phải được hình thành bởi lẽ thật về Đức Chúa Trời và vương quốc của Ngài. Lẽ thật về lòng tốt của Cha chúng ta, quyền năng nhân danh Đức Chúa Giê-su, quyền năng của sự Phục sinh và lòng trắc ẩn của Đức Chúa Trời là những lẽ thật thiết yếu sẽ giúp chúng ta vững vàng khi ở trong cơn thử thách là lúc dễ bị cám dỗ để nghi ngờ mọi thứ.

“Nếu Chúa thực sự yêu tôi, chắc chắn Ngài sẽ làm _________ cho tôi!” Ý nghĩ này đã lướt qua tâm trí chúng ta bao nhiêu lần? Chúng ta nhìn vào hoàn cảnh của mình và bắt đầu tự hỏi liệu Đức Chúa Trời có thực sự yêu thương chúng ta hay không, bởi vì nếu Ngài thực sự có, mọi chuyện sẽ khác những gì đang xảy ra.

Có hai lý do thường khiến chúng ta nghi ngờ lòng tốt lành của Đức Chúa Trời. Thứ nhất, khi ấp ủ một khát vọng cháy bỏng trong tim và trong trí về một điều gì đó mà chúng ta nghĩ là tốt đẹp, thì có vẻ khó cho chúng ta đồng ý rằng Đức Chúa Trời có thể muốn một điều khác cho chúng ta. Thứ hai, chúng ta có thể nghi ngờ lòng tốt lành của Đức Chúa Trời vì kinh nghiệm của chúng ta mâu thuẫn với những gì chúng ta tin tưởng. Nếu một cái gì đó nhìn có vẻ tốt đẹp hoặc làm chúng ta cảm thấy sung sướng hoặc nghe thật êm tai hoặc rất ngon miệng, thì chúng ta nghĩ rằng nó phải tốt dù rằng Kinh Thánh dạy nó không tốt. Và vì vậy chúng ta nổi giận với Chúa khi chúng ta không thể có được thứ đầy hấp dẫn ấy.

Đây là lúc cần phải có đức tin. Đức tin cần phải có trong trường hợp chúng ta bị cám dỗ là lúc nhiều nguy hiểm để sinh lòng nghi ngờ Đức Chúa Trời và cá tính tốt lành của Ngài.

Rô-ma 8:28–39 là một phân đoạn hùng hồn mô tả lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Bạn có thể tìm thấy yếu tố nào trong các câu này giúp bảo vệ tâm trí chúng ta khỏi nghi ngờ bản chất tốt lành của Đức Chúa Trời?

Trong Rô-ma 8:32, có một đoạn lý luận quan trọng vô cùng hữu ích trong việc bảo vệ chúng ta khỏi bị hoàn cảnh lấn át. “Nếu Đức Chúa Trời không ngần ngại đánh cuộc mọi thứ để đánh đổi chúng ta, chấp nhận tình trạng bất toàn của chúng ta và phơi bày chính thân Ngài trước những gì tồi tệ nhất bằng cách sai Con của Ngài, thì còn điều gì khác nữa mà Ngài không vui lòng và tự nguyện làm vì chúng ta?” (trích từ Message). Sao chúng ta có thể nghĩ rằng Đức Chúa Trời, đã rộng lượng sai Đức Chúa Giê-su đến chết thay cho chúng ta, sau đó có thể trở thành độc ác và keo kiệt?

Nhận thức này có nghĩa là lẽ thật về lòng quảng đại của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, được nhìn thấy qua cái chết của Đấng Cơ Đốc, phải có tác động mạnh mẽ hơn trong sự suy nghĩ của chúng ta hơn mọi nghi ngờ mà bão tố trong cuộc đời có thể gieo rắc trong tâm tư chúng ta.

Làm thế nào để một cái nhìn đúng (bản chất tốt lành của Đức Chúa Trời) có thể có tác động mạnh mẽ hơn đối với bạn so với những nghi ngờ của bạn? Hãy dành một chút thời gian để suy ngẫm về lẽ thật dạy rằng Đức Chúa Trời đã ban Đức Chúa Giê-su xả thân cho bạn, và lòng bao dung vô biên này hiện nay vẫn tiếp tục dành cho bạn theo một nghìn cách khác nhau. Điều này ảnh hưởng gì đến đức tin bạn?

“Nếu các ngươi nhân danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho (Giăng 14:14).

Đức Chúa Giê-su sẽ không ở với các môn đồ bao lâu nữa. Đấng từng là chỗ dựa và sự khích lệ của họ sắp về trời, và các môn đồ bắt đầu cảm thấy bối rối và bất lực. Nhưng mặc dù họ sẽ không còn được nhìn thấy Đức Chúa Giê-su bằng xương bằng thịt nữa, Ngài đã ban cho họ một lời hứa đáng chú ý.

Xin đọc Giăng 14:1–14. Theo câu 13 và 14, Đức Chúa Giê-su hứa sẽ làm cho chúng ta bất cứ “điều chi” mà chúng ta nhân danh Ngài để cầu xin. Chính vì lời hứa này mà ở cuối mỗi lời cầu nguyện, chúng ta hầu như luôn thêm câu “Nhân danh Đức Chúa Giê-su, A-men.”

Khi thêm câu cuối này, chúng ta nghĩ nó có nghĩa gì? Đức Chúa Giê-su có ý gì khi Ngài khuyến khích chúng ta cầu nguyện như vậy? Những manh mối nào trong các câu Kinh Thánh trên giúp chúng ta hiểu được cái ý mà Ngài muốn đưa ra?

Khi lời cầu xin của chúng ta được “nhân danh Đức Chúa Giê-su”, chúng ta có thể chắc chắn rằng toàn bộ guồng máy trên thiên quốc đang vận hành rầm rộ thay cho chúng ta. Chúng ta có thể không nhìn thấy những thiên sứ làm việc xung quanh chúng ta, nhưng họ đã được sai đến từ ngai thiên đàng nhân danh Đức Chúa Giê-su và đương hoạt động ráo riết để đáp ứng các yêu cầu khẩn khoản của chúng ta.

Có những lúc chúng ta cầu nguyện nhân danh Đức Chúa Giê-su, rồi mở mắt và mong đợi mọi thứ xung quanh mình sẽ đổi khác, nhưng tất cả vẫn như cũ. Tuy nhiên, dĩ nhiên quyền năng của Đức Chúa Trời có thể được bày tỏ một cách dữ dội đầy kịch tính, chẳng hạn như khi Đức Chúa Giê-su làm dịu cơn bão, nó cũng có thể được bày tỏ một cách thầm lặng, không được chú ý, như khi nâng đỡ Đức Chúa Giê-su ở vườn Ghết-sê-ma-nê. Những hiện tượng kinh thiên động địa mang vẻ kịch tính có thể không đột nhiên xảy ra, nhưng đây không có nghĩa là Chúa không làm việc cho chúng ta.

Xin đọc lại Giăng 14:1–14. Khi bạn đọc, hãy tưởng tượng rằng Đức Chúa Giê-su đang nói chuyện trực tiếp với bạn, mặt đối mặt. Bạn có thể rút ra hy vọng và sự khích lệ nào từ các lời hứa này? Đồng thời, hãy tự hỏi bản thân, “Yếu tố nào trong cuộc sống của tôi có thể đang cản trở việc thực hiện các lời hứa này? Tôi phải chủ định những thay đổi nào trong lòng?”

Sự Phục Sinh giải quyết vấn đề bất lực của con người. Khi nghĩ về cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su, chúng ta thường nghĩ về thế nào mà cái chết của Đức Chúa Giê-su có thể là biến cố khiến chúng ta được xưng công bình với Đức Chúa Trời. Và điều đó, tất nhiên, là sự thật.

Tuy nhiên, sự Phục sinh thêm một chiều kích cụ thể cho sự cứu rỗi. Sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su không chỉ có ý nghĩa vì cho chúng ta thấy rằng một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ được phục sinh, nhưng cũng vì đã đặt Đức Chúa Con ngự bên hữu Đức Chúa Cha trong một địa vị hùng mạnh và uy quyền. Sức mạnh phục sinh này chính là quyền năng mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ngày nay!

Trong Ê-phê-sô 1:18–23, sứ đồ Phao-lô nói về quyền lực của Đức Chúa Trời. Các câu này dạy chúng ta điều gì về quyền năng của Sự Phục Sinh? Bạn có thể tìm thấy hy vọng và lời hứa nào cho bản thân trong các câu này?

Sứ đồ Phao-lô đang cầu nguyện để người Ê-phê-sô hiểu được một số tư tưởng chỉ có thể hiểu đúng với sự giúp đỡ thiên thượng: (1) phép lạ được biến đổi và một tương lai vĩnh cửu mà Đức Chúa Giê-su đã mời gọi chúng ta là có thật; (2) rằng chúng ta có thể hiểu được quyền năng đã được biểu hiện nhân danh chúng ta.

Sau đó, sứ đồ Phao-lô cố gắng diễn đạt tính cách lạ lùng của sức mạnh này. Quyền năng dành sẵn cho chúng ta ngày nay cũng chính là quyền năng đã làm cho Đức Chúa Giê-su không những sống lại, mà còn khôi phục vị trí quyền lực của Ngài bên hữu Đức Chúa Cha.
Nhưng sứ đồ Phao-lô không dừng lại ở đó. Sự Phục Sinh của Đức Chúa Giê-su không chỉ đơn giản ban cho Ngài bất cứ loại quyền năng nào, mà là loại quyền lực để cai trị và để cung cấp cho bất kỳ nhu cầu nào của dân Ngài cho đến muôn đời!

Lập danh sách những lĩnh vực trong cuộc sống mà bạn cần quyền năng của Đức Chúa Giê-su đã được phục sinh. Khi bạn đã soạn xong, hãy cầu nguyện rằng sức mạnh này sẽ được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực cần thiết của bạn. Đồng thời, bạn có thể làm gì tốt hơn, bạn có thể đưa ra những lựa chọn nào để cho phép sức mạnh này hoạt động không bị gò bó trong cuộc sống của bạn?

Có một tấm bảng trong nhà một số người mang nội dung khôi hài như sau: “Tại sao cần cầu nguyện khi bạn có thể tự lo lắng đến bạc đầu?” Nó khiến chúng ta bật cười vì biết chúng ta thường lo xa như thế nào thay vì chúng ta nên đến với Chúa và trao cho Ngài các mối ưu tư của chúng ta.

Ai đó đã từng nói rằng khi cuộc sống của chúng ta trở nên hoàn toàn bế tắc, hãy giao nó cho Chúa và để Ngài gỡ rối các khúc mắc của chúng ta. Đức Chúa Trời mong muốn làm điều này cho chúng ta biết bao! Tuy nhiên, thật điên rồ khi chúng ta lụi hụi xoay xở với những rắc rối của mình cho đến khi đâm ra mất bình tĩnh. Tại sao chúng ta chờ cho đến lúc tuyệt vọng mới đến với Chúa?

Đọc 1 Phi-e-rơ 5:7. Sứ đồ Phi-e-rơ đang trích Thi thiên 55:22. Ý nghĩa chính ở đây là gì? Xem thêm Ma-thi-ơ 6:25–33.

1 Phi-e-rơ 5:7 là một câu rất đơn giản. Không có bí mật nào ẩn giấu trong đó, và nó có nghĩa chính xác như những gì được viết. “Từ bỏ” có nghĩa là ném bỏ, cho đi, để những gì đang gây ra nỗi đau và buồn lo cho mình không còn dính dáng với mình nữa. Nhưng, tất nhiên, gánh nặng của chúng ta không phải có thể được ném đi bất cứ đâu. Sự lo lắng của chúng ta không biến mất thành một khoảng trống, nhưng được trao cho Cha của chúng ta ở trên trời, Đấng hứa sẽ giải quyết nó. Đó là những gì Đức Chúa Giê-su nói với chúng ta trong các câu trên ở trong Ma-thi-ơ. Trao cho Chúa những nỗi niềm của chúng ta để lòng mình thanh thản không phải là một điều khó làm, nhưng đúng hơn là làm như vậy có vẻ quá dễ dàng, và quá hay để có thể tin là một sự thật.

Lo lắng có nhiều nguyên nhân. Có thể đó là áp lực từ công việc. Những lời chỉ trích bất ngờ. Cảm thấy rằng chúng ta không được người khác cần, mong muốn hoặc mến yêu. Những lo lắng về sức khỏe hoặc tiền bạc. Cảm thấy rằng chúng ta không xứng đáng trước mặt Chúa. Tin rằng chúng ta không được tha thứ.

Dù là gì đi nữa, một lý do khiến chúng ta ngoan cố giữ khư khư những nan đề của mình là niềm kiêu hãnh cho rằng tự mình có thể giải quyết chúng khôn khéo hơn bất cứ ai khác. Nhưng Sứ đồ Phi-e-rơ kêu gọi chúng ta cần xét lại những ảo tưởng giống vậy. Lý do để chúng ta không cần phải lo lắng là Chúa đã lo rồi. Nhưng đôi khi có người thắc mắc không biết Ngài có còn quan tâm đủ để can thiệp khi họ đang đứng trên bờ ly hôn hay khi họ cảm thấy mình thật vô tích sự hay không? Kinh Thánh khẳng định rằng Ngài quan tâm đủ để biến đổi mọi hoàn cảnh.

Những điều khiến bạn lo lắng bây giờ là gì? Dù chúng chính đáng đến đâu, rắc rối đến đâu đi nữa, có điều gì quá khó cho Chúa không? Có thể vấn đề lớn nhất của chúng ta là mặc dù chúng ta tin rằng Chúa biết mọi khó khăn của chúng ta và có thể sửa chữa, chúng ta không tin rằng Ngài sẽ giải quyết theo cách chúng ta muốn. Hãy tập trung vào ý tưởng cuối đó và tự hỏi xem điều này đúng như thế nào trong cuộc sống của chính bạn.

Nghĩ rằng không ai quan tâm gì đến cá nhân chúng ta đã là một cảm xúc thật tủi thân, nhưng nghĩ rằng Đức Chúa Trời không biết hoặc hững hờ với chúng ta thì quả là một cảm xúc thật đau buồn vô cùng.

Đối với những người Giu-đa bị lưu đày ở xứ Ba-by-lôn, Đức Chúa Trời dường như thờ ơ trước hoàn cảnh của họ. Họ vẫn bị đày ải, vẫn cảm thấy bị Chúa bỏ rơi vì tội lỗi của họ. Nhưng tiên tri Ê-sai đã có những lời an ủi cho họ. Ê-sai 40 là một đoạn văn rất hay, trong đó tiên tri bày tỏ rất dịu dàng với dân sự về Đức Chúa Trời của họ: “Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên; thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẵm vào lòng; từ từ dắt các chiên cái đương cho bú” (Ê-sai 40:11). Nhưng sau một thời gian dài, đức tin của những người lưu vong bắt đầu lung lay khiến họ nghĩ rằng, Hỡi Chúa, Ngài ở đâu? Chúng tôi không thể thấy bất kỳ bằng chứng nào cho thấy Ngài vẫn còn đó — hoặc quan tâm!

Xin đọc Ê-sai 40:27–31. Tiên tri Ê-sai mô tả Đức Chúa Trời theo những cách nào? Sự mô tả này về Đức Chúa Trời có ý nghĩa như thế nào để trả lời niềm tin của họ rằng “Đường tôi đã khuất khỏi Đức Giê-hô-va, lý đoán tôi qua khỏi Đức Chúa Trời tôi?”(Ê-sai 40:27)?

Trong sách Ê-xơ-tê, một nhóm người khác có thể đã có ý tưởng rằng con đường của họ bị che giấu khỏi Đức Chúa Trời. Trong cuốn sách này, Chúa không được nhắc đến dù chỉ một lần. Tuy nhiên, toàn bộ câu chuyện là một màn kịch đang diễn ra về sự can thiệp của Đức Chúa Trời để cứu dân Ngài khỏi một sắc luật không thể sửa đổi mà đã được đặt ra để buộc họ bị tiêu diệt. Câu chuyện này không chỉ ghi lại những sự kiện trong quá khứ, mà còn tượng trưng cho một thời điểm trong tương lai khi dân Chúa sẽ lại bị bắt bớ và một luật mới lại được đặt ra để hủy diệt họ (Khải huyền 13:15). Nếu có những hoàn cảnh khủng khiếp như thế, thật dễ để kết luận rằng Đức Chúa Trời chắc chắn đã bỏ rơi con dân Ngài. Nhưng chúng ta không nên sợ hãi. Chính Đấng đã cứu những người được chọn của Ngài trong câu chuyện của hoàng hậu Ê-xơ-tê cũng là Đức Chúa Trời sẽ giải cứu những người được chọn của Ngài một lần nữa trong cơn khủng hoảng cuối cùng.

Chúng ta đã đọc cách tiên tri Ê-sai bày tỏ Đức Chúa Trời cho những người bị lưu đày. Bạn sẽ bày tỏ Chúa như thế nào cho những ai cảm thấy rằng Chúa đã biến mất và đã bỏ rơi họ? Bạn sẽ chỉ cho họ như thế nào để biết nhìn bằng con mắt thiêng liêng của đức tin và không bị lệ thuộc vào những gì họ nhìn thấy xung quanh bằng con mắt phàm?

“Chẳng phải Đức Chúa Trời đã nói rằng Ngài sẽ ban Đức Thánh Linh cho những người cầu xin Ngài sao? Và không phải Thánh linh này là một Đấng dẫn đường cụ thể và thực sự hay sao? Một số người có vẻ sợ hãi không dám tin tưởng hoàn toàn nơi Lời của Đức Chúa Trời, như thể tin vậy là quá tự phụ. Họ cầu nguyện để Chúa dạy dỗ họ nhưng ngần ngại tin các lời Ngài đã cam kết và cũng không tin rằng họ đã được dạy về Ngài. Miễn là chúng ta đến với Cha trên trời một cách khiêm cung và với tinh thần mong được chỉ giáo, sẵn lòng và nôn nóng học hỏi, thì tại sao chúng ta cần phải nghi ngờ việc Đức Chúa Trời thực hiện lời hứa của chính Ngài?

Chúng ta không được nghi ngờ Đức Chúa Trời dầu chỉ một giây mà trở nên phạm thượng. Khi bạn đã tìm cách biết được ý muốn của Ngài, thì phận sự của bạn trong hành động với Đức Chúa Trời là tin rằng bạn sẽ được dẫn dắt, hướng dẫn và ban phước khi làm theo thánh ý Ngài. Chúng ta có thể không tin tưởng chính mình vì lo ngại chúng ta hiểu sai lời dạy của Ngài, nhưng hãy biến lo ngại này thành chủ đề cầu nguyện, và tin cậy Ngài, vẫn hết sức tin cậy Ngài, rằng Đức Thánh Linh của Ngài sẽ dẫn dắt bạn giải thích đúng những kế hoạch và sự quan phòng của Ngài.” — Ellen. G. White, Manuscript Releases, tập 6, trang 225.

“Niềm tin phát triển mạnh mẽ bằng cách trực diện những nghi ngờ và những ảnh hưởng đối lập. Kinh nghiệm thu được trong những cuộc thử thách này có giá trị hơn cả những món trang sức đắt giá nhất.” — Ellen. G. White, Testimonies for the Church, tập 3, trang 555.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Cả lớp hãy bàn về những thứ chúng ta tin tuy vô hình, những điều chúng ta biết là có thật nhưng nằm ngoài tầm nhìn của chúng ta. Làm thế nào điều này có thể giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của hiện tượng nhìn thấy “Ngài là một Đấng vô hình”?
  2. Thảo luận về câu hỏi ở cuối buổi học ngày Thứ Tư. Chúng ta thường thấy mình trong tình huống đó như thế nào? Chúng ta có thể làm gì để giúp mình tin tưởng hơn rằng cách của Chúa là tốt nhất, ngay cả khi đó không phải là ước vọng của chúng ta?
  3. Nếu “niềm tin phát triển mạnh mẽ bằng cách trực diện những nghi ngờ và những ảnh hưởng đối lập” và điều này dẫn đến một thứ gì đó cực kỳ giá trị, “có giá trị hơn những món trang sức đắt giá nhất”, vậy nhận thức này nên giúp cách chúng ta nhìn những xung đột như thế nào?
  4. Hầu hết chúng ta đã từng chứng kiến mọi người, thậm chí cả những tín hữu Cơ Đốc khác, ở trong những hoàn cảnh mà ít nhất theo quan điểm của chúng ta, mặc dù có những lời cầu nguyện và nỗ lực hết mình của mọi người, đã dẫn tới những kết cục thật tang thương, gồm cả điều tồi tệ nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng. Làm thế nào để chúng ta có thể hiểu sự thách đố hóc búa này dựa trên những gì chúng ta đã và đang nghiên cứu?
Bài Học 7, 6 — 12 Tháng 8, 2022

NIỀM HY VỌNG BẤT DIỆT

CÂU GỐC: “Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” (Rô-ma 5:5).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Ha-ba-cúc 1:1–4; Gióp 38–41; Ê-sai 41:8–14; Giê-rê-mi 29:1–10; Hê-bơ-rơ 12:1–13.

Khi ở trong nhà thờ quây quần sinh hoạt với các tín hữu miệng tươi cười, thật dễ dàng cho chúng ta ca hát và nói về những niềm hy vọng tươi sáng. Nhưng khi chúng ta thấy chính mình đang vùng vẫy trong lò luyện kim của thử thách, thì hy vọng dường như vắng bóng. Khi hoàn cảnh thúc ép xung quanh chúng ta tứ phía, chúng ta bắt đầu đặt câu hỏi về mọi thứ, đặc biệt là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.

Trong một cuốn sách của mình, tác giả C. S. Lewis viết về một con sư tử giả. Muốn gặp sư tử này, có người hỏi sư tử có nguy hiểm không. Người đó được thông báo rằng tuy nó nguy hiểm, nhưng đừng lo vì nó “rất tốt.”

Mặc dù không phải lúc nào chúng ta cũng hiểu Chúa và Ngài dường như làm những điều không thể đoán trước, nhưng điều đó không có nghĩa là Chúa chống lại hay không đoái hoài đến chúng ta. Nó chỉ đơn giản là chúng ta chưa có bức tranh toàn cảnh. Nhưng chúng ta đấu tranh với ý tưởng rằng để chúng ta có được bình an, tự tin và hy vọng, Đức Chúa Trời phải là một Đấng chúng ta có thể hiểu được như đi guốc trong bụng và có thể đoán trước được mọi bước đi của Ngài. Theo suy nghĩ của chúng ta, Chúa không mang đến cho chúng ta sự “bất ổn” nào. Tuy nhiên nếu tin như vậy, chúng ta chỉ tự tạo cho mình một nỗi thất vọng ê chề.

Khi bị tổn thương, chúng ta rất dễ cho rằng những gì xảy ra cho mình là điều quan trọng duy nhất. Nhưng có một bức tranh rộng lớn hơn là “chỉ có tôi” (xin xem Khải huyền 12:7, Rô-ma 8:22).

Xin đọc Ha-ba-cúc 1:1–4. Ha-ba-cúc đã phải đối mặt với điều gì?

Bạn có thể mong đợi Đức Chúa Trời sẽ nói điều gì đó như là, “Điều đó thực sự khủng khiếp, Ha-ba-cúc; để Ta đến giúp ngươi ngay lập tức.” Nhưng Chúa đáp ngược lại. Ngài nói với Ha-ba-cúc rằng mọi chuyện sẽ trở nên tồi tệ hơn. Xin đọc lời tiên tri này trong Ha-ba-cúc 1:5–11.

Dân Y-sơ-ra-ên đã bị người A-si-ri bắt làm phu tù, nhưng Đức Chúa Trời cảnh bảo họ rằng những sự việc sắp xảy đến còn tồi tệ hơn gấp nhiều lần: ấy là người Ba-by-lôn sẽ mang dân tộc Giu-đa đi. Ha-ba-cúc lại tiếp tục kêu than trong các câu 12–17, và tiên tri chờ xem sự hồi đáp của Đức Chúa Trời.

Lời giới thiệu của Đức Chúa Trời trong Ha-ba-cúc 2:2, 3 về lời hứa về sự hủy diệt Ba-by-lôn đã mang lại hy vọng như thế nào?

Ha-ba-cúc 2 là lời hứa của Đức Chúa Trời về sự hủy diệt của người Ba-by-lôn. Hê-bơ-rơ 10:37 đã trích dẫn Ha-ba-cúc 2:3 để áp dụng cho sự cứu rỗi trong tương lai. Như sự hủy diệt của Ba-by-lôn đã được báo trước một cách rất chắc chắn, thì chúng ta cũng được báo trước một cách rất chắc chắn về sự hủy diệt của “Ba-by-lôn Lớn” (Khải huyền 18:2).

Tiên tri Ha-ba-cúc bị mắc kẹt giữa ác lực lớn đang diễn ra quanh ông và một ác lực khác ghê gớm hơn sẽ xảy đến trong tương lai theo lời cảnh báo của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, đây chính là thời điểm chúng ta thấy mình trong lịch sử cứu rỗi. Điều ác lớn đang vây quanh chúng ta, nhưng Kinh Thánh dự đoán là tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn nhiều. Chìa khóa sống sót của tiên tri Ha-ba-cúc là ông được cho xem trước toàn bộ bức tranh. Vì vậy, trong chương 3, do nhìn thấy những gì Đức Chúa Trời sẽ làm trong tương lai, tiên tri đã dâng lên một lời cầu nguyện đầy ngợi khen rất đáng ngạc nhiên.

Xin đọc Ha-ba-cúc 3:16–19. Tiên tri Ha-ba-cúc xác nhận lý do hy vọng của mình là gì? Dân Chúa hy vọng gì khi chúng ta mong đợi sự ứng nghiệm của các viễn cảnh tiên tri cuối cùng? Làm thế nào bạn có thể biến hy vọng này thành của riêng bạn?

Tác giả Oswald Chambers viết, “Bạn đã từng hỏi Chúa rằng Ngài sẽ làm gì chưa? Ngài sẽ không bao giờ nói với bạn. Đức Chúa Trời không cho bạn biết Ngài sẽ làm gì, nhưng Ngài tiết lộ cho bạn biết Ngài là ai.” — My Utmost for His Highest (Uhrichsville, OH: Barbour & Company, Inc., 1963), ngày 2 tháng 1.

Theo bạn, tác giả Chambers có ý gì qua câu trên?

Như chúng ta biết, sách Gióp bắt đầu với bi kịch lớn cho cá nhân ông Gióp. Ông ta mất tất cả mọi thứ, ngoại trừ mạng sống và vợ mình, người mà đã gợi ý rằng ông nên “phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi!” (Gióp 2:9). Sau đó là một cuộc thảo luận nhiều ngày với bạn bè của ông để cố gắng xác định lý do và nguyên nhân đã tạo ra thảm cảnh. Trong suốt tất cả các cuộc thảo luận này, Đức Chúa Trời vẫn im lặng.

Rồi đột nhiên trong Gióp 38, Đức Chúa Trời hiện ra và phán: “Kẻ nầy là ai dám dùng các lời không tri thức, mà làm cho mờ ám các mưu định ta?” (Gióp 38:2). Không dừng lại ở đó, Ngài liên tiếp hỏi ông Gióp khoảng 60 câu hỏi đầy kinh ngạc. Xin mở Kinh Thánh của bạn và xem qua những câu hỏi của Đức Chúa Trời trong Gióp 38 và 39.

Sau câu hỏi cuối cùng, ông Gióp trả lời, “Tôi vốn là vật không ra gì, sẽ đáp chi với Chúa? Tôi đặt tay lên che miệng tôi. Tôi đã nói một lần, song sẽ chẳng còn đáp lại; Phải, tôi đã nói hai lần, nhưng không nói thêm gì nữa” (Gióp 39:37–38). Nhưng Đức Chúa Trời chưa kết thúc. Ngài bắt đầu trở lại và hỏi một loạt các câu hỏi “trọng đại” khác.

Xin đọc câu trả lời cuối cùng của ông Gióp trong Gióp 42:1–6. Đức Chúa Trời đang muốn nói gì với ông, và điều gì đã ảnh hưởng đến ông?

Đức Chúa Trời không bao giờ trả lời bất kỳ câu hỏi “tại sao” nào của bạn bè ông ta. Nhưng Ngài đã vẽ nên một bức tranh về sự vĩ đại vô song của Ngài như đã được bày tỏ qua các công trình sáng tạo lạ lùng. Sau đó, ông Gióp chắc chắn không cần bất kỳ câu trả lời nào khác từ Đức Chúa Trời vì nhu cầu giải thích của ông đã bị lu mờ bởi một bức tranh choáng ngợp về sự vĩ đại của Ngài.

Câu chuyện này tiết lộ một nghịch lý thú vị. Niềm hy vọng và sự khích lệ không cần nảy sinh từ sự thông kim bác cổ nhưng thật sự từ một nhận thức khiêm tốn rằng mình biết rất ít. Theo bản năng, chúng ta cố gắng tìm kiếm sự an ủi trong ảo tưởng phải biết mọi thứ, và vì vậy trở nên chán nản và bất an khi không thể biết được. Nhưng đôi khi Đức Chúa Trời nêu bật sự thiếu hiểu biết của chúng ta để chúng ta nhận ra rằng hy vọng của con người chỉ có thể tồn tại trong một Hữu thể vĩ đại hơn chúng ta.

Có phải những sự việc bạn không hiểu được đang xảy ra không? Nếu vậy, hãy tập trung vào cá tính của Đức Chúa Trời. Làm thế nào để hành động tập trung này có thể mang lại cho bạn niềm hy vọng mà bạn cần giữ vững để có thể kiên trì vượt qua những gì chưa hiểu được?

“Vì ta, là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, sẽ nắm tay hữu ngươi, và phán cùng ngươi rằng: Đừng sợ, ta sẽ giúp đỡ ngươi” (Ê-sai 41:13).

Ai đó đã từng nói, “Khi Chúa dường như ở xa, phải chăng Ngài hoặc ta là người đã di chuyển?” Khi gian nan xảy đến, chúng ta cho rằng Chúa đã bỏ rơi chúng ta. Sự thật là Ngài đã không đi đâu cả.

Sự hiện diện của Đức Chúa Trời dường như rất xa vời đối với những người Do Thái lưu vong. Tuy nhiên, qua tiên tri Ê-sai, Đức Chúa Trời đảm bảo với họ về sự giải cứu sau này. Tuy nhiên, trong khi viễn ảnh trở lại Giê-ru-sa-lem thực sự còn rất xa xôi, Đức Chúa Trời muốn dân Ngài biết rằng Ngài không rời xa họ và họ có mọi lý do để hy vọng.

Đọc Ê-sai 41:8–14. Bạn có thể xác định lý do nào để những người háo hức chờ đợi sự giải thoát trong tương lai có hy vọng? Lời hứa này giúp ích gì cho chúng ta khi chúng ta chờ đợi hồi kết cục của sự lưu đày trên đất?

Một trong những hình ảnh sống động nhất trong các câu Kinh Thánh này được tìm thấy trong Ê-sai 41:13. Đức Chúa Trời tối cao của vũ trụ nói rằng dân sự của Ngài không cần phải sợ hãi, bởi vì Ngài là Đấng nắm lấy “tay hữu ngươi”. Tưởng tượng một cách đơn sơ rằng Đức Chúa Trời hướng dẫn các sự kiện trên trái đất từ một ngai vàng uy nghi cách xa trái đất chúng ta nhiều tỉ năm ánh sáng là một lối nhìn, nhưng hoàn toàn là một lối nhìn khác để nhận thức rằng Đức Chúa Trời ở ngay bên cạnh nắm tay các con cái thân yêu của Ngài.

Khi chúng ta bận rộn, thật khó để nhớ rằng Chúa đang ở gần chúng ta. Nhưng khi chúng ta nhớ rằng Ngài là Em-ma-nu-ên hay “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”, thì ý tưởng này tạo nên một sự khác biệt đáng kể trong sự suy nghĩ của chúng ta. Khi chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở cạnh chúng ta, thì các mục đích, lời hứa và quyền năng biến đổi của Ngài cũng ở cạnh chúng ta vậy.

Vài ngày tới, hãy thử làm một thí nghiệm. Vào mỗi lúc có thể, hãy cố gắng nhắc nhở bản thân rằng Chúa của vũ trụ rất gần để nắm tay bạn và đang mật thiết hứa sẽ giúp đỡ bạn. Mỗi khi bạn tự nhắc nhở như vậy, cách bạn sống và sinh hoạt đã thay đổi như thế nào? Hãy ghi lại các trường hợp đó. Hãy chuẩn bị để thảo luận về trải nghiệm của bạn trong lớp học vào ngày Sa-bát.

Mọi người đều đang tìm kiếm hy vọng. Nhưng hy vọng được tìm thấy ở đâu? Đối với một số người, hy vọng được tìm thấy trong nụ cười của một người bạn. Đối với những người khác, hy vọng lớn lên từ sự an toàn tài chính hoặc một cuộc hôn nhân ổn định. Bạn thường tìm kiếm hy vọng và lòng can đảm nơi nào?

Trong sách Giê-rê-mi, nhà tiên tri đang viết cho những người đã mất hết hy vọng khi bị lưu đày. “Chúng tôi đương ngồi trên mé sông Ba-by-lôn, bèn nhớ lại Si-ôn, và khóc” (Thi thiên 137:1). Nhưng dù cõi lòng họ tan nát, tiên tri Giê-rê-mi vẫn đưa ra các lý do khiến họ không nên từ bỏ hy vọng.

Giê-rê-mi 29:1–10 nêu ra những lý do nào để có hy vọng?

Trong phân đoạn này, có ba nguồn hy vọng quan trọng đáng được làm nổi bật.

Trước tiên, Đức Chúa Trời nói với dân sự Ngài rằng họ không nên đánh mất hy vọng, bởi vì hoàn cảnh của họ không phải là kết quả của sự may rủi hay sự dữ không thể đoán trước. Vì chính Đức Chúa Trời phán, “những kẻ mà ta đã khiến bị bắt làm phu-tù từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn” (Giê-rê-mi 29:4). Mặc dù điều ác dường như vây hãm họ, dân Giu-đa chưa bao giờ rời khỏi trung tâm lòng bàn tay của Đức Chúa Trời.

Thứ hai, Đức Chúa Trời nói với dân sự của Ngài rằng họ không nên từ bỏ hy vọng, bởi vì Ngài có thể làm việc ngay cả trong những khó khăn hiện tại của họ. “Hãy tìm sự bình an cho thành mà ta đã khiến các ngươi bị đày đến làm phu tù, hãy vì nó cầu nguyện Đức Giê-hô-va; vì sự bình an các ngươi nhờ sự bình an của nó”(Giê-rê-mi 29:7).

Thứ ba, Đức Chúa Trời nói với dân Ngài rằng họ không nên để hy vọng của họ tàn rụi, bởi vì Ngài sẽ chấm dứt sự lưu đày của họ vào một thời điểm cụ thể: “Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Khi bảy mươi năm sẽ mãn cho Ba-by-lôn, ta sẽ thăm viếng các ngươi, sẽ làm trọn lời tốt lành cho các ngươi, khiến các ngươi trở về đất nầy” (Giê-rê-mi 29:10).

Sau khi Đức Chúa Trời đã giải thích cách Ngài kiểm soát quá khứ của họ, kiểm soát hiện tại và sẽ kiểm soát tương lai của họ, Ngài truyền đạt một cách tuyệt vời sự quan tâm dịu dàng của Ngài đối với dân sự của Ngài (xin xem Giê-rê-mi 29:11–14).

Hãy đọc Giê-rê-mi 29:11–14, nói tên của bạn sau từ “ngươi”, như thể Đức Chúa Trời đang đưa ra các lời hứa này cho cá nhân bạn. Hãy áp dụng những lời hứa này cho bản thân trong bất cứ cuộc đấu tranh hiện tại nào của bạn.

Đọc Hê-bơ-rơ 12:5–13. Thông điệp gửi đến chúng ta ở đây là gì và nó phù hợp thế nào với những gì chúng ta đã nghiên cứu trong khóa học này?

Trong Hê-bơ-rơ 12:5–13, Sứ đồ Phao-lô mô tả những cuộc thử thách ở trong bối cảnh sửa phạt. Trong bản dịch Kinh Thánh NIV của phân đoạn này, các dạng khác nhau của từ “sửa phạt” xuất hiện mười lần. Trong thế giới Hy Lạp, từ này là từ cơ bản nhất để chỉ “giáo dục”. Vì vậy, hiểu “sửa phạt” là hiểu cách Đức Chúa Trời giáo dục chúng ta trong trường học đức tin mà sứ đồ Phao-lô đã mô tả trước đây trong Hê-bơ-rơ 11.

Trong suốt Hê-bơ-rơ 11, Sứ đồ Phao-lô đã vẽ lên những bức tranh phác họa những người đầy đức tin. Niềm tin của họ là thứ giúp họ tiếp tục bước đi khi họ phải đối mặt với muôn vàn tình huống thử thách. Khi chúng ta bước vào chương 12, sứ đồ Phao-lô quay sang chúng ta, những độc giả, và nói rằng vì bao tiền nhân của chúng ta đã kiên trì vượt qua các thách đố khủng khiếp, chúng ta cũng có thể chạy và hoàn tất đời sống đức tin của chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta phải dán mắt vào Đức Chúa Giê-su (Hê-bơ-rơ 12:2), để Ngài có thể là tấm gương khi gặp khó khăn (Hê-bơ-rơ 12:3). Việc đọc chương 12 giống như được tặng một cặp kính đọc sách. Nếu không có cặp kính này, tầm nhìn hoặc sự hiểu biết về các nghịch cảnh của chúng ta sẽ luôn mờ nhạt. Nhưng nhìn qua cặp kính sẽ sửa lại lời giải thích mù mờ về sự đau khổ mà nền văn hóa chung quanh chúng ta luôn áp đặt lên chúng ta. Sau đó, chúng ta sẽ có thể hiểu rõ và có thể phản ứng với các thử thách một cách khôn ngoan hơn.

Hãy đọc qua “cặp mắt kính” của Hê-bơ-rơ 12:1–13. Bây giờ tập trung vào các câu 5–13 và trả lời các câu hỏi sau đây:

Nguồn gốc của sửa phạt là gì?
Phản ứng của chúng ta đối với sửa phạt là gì?
Mục tiêu của sửa phạt là gì?

Xin đọc lại Hê-bơ-rơ 12:1–13. Lập danh sách tất cả những lý do mà bạn có thể xác định để dùng làm cơ sở cho lòng hy vọng. Bạn đã trải nghiệm niềm hy vọng này như thế nào trong những lúc chính bạn được “giáo dục” thuộc linh?

“Theo kinh nghiệm của tất cả mọi người, ai cũng có lúc thất vọng tột cùng và hoàn toàn chán nản — những ngày mà nỗi buồn là số phần, và thật khó tin rằng Đức Chúa Trời vẫn là ân nhân nhân hậu của những đứa con của Ngài sinh ra trên mặt đất này; những ngày mà bao rắc rối quấy nhiễu tâm hồn, đến nỗi có người cảm thấy thà chết còn hơn sống. Sau đó, nhiều người buông tay không nắm Chúa nữa và hậu quả là họ bị bắt làm nô lệ cho lòng nghi ngờ, gông cùm của sự không tin. Những lúc như vậy, bằng cái nhìn thấu suốt tâm linh, chúng ta có thể phân biệt được ý nghĩa của những điều Chúa quan phòng. Chúng ta sẽ thấy các thiên sứ đang tìm cách cứu chúng ta khỏi chính mình, cố gắng mang chân chúng ta đặt trên một nền tảng vững chắc hơn cả các ngọn đồi vĩnh cửu, để từ đó niềm tin mới, cuộc sống mới sẽ đâm chồi.” — Ellen G. White, Prophets and Kings, trang 162.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Bà Ellen G. White nói rằng “tất cả” chúng ta đều trải qua những thời điểm “thất vọng não nề và vô cùng chán nản”. Khi trải qua những khoảng thời gian như vậy, chúng ta để ý lẫn nhau như thế nào? Làm thế nào chúng ta có thể học cách trở thành những tác nhân đem hy vọng cho nhau tốt hơn khi chúng ta trải qua những thất vọng cay đắng như vậy?
  2. Cả lớp hãy cùng xem lại câu trả lời của các bạn cho câu hỏi cuối cùng của ngày Thứ Ba. Luôn giữ trước mắt tính cách cận kề của Đức Chúa Trời tạo sự khác biệt nào trong đời sống bạn?
  3. Trong lớp, hãy đọc to các phần trong Gióp 38–41. Hình ảnh Đức Chúa Trời hiện ra như thế nào? Bạn học được điều gì mang lại cho bạn hy vọng và sự khích lệ? Làm thế nào để ngày Sa-bát phù hợp với bức tranh này? Nó giúp chúng ta luôn nhớ về bản chất và cá tính của Đức Chúa Trời như thế nào?
  4. Niềm hy vọng có sức biến đổi bắt nguồn từ thiên đường. Sự kiện này có nghĩa là chúng ta có thể cầu nguyện cho nhau để hy vọng xâm nhập cuộc sống mỗi người. Hãy dành chút thời gian cầu nguyện cho những người mà gần đây hy vọng của họ đang trở nên nao núng, để hy vọng của họ có thể được đổi mới. Hơn thế nữa, bạn có thể làm gì cho những người khác đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm hy vọng?
  5. Nếu ai đó sẵn sàng chia sẻ, hãy yêu cầu người đó kể lại khoảng thời gian mà sự tuyệt vọng và thử thách đã khiến họ mất hết hy vọng và niềm tin. Điều gì đã khiến người đó quay trở lại? Chúng ta có thể chia sẻ với nhau bí quyết gì có thể giúp ích khi chúng ta rơi vào thời điểm nghi ngờ và tuyệt vọng?
Bài Học 6, 30 tháng 7 — 5 tháng 8, 2022

CHIẾN ĐẤU VỚI TẤT CẢ NĂNG LỰC

CÂU GỐC: “Ấy cũng là vì đó mà tôi làm việc, nhờ sức Ngài giúp đỡ mà chiến đấu, là sức hành động cách có quyền trong tôi” (Cô-lô-se 1:29).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giăng 16:5–15; Cô-lô-se 1:28, 29; 1 Phi-e-rơ 1:13; Ma-thi-ơ 5:29; Sáng thế Ký 32.

Có hai người, ông A và bà B được mời tham dự một chương trình đối thoại trên truyền hình. Cả hai đều đã trải qua một kinh nghiệm đau thương là mỗi người đều có một đứa con bị giết. Con trai của bà B đã bị sát hại 20 năm trước, sự tức giận và cay đắng của bà vẫn chưa hề nguôi ngoai. Người đàn ông thì hoàn toàn khác. Con gái của ông đã bị bọn khủng bố sát hại vài năm trước đó. Ông nói về sự tha thứ cho những kẻ giết người và về cách Chúa đã biến đổi vết thương của ông. Dầu nỗi đau khủng khiếp đến đâu, người đàn ông này đã trở thành một minh họa về cách Chúa có thể hàn gắn các vết thương trong những khoảnh khắc đen tối nhất của cuộc đời chúng ta.

Làm sao hai người với hoàn cảnh tương tự mà lại có phản ứng khác nhau như vậy? Làm thế nào để sự thay đổi thuộc linh xảy ra trong đời sống của một Cơ Đốc nhân có thể giúp cá nhân đó trưởng thành qua những khó khăn của cuộc đời thay vì bị chúng lấn át hoàn toàn?

Bài học tuần này sẽ giúp chúng ta giải đáp những câu hỏi như sau: Trong cuộc chiến với bản ngã và tội lỗi, ý chí và sức mạnh ý chí của chúng ta đã đóng vai trò gì? Làm thế nào chúng ta có thể tránh được sai lầm khi chúng ta để cảm xúc của mình chi phối các quyết định của chúng ta? Tại sao chúng ta phải kiên trì và không bỏ cuộc khi ở trong lò luyện kim?

Bạn đã bao lần cầu nguyện, “Xin Chúa hãy cho con trở nên một người tốt!” nhưng dường như chẳng có gì thay đổi. Sao điều ấy lại có thể xảy ra được khi chúng ta cầu nguyện xin quyền năng biến đổi vĩ đại của Đức Chúa Trời hoạt động trong lòng chúng ta, nhưng đời sống của chúng ta xem ra vẫn vậy. Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời có những nguồn tài nguyên siêu nhiên không giới hạn mà Ngài tha thiết và muốn tự do ban cho chúng ta. Chúng ta thật lòng muốn tận dụng tất cả, mà sao cuộc sống của chúng ta dường như không thay đổi theo cách phù hợp với những gì Chúa ban cho.

Tại sao? Một lý do tuy đơn giản nhưng đáng lo ngại: Trong khi Đức Thánh Linh có quyền năng vô hạn để biến đổi chúng ta, có thể chính những lựa chọn của chúng ta đã hạn chế những gì Đức Chúa Trời có thể làm.

Đọc Giăng 16:5–15. Trong đoạn này, Đức Chúa Giê-su gọi Đức Thánh Linh là “Thần lẽ thật” (Giăng 16:13). Điều này có ngụ ý gì về công việc Đức Thánh Linh làm cho chúng ta?

Trong khi Đức Thánh Linh có thể chỉ cho chúng ta sự thật về tội lỗi của mình, Ngài không thể khiến chúng ta ăn năn. Ngài cũng có thể cho chúng ta thấy sự thật vĩ đại nhất về Đức Chúa Trời, nhưng Ngài không thể buộc chúng ta tin hoặc vâng theo điều đó. Nếu Chúa ép buộc chúng ta dù chỉ một chút thôi, chúng ta sẽ mất đi tự do ý chí, và Sa-tan sẽ buộc tội Ngài thao túng tâm trí và trái tim của chúng ta, rồi do đó hắn có thể buộc tội Chúa gian dối trong cuộc tranh chấp thiện ác vĩ đại. Khi cuộc tranh chấp lớn xảy ra trên thiên đàng, Cha của chúng ta không buộc Sa-tan hay bất kỳ thiên sứ nào khác tin rằng Ngài là Đấng công bình toàn thiện, hay bắt các thiên sứ phải ăn năn. Và trong Vườn Địa Đàng, khi mọi điều lại bị đe dọa lần nữa, Đức Chúa Trời đã cảnh báo sự thật về cái cây ở giữa vườn rất rõ ràng, nhưng Ngài không ngăn cản Ê-va và A-đam sử dụng tự do ý chí không vâng lời của họ. Đức Chúa Trời cũng sẽ không hành động cách khác với chúng ta ngày nay. Vì vậy, Đức Thánh Linh trình bày lẽ thật về Đức Chúa Trời và tội lỗi và sau đó nói, “Theo những gì ta đã cho ngươi thấy, ngươi sẽ làm gì bây giờ?”

Điều đó cũng giống như khi chúng ta ở trong nồi nấu kim loại. Đôi khi cái lò nóng hiện diện chính vì chúng ta đã không vâng lời hoặc không ăn năn tội lỗi của mình. Để Cha chúng ta có thể làm việc trong những trường hợp như vậy, chúng ta phải ý thức chọn mở cánh cửa của sự ăn năn và vâng lời để quyền năng của Đức Chúa Trời có thể bước vào và cải hóa chúng ta.

Trong thời gian gần đây “Thần lẽ thật” đã mang đến cho bạn niềm tin nào? Bạn lắng nghe tiếng Ngài kỹ càng đến đâu? Và, quan trọng nhất, với ý chí tự do của mình, bạn đang có những lựa chọn nào?

Thành đạt lớn nhất của bạn là gì? Dĩ nhiên không phải chỉ một buổi sáng lăn ra khỏi giường là bạn đạt được thành công. Nếu chúng ta muốn đạt được điều gì đó đáng giá trong cuộc sống này, chúng ta cần phải có thời gian và nỗ lực. Trở thành môn đồ của Đấng Christ cũng vậy đó.

Đọc Cô-lô-se 1:28, 29. Mặc dù Phao-lô nói về Đức Chúa Trời đang làm việc trong ông, nhưng ông cho thấy sức người cũng góp phần ra sao? Xem thêm Phục truyền 4:4, Lu-ca 13:24, 1 Cô-rinh-tô 9:25, Hê-bơ-rơ 12:4.

Cô-lô-se 1:29 cho một cái nhìn sâu sắc về mối tương giao giữa Phao-lô với Đức Chúa Trời trong công việc này. Ông nói rằng ông chiến đấu — nhưng với quyền năng của Chúa.

Chữ “làm việc” có nghĩa là “trở nên mệt mỏi”, “làm việc đến mức kiệt sức.” Từ này được sử dụng đặc biệt cho các lực sĩ hay vận động viên khi họ tập luyện. Từ “chiến đấu” tiếp theo trong câu, có nghĩa là “khổ sở”. Vì vậy, chúng ta có hình ảnh một vận động viên đang căng thẳng với tất cả mọi thứ để giành chiến thắng. Nhưng sau đó Phao-lô thêm vào ý tưởng, rằng vì ông đang cố gắng tận cùng, không phải với tất cả những gì ông có, mà với tất cả những gì Chúa ban cho ông. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận cách đơn giản về chức vụ của Phao-lô — đó là một chức vụ được thực hiện với nỗ lực và kỷ luật cá nhân tột bực, nhưng thực hiện với quyền năng của Đức Chúa Trời. Mối quan hệ này cũng hoạt động y như vậy khi chúng ta muốn phát triển đức tính của Đấng Christ trong chúng ta.

Chúng ta cần nhớ điều quan trọng ấy bởi vì chúng ta đang sống trong một thế giới chỉ muốn càng ngày càng sở hữu thêm với nỗ lực càng ngày càng giảm bớt. Ý tưởng đó cũng đã len lỏi vào Cơ Đốc giáo. Một số nhà truyền giáo hứa rằng bạn chỉ cần tin, Đức Thánh Linh sẽ đổ xuống cho bạn quyền năng siêu nhiên tuyệt vời và Ngài sẽ thực hiện những phép lạ vĩ đại. Nhưng đây có thể là một nửa sự thật nguy hiểm, bởi vì nó có thể khiến mọi người kết luận rằng chúng ta chỉ cần ngồi thoải mái trong ghế bành và đợi quyền năng của Đức Chúa Trời giáng đến!

Kinh nghiệm riêng của bạn về những “chiến đấu” như Phao-lô nói đến là gì? Trong những điều Đức Chúa Trời đặt vào tâm trí bạn, có điều gì khiến bạn thấy khó khăn? Làm sao bạn có thể học được cách đầu phục theo ý muốn của Đức Chúa Trời?

Một trong những kẻ thù lớn nhất của ý chí chúng ta chính là cảm xúc. Chúng ta sống trong một nền văn hóa tràn ngập với hình ảnh và âm nhạc trực tiếp thu hút các giác quan của chúng ta, khích động những cảm xúc như — tức giận, sợ hãi hoặc ham muốn — mà chúng ta không ý thức được. Chúng ta thường nghĩ những điều như “Tôi cảm thấy muốn ăn gì cho bữa tối?” “Hôm nay tôi cảm thấy như thế nào?” “Tôi có cảm thấy thỏa thích khi mua món này không?” Do đó, cảm xúc đã trở nên mật thiết trong việc chúng ta quyết định hay lựa chọn. Cảm xúc không nhất thiết là xấu, nhưng cảm giác của tôi về điều gì đó có thể không liên hệ đến sự hay, tốt của điều ấy. Thật vậy, cảm xúc có thể lừa dối chúng ta (“Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật” [Giê-rê-mi 17:9]), và có thể tạo ra một bức tranh sai lệch về thực tế, khiến chúng ta có những lựa chọn sai lầm, đưa chúng ta vào những gian nan chính mình tạo ra.

Bạn có thể kể ra ví dụ nào trong Kinh Thánh khi một người chọn lựa dựa theo cảm xúc mình thay vì theo lời Chúa? Hậu quả của sự chọn lựa ấy là gì? Hãy xem ví dụ, Sáng thế Ký 3:6; 2 Sa-mu-ên 11:2–4; Ga-la-ti 2:11, 12.

Đọc 1 Phi-e-rơ 1:13. Phi-e-rơ quan tâm về điều gì, và muốn nhắn nhủ đọc giả thực sự làm gì?

Phi-e-rơ hiểu rằng trí óc là bánh lái cho cơ thể mà chúng ta điều khiển. Lấy đi sự kiểm soát của trí óc, và chúng ta sẽ bị điều khiển bởi bất kỳ cảm xúc nào đến với chúng ta.

Hãy tưởng tượng chúng ta đang đi trên một con đường hẹp dẫn đến nhà của Đấng Chăn chiên. Trên đường đi có nhiều ngã dọc ngang dẫn ra khắp hướng. Một số trong những con đường này đưa đến những nơi mà chúng ta không muốn đến. Có nhiều ngã khác trông hấp dẫn, thú vị, và gợi cảm. Tuy nhiên, nếu chúng ta chọn các lối đi này, chúng ta sẽ đi sai đường và có thể rất là khó khăn để quay lại.

Bạn đang phải đối mặt với những quyết định quan trọng nào? Hãy thành thật tự hỏi bản thân, “Có thể nào sự lựa chọn của tôi là dựa trên cảm giác, cảm xúc, ước muốn, trái ngược với Lời Chúa?”

“Vậy nếu con mắt bên hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy móc mà quăng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể bị ném vào địa ngục” (Ma-thi-ơ 5:29).

Hãy suy ngẫm về những lời của Chúa Giê-su trong câu Kinh Thánh trên. Bạn có nghĩ rằng lời của Ngài là quá cấp tiến không? Nếu vậy, tại sao?

Hành động triệt để này là cần thiết không phải vì Đức Chúa Trời muốn khiến đời sống Cơ Đốc nhân trở nên khó khăn, mà bởi vì chúng ta và văn hóa mình đã trôi dạt quá xa khỏi dự tính Ngài dành cho chúng ta. Có lắm người khi thức dậy thường tự hỏi, “Sao mình lại có thể đi xa Chúa đến vậy?” Câu trả lời luôn giống nhau: từng bước, từng bước.

Đọc Ma-thi-ơ 5:29, 30. Đức Chúa Giê-su đang giảng dạy trong bối cảnh tội lỗi tình dục. Tuy nhiên, các nguyên tắc cơ bản này cũng được áp dụng để đối phó với tội lỗi khác. Đúng vậy, các nguyên tắc này có thể được áp dụng cho sự trưởng thành của chúng ta trong Đấng Christ nói chung.

Qua Ma-thi-ơ 5:29, 30, Đức Chúa Giê-su dạy chúng ta điểm then chốt nào? Chúng ta có thật sự, theo sát nghĩa đen, được bảo tự cắt thân thể mình không?

Đức Chúa Giê-su không hề muốn chúng ta làm hại thân thể của mình. Đúng hơn, Ngài muốn chúng ta kiểm soát tâm trí mình và cũng là cơ thể của chúng ta, bằng mọi giá. Phải lưu ý rằng các câu Kinh Thánh này không bảo chúng ta nên cầu nguyện và Đức Chúa Trời sẽ lập tức loại bỏ những khuynh hướng tội lỗi khỏi cuộc sống của chúng ta. Đôi lúc Đức Chúa Trời có thể ân cần làm điều này cho chúng ta, nhưng thường thì Ngài kêu gọi chúng ta phải có một cam kết triệt để từ bỏ hoặc bắt đầu một điều gì đó, khi chính chúng ta hoàn toàn không muốn động đến. Có luyện lọc nào được hơn vậy? Với càng nhiều quyết định hay lựa chọn đúng đắn, chúng ta sẽ càng trở nên mạnh mẽ hơn, và sức cám dỗ trong cuộc sống của chúng ta càng yếu đi.

Đôi khi Đức Chúa Trời sử dụng những bình luyện kim để thu hút sự chú ý của chúng ta khi chúng ta bị vây quanh bởi bao điều phiền nhiễu ồn ào. Chính ở trong cái bình nóng mà chúng ta mới ý thức được rằng chúng ta đã trôi xa Chúa đến bực nào. Những khó khăn thử thách đó có thể là lời kêu gọi của Đức Chúa Trời cho chúng ta phải có quyết định dứt khoát để quay về lại chương trình mà Cha Thiên thượng đã dành cho chúng ta.

Đọc lại câu chuyện về cuộc vật lộn của Gia-cốp với Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 32). Câu chuyện này nói gì với chúng ta về sự kiên trì, ngay cả khi đang rất nản lòng? (Đừng quên bối cảnh của tình huống của Gia-cốp khi bạn trả lời.)

Bình thường chúng ta biết điều phải trái và chúng ta sử dụng ý chí của mình để làm điều đúng; nhưng khi bị áp lực, tiếp tục bám chặt vào Đức Chúa Trời và những lời hứa của Ngài có thể là không dễ. Đó là vì chúng ta yếu đuối và sợ hãi. Thế nên, một trong những sức mạnh quan trọng của Cơ Đốc nhân là tính kiên trì, là khả năng tiếp tục tiến bước dù muốn bỏ cuộc.

Một ví dụ lớn về sự kiên trì mà Kinh thánh ghi lại là Gia-cốp. Nhiều năm trước, Gia-cốp đã lừa anh trai của mình, Ê-sau, và cha mình, Y-sắc để đoạt quyền trưởng nam (Sáng thế Ký 27), và kể từ đó, Gia-cốp đã chạy trốn vì sợ Ê-sau sẽ giết mình. Mặc dù Gia-cốp trong một giấc chiêm bao đã thấy một chiếc thang bắc đến tận trời, và được Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài sẽ dẫn dắt và ban phước (Sáng thế Ký 28), Gia-cốp vẫn cứ sợ. Gia-cốp tận đáy lòng mong mỏi mình được chấp nhận và lời Chúa hứa năm nào vẫn còn đứng vững. Khi Gia-cốp vật lộn với một người (thực sự là Đức Chúa Giê-su) cả đêm, Gia-cốp bị đánh trật xương hông. Sau đó, Gia-cốp hết còn vật được vì bị đau đến thấu xương! Gia-cốp chắc hẳn đã thay đổi chiến lược, từ đối chọi sang níu chặt. Qua cái đau không cùng của mình, Gia-cốp níu chặt Đức Chúa Giê-su cho đến khi nhận được bảo đảm Ngài sẽ ban phước lành. Vì vậy, Chúa đã nói với người, “Trời đã rạng đông rồi; thôi, để cho ta đi” (Sáng thế Ký 32:26).

Gia-cốp nhận được phước lành vì ông đã níu chặt qua cơn đau. Chúng ta cũng vậy. Đức Chúa Trời cũng có thể làm trật khớp “xương hông” của chúng ta và sau đó kêu gọi chúng ta bám lấy Ngài để vượt qua nỗi đau của mình. Thật vậy, Đức Chúa Trời đã cho phép những vết sẹo đau đớn tiếp tục xảy ra — Gia-cốp đi khập khiễng khi gặp anh trai mình. Nhìn bề ngoài, đó là hình ảnh của sự yếu đuối, nhưng đối với Gia-cốp, đó là một dấu hiệu bày tỏ sức mạnh của người.

Một số lựa chọn thực tiễn nào bạn có thể thực hiện (hiệp hội, lối sống, đọc sách báo, thói quen sức khỏe, đời sống thiêng liêng) để giúp bạn bền lòng kiên trì với Chúa hơn giữa lúc nản lòng và cám dỗ?

“Ý chí này, một yếu tố quan trọng trong tính tình của con người, đã rơi vào tay kiểm soát của Sa-tan với sự Sa Ngã của A-đam và Ê-va; và kể từ đó, hắn không ngừng làm việc thúc đẩy con người làm theo ý muốn hay thỏa thích riêng của mình, dầu đó chỉ mang đến cho con người sự hủy hoại và khốn khổ hoàn toàn.” — Ellen G. White, Testimonies for the Church, bộ 5, trang 515.

“Để nhận được sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, con người phải ý thức sự yếu đuối và thiếu sót của mình; họ phải áp dụng tâm trí của mình vào sự thay đổi lớn lao được tạo ra trong bản thân mình; họ phải có hứng khởi để cầu nguyện nghiêm túc và kiên trì. Những thói quen, tập quán sai lầm phải được xóa bỏ; và chỉ với sự quyết tâm để sửa chữa những sai lầm này và tuân theo các nguyên tắc đúng đắn thì mới có thể giành được chiến thắng. Nhiều người không bao giờ đạt được vị trí mà họ có thể chiếm giữ, bởi vì họ chờ đợi Đức Chúa Trời thực hiện cho họ những điều mà Ngài đã ban cho họ quyền năng để tự thực hiện lấy. Tất cả những ai được trang bị để trở nên hữu ích phải được đào tạo bởi kỷ luật tinh thần và đạo đức nghiêm khắc nhất, và Chúa sẽ hỗ trợ họ bằng cách hợp nhất sức mạnh thiên thần với nỗ lực của con người.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 248.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Chúng ta có thực sự ý thức được rằng ý chí của chúng ta “đã rơi vào tay kiểm soát của Sa-tan”? Nếu chúng ta chú tâm vào phẩm chất của Đức Chúa Giê-su chúng ta có thể hiểu hơn về việc chúng ta đã sa ngã như thế nào, và ân điển của Đức Chúa Trời là cao sâu biết bao.
  2. Đọc câu chuyện của Đức Chúa Giê-su tại vườn Ghết-sê-ma-nê (Ma-thi-ơ 26:36–42). Những cảm xúc và mong muốn nào của Đức Chúa Giê-su trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời? Chúng ta có thể học được gì từ ví dụ này?
  3. Cả lớp hãy chia sẻ những điểm riêng biệt trong nền văn hóa của mỗi người, những điều có thể phá vỡ sự phòng thủ của chúng ta và khiến chúng ta dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công của Sa-tan. Chúng ta có thể làm gì để giúp các thành viên khác trong hội thánh nhận thức được những nguy hiểm này, cũng như giúp những người cảm thấy cần được giúp đỡ?
  4. Bạn có biết ai đó trong hội thánh của bạn đã vắng mặt khá lâu, họ sắp bỏ cuộc hay đã từ bỏ rồi? Cả lớp có thể làm gì để khuyến khích những người này, giúp họ không quay lưng lại với Đức Chúa Giê-su? Bạn có thể làm những việc thiết thực nào để giúp đỡ?
Bài Học 5, 23 — 29 Tháng 7, 2022

SỨC NÓNG TỘT ĐỘ

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến gặp sự đau ốm. Sau khi đã dâng mạng sống người làm tế chuộc tội, người sẽ thấy dòng dõi mình; những ngày người sẽ thêm dài ra, và ý chỉ Đức Giê-hô-va nhờ tay người được thạnh vượng” (Ê-sai 53:10).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 22; Ô-sê 2:1–12; Gióp 1:6 – 2:10; 2 Cô-rinh-tô 11:23–29; Ê-sai 43:1–7.

Khi vợ của tác giả Cơ Đốc nhân nổi tiếng C.S. Lewis qua đời, Lewis đã viết, “Tôi nghĩ không phải là tôi đang ở trong nguy cơ mất đi niềm tin nơi Thượng Đế. Cái nguy cơ có thật là việc bắt đầu tin những điều ghê gớm như vậy về Ngài. Cái kết luận mà tôi kinh sợ không phải là “A, rốt cuộc Chúa không hiện hữu,” mà là “Chúa thật sự như thế đó.” — A Grief Observed, 1961, trang 6, 7.

Khi hoàn cảnh trở nên cực kỳ đau đớn, một số người trong chúng ta từ bỏ Chúa hoàn toàn. Cũng có những người như Lewis, có thể bị cám dỗ để thay đổi quan điểm về Ngài, và tưởng tượng ra đủ thứ điều xấu về Chúa. Câu hỏi được nêu lên là nó có thể nóng đến mức nào? Đức Chúa Trời sẵn sàng tăng độ nóng đến mức nào cho dân sự Ngài phải vượt qua để thực hiện mục đích của Ngài là uốn nắn chúng ta thành “hình bóng Con Ngài?” (Rô-ma 8:29).

Đọc Sáng thế Ký 22. Không lời giải thích, Đức Chúa Trời đột nhiên gọi Áp-ra-ham dâng con mình làm của lễ thiêu. Bạn có thể tưởng tượng được cảm xúc của Áp-ra-ham lúc ấy không? Làm sao một Đức Chúa Trời thánh khiết lại có thể có ý tưởng như vậy, yêu cầu bạn hy sinh chính con trai mình. Dẫu cho Áp-ra-ham nghĩ rằng điều này có thể chấp nhận được, nhưng còn những lời hứa của Đức Chúa Trời về cơ nghiệp thì sao? Nếu con trai ông mất đi thì lời hứa cũng chẳng còn.

Tại sao Đức Chúa Trời bảo Áp-ra-ham dâng của lễ này? Nếu Chúa biết mọi chuyện, thì đó là gì?

Mạng lịnh của Đức Chúa Trời và thời điểm ban bố không phải là chuyện tình cờ ngẫu nhiên. Thật vậy, điều ấy đã được suy tính để có thể gây nên nỗi đau khổ sâu đậm nhất, vì “Đức Chúa Trời đã dành thử thách cuối cùng, nặng nề nhất cho Áp-ra-ham, khi mà người với tuổi đời chồng chất chỉ muốn được yên nghỉ.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 147. Đây có phải là thử thách của một Chúa cuồng điên không? Không hề như vậy, vì “sự thống khổ mà Áp-ra-ham phải chịu đựng trong những ngày đen tối của thử nghiệm đáng sợ đó đã được phép xảy ra để cho người từ kinh nghiệm của chính mình có thể hiểu được về sự vĩ đại của sự hy sinh mà Đức Chúa Trời vô hạn thực hiện để cứu chuộc loài người.” — trang 154.

Đây chỉ là một bài thử nghiệm — Đức Chúa Trời không bao giờ có ý định để Áp-ra-ham giết con trai mình. Một điều rất quan trọng về cách thức hoạt động của Đức Chúa Trời đã được nổi bật: Đức Chúa Trời có thể yêu cầu chúng ta làm điều gì đó mà Ngài không bao giờ có ý định để chúng ta hoàn thành. Ngài có thể yêu cầu chúng ta đi một nơi nào đó mà Ngài không bao giờ có ý định cho chúng ta đến. Điều quan trọng đối với Đức Chúa Trời không nhất thiết phải là hồi kết cuộc, mà là những gì chúng ta học được khi chúng ta thay đổi bởi quá trình này.

Chúa Giê-su có thể đã nghĩ về kinh nghiệm của Áp-ra-ham khi Ngài nói với người Do Thái, “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ”(Giăng 8:56). Áp-ra-ham có thể đã bỏ lỡ sự hiểu biết này nếu người nghĩ rằng những yêu cầu bất thường ấy đến từ Sa-tan. May mắn thay, chìa khóa để Áp-ra-ham sống sót và học hỏi trong suốt quá trình là người nhận biết tiếng nói của Đức Chúa Trời.

Làm sao bạn biết được tiếng nói của Chúa? Làm sao bạn biết khi nào Chúa đang nói chuyện với bạn? Ngài truyền đạt ý muốn của Ngài cho bạn bằng cách nào?

Câu chuyện về Ô-sê cho chúng ta một số bài học sâu sắc. Hoàn cảnh của Ô-sê thật đáng kể. Vợ ông, Gô-me, ngoại tình và bỏ chồng theo tình nhân, rồi có con với những người đàn ông khác. Dù nàng không chung thủy, nhưng Đức Chúa Trời bảo Ô-sê hãy đón vợ về và tỏ bày tình yêu với nàng một lần nữa. Câu chuyện này như là một chuyện ngụ ngôn về Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên đã bỏ Đức Chúa Trời và bán mình thuộc linh cho các thần khác, nhưng Đức Chúa Trời vẫn yêu thương họ và muốn bày tỏ tình yêu của Ngài với họ. Nhưng chúng ta phải nhìn vào các phương pháp của Đức Chúa Trời!

Đọc Ô-sê 2:1–12. Đức Chúa Trời cho biết Ngài sẽ sử dụng những phương pháp nào để kéo dân Y-sơ-ra-ên trở lại với chính Ngài? Những kinh nghiệm này sẽ như thế nào?

Ô-sê 2:2, 3
Ô-sê 2:5–7
Ô-sê 2:8, 9
Ô-sê 2:10

Câu chuyện này nêu lên hai vấn đề quan trọng về cách chúng ta trải nghiệm Đức Chúa Trời lúc Ngài đưa chúng ta đến sự ăn năn.

Thứ nhất, chúng ta có nguy cơ không nhận ra rằng Chúa đang làm việc. Khi dân Y-sơ-ra-ên trải qua những kinh nghiệm khó khăn và đau đớn như vậy, sẽ khó cho họ nhận ra rằng Đức Chúa Trời đang làm việc để cứu rỗi họ. Khi con đường của chúng ta bị chặn bởi những chiếc gai sắc nhọn hoặc chúng ta bị tường thành vây kín khiến chúng ta không biết mình đang đi đâu (Ô-sê 2:6) — đây có phải là Đức Chúa Trời không? Khi những nhu cầu cơ bản của chúng ta biến mất hoặc chúng ta cảm thấy xấu hổ (Ô-sê 2:9, 10) — Cha chúng ta có thể ở giữa mọi sự không? Sự thật là bất kỳ chúng ta cảm nghĩ gì, Đức Chúa Trời luôn làm việc để dẫn chúng ta đến sự ăn năn, bởi vì Ngài rất yêu thương chúng ta.

Thứ hai, chúng ta có nguy cơ hiểu lầm Đức Chúa Trời khi Ngài đang làm việc. Chúng ta có thể nhận biết rằng Chúa đang làm việc, nhưng chúng ta không thích những gì Ngài đang làm. Trong khi cảm thấy bị tổn thương và xấu hổ, chúng ta dễ dàng đổ lỗi cho Đức Chúa Trời là tàn nhẫn, đã không can thiệp hoặc không quan tâm. Nhưng Đức Chúa Trời luôn làm việc để đổi mới chúng ta qua giao ước tình yêu của Ngài.

Đọc Ô-sê 2:14–23. Đoạn này tiết lộ điều gì về Đức Chúa Trời? Hãy cầu xin Đức Thánh Linh chỉ cho bạn nếu bạn đã chạy tránh Đức Chúa Trời trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống mình. Nếu bạn biết mình đã từng có làm chuyện ấy, đừng đợi đến khi đi vào bình luyện kim. Điều gì đang ngăn cản bạn đầu phục tất cả cho Chúa giây phút này?

Đọc Gióp 1:6–2:10. Điều gì đã gây ra các tai nạn cho Gióp?

Có một điều thật lạ kỳ ở đây. Các thiên sứ đến ra mắt Đức Chúa Trời, và Sa-tan đi cùng với họ. Chúa hỏi Sa-tan xem hắn đã ở đâu, và Sa-tan trả lời rằng: “Tôi trải qua đây đó trên đất và dạo chơi tại nơi đó” (Gióp 1:7). Sau đó, Đức Chúa Trời đặt ra câu hỏi này: “Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng?” (Gióp 1:8). Tự câu hỏi không có gì đáng chú ý; điều đáng chú ý là Đấng hỏi câu hỏi đó. Không phải Sa-tan, mà là Đức Chúa Trời, đã chỉ Gióp ra như một đối tượng để kiểm xét — Ngài biết chính xác điều gì sẽ xảy ra, Đức Chúa Trời gọi Sa-tan chú ý đến Gióp. Ở dưới địa cầu, Gióp hoàn toàn không biết cái bình luyện kim của mình sắp sửa nóng đến mực nào. Và mặc dù rất rõ ràng rằng chính Sa-tan, không phải Đức Chúa Trời, kẻ gây ra đau khổ cho Gióp, nhưng cũng rất rõ ràng rằng chính Đức Chúa Trời đã cho phép Sa-tan phá hủy tài sản, con cái và sức khỏe của Gióp. Nếu Đức Chúa Trời cho phép Gióp phải chịu đau khổ, thì việc Đức Chúa Trời hay Sa-tan gây ra sự đau khổ có gì khác đâu? Làm sao Đức Chúa Trời có thể công bình và thánh khiết khi Ngài chủ động cho phép Sa-tan làm Gióp đau đớn như vậy? Tình huống này có phải là một trường hợp đặc biệt, hay đó là đặc tính của cách Đức Chúa Trời vẫn đối xử với chúng ta ngày nay?

Trong Gióp 1:20, 21, Gióp phản ứng thế nào trước những thảm họa ấy?

Có thể có hai cách chúng ta phản ứng trước những đau đớn này. Chúng ta hoặc trở nên cay đắng và tức giận, quay lưng lại với một Đức Chúa Trời mà chúng ta tin là tàn nhẫn hoặc không hiện hữu; hoặc chúng ta bám chặt vào Đức Chúa Trời hơn. Gióp đối phó với đại nạn của mình bằng cách ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài.

Gióp 1:20, 21 cho thấy ba khía cạnh của sự thờ phượng có thể giúp ích chúng ta khi đau khổ. Thứ nhất, Gióp chấp nhận sự bất lực của mình và nhận biết rằng ông không có quyền đòi hỏi bất cứ điều gì: “Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về” (Gióp 1:21). Thứ hai, Gióp thừa nhận rằng Đức Chúa Trời vẫn nắm toàn quyền kiểm soát: “Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi” (Gióp 1:21). Thứ ba, Gióp kết thúc bằng cách khẳng định lại niềm tin của mình vào sự công bình của Đức Chúa Trời. “Đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!” (Gióp 1:21).

Bạn đang trải qua một thử thách? Hãy theo các bước mà Gióp đã sử dụng. Chúng có thể giúp bạn ra sao?

“Vả, hỡi anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng biết sự khốn nạn đã xảy đến cho chúng tôi trong xứ A-si, và chúng tôi đã bị đè nén quá chừng, quá sức mình, đến nỗi mất lòng trông cậy giữ sự sống. Chúng tôi lại hình như đã nhận án xử tử, hầu cho chúng tôi không cậy mình, nhưng cậy Đức Chúa Trời là Đấng khiến kẻ chết sống lại”(2 Cô-rinh-tô 1:8, 9).

Là sứ đồ được Đức Chúa Trời chọn, Phao-lô đã chịu đựng hơn hầu hết mọi người. Tuy nhiên, Phao-lô đã không bị nghiền nát mà còn vươn lên trong sự ngợi khen Đức Chúa Trời. Đọc 2 Cô-rinh-tô 11:23–29 để thấy những gian khổ mà Phao-lô phải trải qua. Bây giờ đọc tiếp 2 Cô-rinh-tô 1:3–11.

Trong 2 Cô-rinh-tô 1:4, Phao-lô nói rằng lý do để nhận được sự thương xót và an ủi của Đức Chúa Trời là để “chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp.” Bạn có nghĩ rằng hoạn nạn khổ đau cũng có thể là một lời kêu gọi vào con đường phụng sự không? Làm thế nào chúng ta có thể trở nên cảnh giác hơn với khả dĩ này?

Đức Chúa Trời muốn dùng chúng ta để an ủi những người đang khổ đau. Vậy Ngài có thể trước hết cho phép chúng ta được trải nghiệm những đau đớn tương tự để sau đó chúng ta có thể bày tỏ an ủi, không phải từ lý thuyết, mà từ kinh nghiệm của chính mình về lòng trắc ẩn và sự thương xót của Đức Chúa Trời. Đây là nguyên tắc từ cuộc sống của Chúa Giê-su (xin xem Hê-bơ-rơ 4:15).

Những mô tả sống động của Phao-lô về những khó khăn của ông không phải để khiến chúng ta cảm thấy buồn tiếc cho ông, mà để chúng ta biết rằng ngay cả khi chúng ta ở trong vực thẳm, Cha trên trời vẫn có thể can thiệp để mang đến sự nhân từ và an ủi của Ngài. Cuộc đời chúng ta dầu tuyệt vọng, và thậm chí có thể bị tử vong, nhưng đừng sợ, Đức Chúa Trời đang dạy chúng ta dựa vào Ngài. Chúng ta có thể tin cậy Ngài, vì Đức Chúa Trời của chúng ta “khiến kẻ chết sống lại” (2 Cô-rinh-tô 1:9).

Khi Phao-lô tiếp tục chú tâm vào việc rao giảng phúc âm, ông biết rằng Đức Chúa Trời cũng sẽ giải cứu ông trong tương lai. Khả năng giữ vững lập trường của Phao-lô được hỗ trợ bởi ba điều mà ông đề cập đến trong 2 Cô-rinh-tô 1:10, 11. Thứ nhất, thành tích đã được chứng minh của Đức Chúa Trời: “Ấy chính Ngài đã cứu chúng tôi khỏi sự chết lớn dường ấy, và sẽ cứu chúng tôi” (2 Cô-rinh-tô 1:10). Thứ hai, Phao-lô quyết tâm tập trung vào chính Đức Chúa Trời: “phải, chúng tôi còn mong Ngài sẽ cứu chúng tôi nữa” (2 Cô-rinh-tô 1:10). Thứ ba, sự cầu thay liên tục của các thánh đồ: “Chính anh em lấy lời cầu nguyện mà giúp đỡ chúng tôi” (2 Cô-rinh-tô 1:11).

Bạn có thể học được gì từ Phao-lô để giúp bạn không rơi vào tình trạng tủi thân lúc bạn phải đương đầu với những tranh đấu của riêng mình?

Qua các bài học trước, chúng ta đã xem xét nhiều dẫn chứng về những bình luyện kim loại mà Đức Chúa Trời dùng để mang lại sự tinh sạch và phẩm chất như Đấng Christ trong đời sống chúng ta. Tuy nhiên, một số người có thể kết luận rằng Đức Chúa Trời là Đấng khắc nghiệt và quá đòi hỏi. Có lẽ họ đã nghĩ rằng: “Chúng con biết Chúa muốn những gì tốt đẹp cho chúng con, nhưng những dẫn chứng này không tiết lộ cho lắm về sự quan tâm và tình yêu của Ngài. Thay vào đó, Chúa giống như một đấng bắt nạt hơn. Ngài đặt ra một mục đích và việc thực hiện mục đích đó gây ra cho chúng con biết bao điều gian nan, và chúng con cũng chỉ biết bó tay.”

Đúng vậy, trong khi sống trên trái đất đầy tội lỗi này, chúng ta sẽ chỉ hiểu được một ít về lý do tại sao mọi việc lại xảy ra. Trên thiên đàng, chúng ta sẽ hiểu nhiều hơn (1 Cô-rinh-tô 4:5, 1 Cô-rinh-tô 13:12), nhưng hiện tại chúng ta sẽ phải sống với sự căng thẳng trong sự tin tưởng rằng Đức Chúa Trời hiện diện và chăm sóc cho chúng ta, mặc dù mọi diễn biến không hẳn lúc nào cũng sảng khoái. Ê-sai mô tả rất rõ sự căng thẳng này.

Đọc Ê-sai 43:1–7. Trong câu 2, Đức Chúa Trời nói rằng dân sự của Ngài sẽ đi qua nước và qua lửa. Đây là nghĩa bóng của những nguy hiểm tột độ, nhưng có lẽ chúng ám chỉ việc băng qua Biển Đỏ và sông Giô-đanh, cả hai đều là những thời điểm đáng sợ, nhưng là những thời điểm mở đường cho một cuộc sống mới. Bạn có thể mong đợi Đức Chúa Trời nói rằng Ngài sẽ bảo vệ dân Ngài khỏi những nguy hiểm này, rằng Ngài sẽ hướng dẫn họ đi theo một con đường dễ đi hơn. Nhưng giống như Người chăn chiên trong Thi thiên 23, Ngài nói rằng khi thời kỳ khó khăn đến, dân sự của Đức Chúa Trời không cần phải choáng ngợp, vì Ngài ở cùng họ.

Đọc lại Ê-sai 43:1–7. Hãy viết ra những cách khác nhau mà Đức Chúa Trời bảo đảm cho dân sự Ngài được thoải mái trong giai đoạn nước và lửa. Bức tranh về Chúa được vẽ ra sao trong tâm trí bạn? Bạn có thể cầu xin những lời hứa nào cho chính mình?

Chúng ta có thể tóm tắt những gì chúng ta đã học được về các bình luyện kim của Đức Chúa Trời qua ba điểm chính: Thứ nhất, sức nóng cực độ của Đức Chúa Trời không phải để huỷ hoại chúng ta mà là để tiêu diệt tội lỗi của chúng ta. Thứ hai, sức nóng cực độ của Đức Chúa Trời không phải để làm chúng ta khốn khổ mà là để cho chúng ta trở nên tinh khiết như cách chúng ta đã được dựng nên. Thứ ba, sự quan tâm chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với chúng ta trong mọi sự vẫn không hề thay đổi và luôn êm ái — Ngài sẽ không bao giờ bỏ chúng ta một mình, bất kể điều gì xảy đến với chúng ta.

Những câu Kinh Thánh này dạy bạn điều gì về hành động và đức tính của Đức Chúa Trời? Thi thiên 103:13, 14; Ma-thi-ơ 28:20; 1 Cô-rinh-tô 10:13; 1 Phi-e-rơ 1:7. Bạn đã kinh nghiệm thực sự về những câu Kinh Thánh này ra sao trong cuộc sống của chính mình?

“Đức Chúa Trời luôn thử dân sự Ngài trong lò lửa khổ nạn. Chính trong sức nóng của lò lửa, những chất dơ bẩn sẽ bị tách ra khỏi vàng thật của phẩm chất Cơ Đốc. Đức Chúa Giê-su quan sát cuộc thử nghiệm; Ngài biết những gì cần thiết để làm tinh sạch kim loại quý giá, để nó có thể phản chiếu ánh hào quang của tình yêu thương của Ngài. Chính bằng những thử thách cận kề ấy mà Đức Chúa Trời sửa phạt các tôi tớ của Ngài. Ngài thấy ai có năng lực có thể được sử dụng để phát triển công việc của Ngài, và Ngài đưa những người này qua thử thách; trong sự quan phòng của Ngài, Ngài đặt họ vào những hoàn cảnh để thử tính tình họ. . . Ngài cho họ thấy sự yếu đuối của chính họ, và dạy họ dựa vào Ngài. . . Như vậy mục đích của Ngài được thành tựu. Họ được giáo dục, tập luyện, sửa phạt; họ được chuẩn bị để hoàn thành mục đích lớn lao, và đã được ban cho năng lực để có thể đạt mục đích ấy.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 129, 130.

“Nếu trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, chúng ta được kêu gọi để chịu thử thách, chúng ta hãy chấp nhận thập giá và uống chén đắng, và nhớ rằng chính tay Cha cầm chén ấy đặt trên môi chúng ta. Chúng ta hãy tin cậy Ngài trong bóng tối cũng như trong ánh sáng. Làm sao chúng ta lại có thể không tin rằng Ngài sẽ ban cho chúng ta tất cả những gì lợi ích cho chúng ta? . . . Ngay cả trong bóng đêm khổ nạn, làm sao chúng ta có thể từ chối dâng hiến trái tim và tiếng nói của chúng ta ngợi khen cảm tạ Ngài khi chúng ta nhớ đến tình yêu được bày tỏ qua thập tự giá trên đồi Cal-va-ry?” — Ellen G. White, Testimonies for the Church, bộ 5, trang 316.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Ai trong lớp có thể kể lại một thử thách đức tin mà mình đã đối mặt — không nhất thiết phải dữ dội như của Áp-ra-ham, nhưng cũng là rất khó khăn. Cả lớp có thể học được gì từ kinh nghiệm của người ấy, qua những thành công hay thất bại của họ?
  2. Ôn lại 24 giờ cuối cùng trong cuộc đời của Đấng Christ trước khi Ngài bị đóng đinh. Ngài đã phải đối mặt với những thái cực nào? Ngài đã chịu đựng như thế nào? Những nguyên tắc nào chúng ta có thể lấy từ gương của Ngài và áp dụng cho chính mình khi chúng ta đang ở trong “thập tự giá” của chính mình?
  3. Thảo luận về ý tưởng được đề cập trong tuần này, rằng qua nỗi đau khổ của chính mình, chúng ta có thể giúp đỡ những người khác đang đau khổ. Bạn có thấy có vấn đề gì với ý tưởng này không?
  4. Ellen G. White đã viết ở trên: “Chúng ta hãy tin cậy Ngài trong bóng tối cũng như trong ánh sáng.” Đó là điều nói dễ hơn làm. Làm sao chúng ta có thể giúp nhau phát triển loại đức tin cho phép chúng ta làm điều đó? Tại sao tin cậy nơi Đức Chúa Trời trong những lúc khó khăn là điều quan trọng?
Bài Học 4, 16 — 22 tháng 7, 2022

NHÌN THẤY MẶT THỢ KIM HOÀN

CÂU GỐC: “Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hoá nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Thánh linh của Chúa” (2 Cô-rinh-tô 3:18).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Ma-thi-ơ 5:16, 1 Cô-rinh-tô 4:9, Ê-phê-sô 3:10, Gióp 23:1–10, Ma-thi-ơ 25:1–12, Đa-ni-ên 12:1–10, Ê-phê-sô 4:11–16.

Amy Carmichael (một giáo sĩ sống tại Ấn Độ) đưa một nhóm trẻ em đến một thợ kim hoàn truyền thống ở Ấn Độ. Giữa bếp lửa than hồng là một miếng ngói cong, trên đậy bởi một miếng ngói khác. Đây là cái nồi nấu kim loại. Trong nồi có muối, trái me, và bụi gạch được hoà chung lẫn với vàng. Khi ngọn lửa nấu tan hợp chất này, vàng trở nên tinh khiết hơn. Người thợ kim hoàn dùng kẹp để gắp vàng ra và nếu vàng chưa đủ tinh khiết, anh ta đem nấu vàng lại với một hỗn hợp mới. Cứ mỗi lần như vậy, người thợ lại tăng sức nóng của lò lên. Cả nhóm hỏi, “Làm sao ông biết khi nào vàng được tinh khiết?” Ông ta trả lời, “Khi tôi có thể thấy mặt mình trong đó.” — Amy Carmichael, Learning of God, 1989, trang 50.

Đức Chúa Trời đang tìm cách thanh lọc chúng ta, luyện chúng ta như vàng, để biến đổi chúng ta theo ảnh tượng Ngài. Đó là một mục tiêu đáng kinh ngạc và dường như còn đáng kinh ngạc hơn, rằng một tính tình giống như Đấng Christ chỉ được phát triển trong chúng ta khi chúng ta trải qua những “nồi nấu kim loại” của cuộc đời.

“Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em” (Rô-ma 8:29).

Lúc ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta theo hình bóng của Ngài (Sáng thế Ký 1:27), nhưng hình ảnh đó đã bị hủy hoại bởi tội lỗi.

Hình bóng của Đức Chúa Trời trong nhân loại đã bị hủy hoại ra sao?

Tất cả chúng ta đều đã bị tội lỗi làm hư hại (Rô-ma 3:10–19). Dầu vậy, Đức Chúa Trời mong muốn khôi phục lại chúng ta như lúc ban đầu. Câu Kinh Thánh hôm nay nói lên điều đó. Nó tiết lộ chương trình của Đức Chúa Trời rằng những ai dâng hiến đời mình cho Đức Thánh Linh có thể trở nên “giống như hình bóng Con Ngài” (Rô-ma 8:29).

Ellen G. White viết: “Chính hình ảnh của Đức Chúa Trời sẽ được tái tạo trong nhân loại. Vinh dự của Đức Chúa Trời, vinh dự của Đấng Christ liên hệ đến việc hoàn hảo phẩm chất của dân sự Ngài.” — The Desire of Ages, trang 671.

Bạn hiểu thế nào về những gì Ellen G. White nói qua câu trích dẫn ở trên? Xem thêm Gióp 1, Ma-thi-ơ 5:16, 1 Cô-rinh-tô 4:9, Ê-phê-sô 3:10.

Là Cơ Đốc nhân, chúng ta không bao giờ được quên rằng chúng ta đang ở giữa một trận chiến của vũ trụ. Cuộc tranh chấp vĩ đại giữa Đấng Christ và Sa-tan đang diễn ra xung quanh chúng ta. Trận chiến mang nhiều hình dạng và được diễn ra qua nhiều cách. Và mặc dù còn nhiều điều chưa được tiết lộ, chúng ta vẫn hiểu rằng, với tư cách là những người theo Chúa Giê-su Christ, chúng ta cũng đóng phần trong trận chiến này và đời sống của chúng ta có thể mang lại vinh quang cho Chúa Giê-su Christ.

Hãy tưởng tượng bạn đang ở trên sân của một vận động trường rộng lớn. Ngồi một bên khán đài là những thiên sứ trung thành với Chúa; bên kia là những thiên sứ đã sa ngã cùng với Lu-xi-phe. Nếu nếp sống của bạn trong 24 giờ qua được diễn ra trên sân vận động, bạn nghĩ bên nào sẽ có nhiều điểm để cổ vũ hơn? Câu trả lời của bạn cho bạn biết gì về chính mình?

Tham chiến là một chuyện, nhưng đánh trận mà không thấy được các lực lượng dàn binh bố trận lại là chuyện khác. Chúng ta, Cơ Đốc nhân cũng vậy, phải đương đầu với những điều tương tự. Chúng ta biết có sự hiện diện của các lực lượng trên chiến trường, chúng ta cảm thấy chúng trong cuộc sống của mình, tuy nhiên, chúng ta phải tiến bước bởi đức tin, và tin cậy vào Chúa, là “Đấng không thấy được” (Hê-bê-rơ 11:27).

Đọc Gióp 23:1–10. Bản chất của cuộc đấu tranh của Gióp là gì? Ông không nhìn thấy gì? Đồng thời, ông có đức tin gì, bất chấp mọi thử thách?

Ngay cả giữa những thử thách khủng khiếp của mình, Gióp vẫn tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Bất chấp mọi điều xảy ra, Gióp quyết tâm chịu đựng. Và một trong những thứ giúp ông luôn kiên trì là “tôi sẽ ra như vàng”. Không phải huy chương vàng; nhưng đúng hơn, ông nhìn vào tương lai và nhận ra rằng nếu níu chặt vào Chúa, ông sẽ trở nên tốt đẹp hơn, ông sẽ trở nên như vàng. Chúng ta không biết Gióp có ý thức gì chăng về những chuyện xảy ra trong hậu trường. Nhưng dầu có nhiều sự kiện không tiết lộ cùng ông, Gióp vẫn kiên trì chịu đựng ngọn lửa tinh luyện.

Bạn có sợ lửa không? Bạn có lo lắng về độ nóng mà hoàn cảnh tạo ra không? Có lẽ đối với Gióp, sức nóng của Đức Chúa Trời dường như không thể giải thích được. Đối với chúng ta, nó có thể là sự khó khăn khi phải thay đổi sở làm hay di chuyển nơi cư ngụ. Nó có thể là phải chịu đựng những bạc đãi nơi sở làm, hoặc thậm chí ngay trong gia đình của mình. Nó có thể là bệnh tật hoặc mất mát tài chính. Tuy khó hiểu thật, nhưng Đức Chúa Trời có thể dùng những khó khăn này để tinh luyện, thanh lọc chúng ta và làm nổi bật hình ảnh của Ngài trong phẩm chất của chúng ta.

Việc được chứng minh là vàng dường như là một động lực cho Gióp ở đây, một điều để ông chú tâm vào và giúp ông vượt qua các gian nan. Đó là bằng chứng hùng hồn cho đức tính của Gióp rằng, giữa tất cả những đau đớn và khổ sở, ông đã cảm nhận được thực tế của quá trình thanh lọc. Ngoài ra, dù còn nhiều điều ông không hiểu, Gióp biết rằng những thử nghiệm này sẽ tinh luyện người.

Theo kinh nghiệm riêng của bạn, các thử thách giúp thanh lọc và tinh luyện chúng ta ra sao? Chúng ta có thể được thanh lọc bằng những cách nào khác ngoài cách phải gánh chịu đau khổ?

Đức Chúa Giê-su đang ở Giê-ru-sa-lem và sắp phải chết. Theo Phúc âm của Ma-thi-ơ, Đức Chúa Giê-su đã dành thì giờ cuối cùng của Ngài trước Lễ Vượt Qua để kể chuyện ngụ ngôn cho các môn đồ, trong đó có chuyện Mười Người Nữ Đồng Trinh và chuyện Chiên và Dê. Những câu chuyện này liên quan đến cách chúng ta nên sống trong khi chờ đợi Đức Chúa Giê-su đến. Vì vậy, sự liên quan của chúng trong bối cảnh hiện đại — với những dấu hiệu của Chúa sẽ sớm trở lại xảy ra xung quanh chúng ta — lại còn có nhiều ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Trong dụ ngôn về mười người nữ đồng trinh (Ma-thi-ơ 25:1–12), nhiều nhà chú giải cho rằng dầu là biểu tượng cho Đức Thánh Linh. Ellen G. White đồng ý, nhưng cũng nói rằng loại dầu này là biểu tượng cho phẩm chất và đó là thứ mà không ai có thể mua hay kiếm dùm cho chúng ta.

Đọc câu chuyện ngụ ngôn (Ma-thi-ơ 25:1–12). Ý nghĩa của câu chuyện thay đổi thế nào tùy theo việc bạn xem dầu là biểu tượng cho Đức Thánh Linh hay là đức tính của mỗi người? Câu chuyện này có ý nghĩa gì đối với bạn nếu dầu tượng trưng cho Đức Thánh Linh, hoặc một đức tính giống như Đấng Christ?

Đức Thánh Linh:

Đức tính:

Đọc dụ ngôn chiên và dê trong Ma-thi-ơ 25:31–46. Tiêu chuẩn nào được sử dụng để tách chiên và dê?

Lưu ý rằng nhà vua phân biệt chiên và dê dựa trên các việc làm, phẩm chất của chúng. Mặc dù ở đây Đức Chúa Giê-su không dạy về sự cứu rỗi bằng việc làm, nhưng chúng ta có thể thấy sự quan trọng của việc đào tạo, phát triển tính tình trong kế hoạch cứu rỗi. Những người thực sự được Đấng Christ cứu sẽ phản ánh sự cứu rỗi đó qua đời sống và phẩm chất của họ.

Người ta đã nói rằng “phẩm chất chân thật của con người là lúc không thể giấu kín”. Bạn là người như thế nào khi không có ai nhìn? Câu trả lời cho bạn biết gì về những thay đổi mà bạn cần thực hiện?

Hôm qua, chúng ta đã xem xét tầm quan trọng của phẩm chất cho những ai đang chờ đợi Đức Chúa Giê-su trở lại. Hôm nay chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn tầm quan trọng của phẩm tính cho những người còn sống khi Đức Chúa Giê-su tái lâm.

Đọc Đa-ni-ên 12:1–10. Bối cảnh là gì? Thời điểm nào trong lịch sử trái đất đang được đề cập đến? Quan trọng nhất, những câu Kinh Thánh này cho chúng ta biết gì về đức tính của dân sự Đức Chúa Trời trong giai đoạn này? Họ có những đặc điểm nào trái ngược với kẻ ác? Xem thêm Khải huyền 22:11.

Đa-ni-ên được khải thị rằng ngay trước khi Đức Chúa Giê-su đến, sẽ có một thời kỳ đau khổ mà không có có thời điểm nào trong lịch sử có thể sánh với. Đa-ni-ên 12:3, 10 miêu tả về người công bình và kẻ ác trong giai đoạn này. Hãy lưu ý cách kẻ ác “sẽ cứ làm điều dữ” (Đa-ni-ên 12:10) trái ngược với người công bình (câu 3) tỏa sáng rực rỡ, có lẽ vì họ đã được “làm nên tinh sạch và trắng, và được luyện lọc” trong thời kỳ đại nạn này (Đa-ni-ên 12:1). Vào lúc ấy “Kẻ dữ chẳng ai sẽ hiểu; song kẻ khôn sáng sẽ hiểu.”

Hiểu gì? Toán học, khoa học, lý luận trình độ cao? Châm ngôn nói rằng “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức” (Châm ngôn 1:7). Có lẽ, trong bối cảnh này, những người “khôn sáng” là khôn ngoan bởi vì họ hiểu biết về những sự kiện cuối cùng này, thời kỳ hoạn nạn đang diễn biến. Họ không ngạc nhiên; qua sự nghiên cứu Kinh Thánh, họ biết rằng nó sẽ đến. Và quan trọng nhất, họ biết đủ để cho phép khoảng thời gian khó khăn này thanh lọc và tinh luyện họ. Trong khi đó, kẻ ác càng trở nên bướng bỉnh cứng đầu hơn trong cuộc phản loạn của họ và do đó tiếp tục trong sự gian ác mình.

Điểm quan trọng là ở đây chúng ta có được sự mô tả về những người đã trải qua một quá trình thanh lọc và tinh luyện.

Tuy các câu Kinh Thánh này viết với bối cảnh của những ngày cuối cùng, những nguyên tắc nào ở đây có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình thanh lọc và tinh luyện, áp dụng ngay cả cho chúng ta ngày nay?

Một bài hát có câu như sau: “Tôi là một tảng đá, tôi là một hòn đảo.” Bạn đã bao giờ cảm thấy như vậy không — muốn đứng một mình? Bạn có thể đã nghe nhiều người nói, “Ôi, việc tôi theo Chúa là chuyện riêng tư, không cần ai phải bàn đến.”

Đọc Ê-phê-sô 4:11–16. Phao-lô muốn nói gì? Ông cho cộng đồng giữ vai trò gì?

Trong thư Phao-lô viết cho người Ê-phê-sô, ông mô tả Hội thánh như một thân thể. Đức Chúa Giê-su là đầu, và dân sự của Ngài tạo nên phần còn lại. Ê-phê-sô 4:13 cho thấy mục đích của việc sống trong một cộng đồng như vậy — để có được “tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ.” Và vì thế, chúng ta cần nhau!

Làm một Cơ Đốc nhân sống biệt lập là điều có thể xảy ra. Qua nhiều thời đại, đã có những người bị miệt thị hay đàn áp, nên việc họ phải sống biệt lập là điều không tránh khỏi. Đó cũng là bằng chứng hùng hồn cho quyền năng của Đức Chúa Trời rằng những người này không quỵ ngã bởi những áp lực xung quanh họ. Tuy dầu điều ấy đúng, nhưng Phao-lô muốn nhấn mạnh một sự thật quan trọng: chúng ta được kinh nghiệm và bày tỏ sự trọn vẹn của Đấng Christ khi chúng ta cùng làm việc trong mối tương giao với nhau.

Trong Ê-phê-sô 4:11–16, Phao-lô nói điều gì phải xảy ra trước khi sự trọn vẹn của Đấng Christ có thể được bày tỏ trong cộng đồng Cơ Đốc nhân của chúng ta?

Đối xử đẹp với người lạ thì dễ, nhưng đối xử đẹp với những người mà mình biết rõ về họ, hay những người mình không ưa thì khó hơn nhiều. Nhưng nếu chúng ta vẫn thể hiện sự ân cần và nhân ái đối với họ, chúng ta sẽ là một bằng chứng diệu kỳ về lẽ thật của Đức Chúa Trời.

“Gầy dựng đức tính là công việc quan trọng nhất từng được giao phó cho con người; và chưa bao giờ điều ấy là lại quan trọng như lúc này. Chưa có thế hệ nào trước đây được gọi để đáp ứng các vấn đề trọng đại như vậy; Chưa bao giờ những người trẻ tuổi lại phải đương đầu với những nguy cơ lớn lao như ngày nay.” — Ellen G. White, Education, trang 225.

“Trong chuyện ngụ ngôn, những cô phù dâu khờ dại nài xin chút dầu, nhưng chẳng nhận được gì. Điều này tượng trưng cho những người đã không chuẩn bị chính mình bằng cách phát triển đức tính để đứng vững trong giai đoạn khủng hoảng. Nó cũng giống như là họ chạy qua nhà hàng xóm và năn nỉ, “Cho tôi chút phẩm chất của đức tính của ông bà, kẻo không tôi sẽ bị hư mất.” Những người khôn ngoan không thể sang dầu của họ cho các ngọn đèn dầu leo lét của các trinh nữ dại dột. Phẩm chất không thể chuyển nhượng. Chúng ta không thể mua hay bán đức tính nhưng chỉ có thể gầy dựng chúng. Đức Chúa Trời cho mỗi người nhiều cơ hội để tạo được tính tình chính trực qua những giờ tập luyện và thử rèn; nhưng Ngài không cung cấp cách để một người có thể truyền đạt cho người khác cái đức tính mà họ đã phát triển qua những trải nghiệm khó khăn, hoặc qua sự học hỏi những bài học từ Người Thầy vĩ đại, để họ có thể biểu lộ sự kiên nhẫn khi thử thách, và thể hiện một đức tin có thể dời núi được.” — Ellen G. White, The Youth Instructor, 16 tháng 1 năm 1896.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN

  1. “Gầy dựng đức tính” có nghĩa gì? Làm sao để thực hiện điều này? Việc xây dựng đức tính trong cuộc đời của chính bạn và của cộng đồng hội thánh ở độ ưu tiên nào?
  2. Hôm Thứ Năm chúng ta học về vai trò quan trọng của cộng đồng trong đời sống của một Cơ Đốc nhân. Hội thánh địa phương của bạn hoạt động như là thân thể của Đấng Christ khá hay tệ? Tất cả lớp hãy cùng góp ý kiền về những điều gì các bạn có thể cải thiện.
  3. Cả lớp, hãy cho ý kiến tại sao vấn đề gầy dựng tính tình là điều quan trọng khi chúng ta được cứu chỉ bởi đức tin trong Đức Chúa Giê-su? Nếu sự công bình và phẩm chất hoàn hảo của Ngài là những gì cứu chúng ta, thì tại sao chúng ta cần phát triển phẩm chất mình?
  4. Helen Keller, người bị điếc và mù từ khi còn nhỏ, đã viết, “Đức tính không thể phát triển một cách dễ dàng và yên tĩnh. Chỉ bởi qua những thử thách gian nan và đau khổ, tâm hồn mới có thể được củng cố, tầm nhìn sáng tỏ, cao vọng được khơi động, và thành công hoàn tất.” Bạn có đồng ý không? Hãy thảo luận mối liên hệ giữa phẩm chất, đau khổ, và thiện ác đấu tranh.
Bài Học 3, 9 — 15 Tháng 7, 2022

LỒNG CHIM

CÂU GỐC: “Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải đau buồn ít lâu” 1 Phi-e-rơ 1:6.

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Xuất Ê-díp-tô 14, 15:22–27, 17:1–7; Châm ngôn 3, Lu-ca 4:1–13, 1 Phi-e-rơ 1:6–9.

Nếu lồng chim được đặt ở một nơi đầy ánh sáng và chung quanh có nhiều giọng hát, con chim trong lồng sẽ không hát bài hát mà chủ nó tìm cách dạy. Nó học câu này, câu kia, nhưng không bao giờ thuộc một giai điệu riêng biệt và toàn bộ. Nhưng nếu người chủ che cái lồng và đặt lồng ở nơi chim chỉ nghe có mỗi một bài hát, thì chim sẽ lắng nghe và sẽ hát theo nhạc điệu ấy cho đến khi hoàn hảo. Sau đó, khi mang ra ánh sáng, chim sẽ vẫn tiếp tục hát mãi bài hát ấy trong ánh sáng. “Đức Chúa Trời đối xử với con cái Ngài cũng vậy. Ngài có một bài hát để dạy chúng ta, và khi chúng ta học được nó giữa bóng tối của đau khổ, chúng ta có thể hát nó mãi mãi về sau.” — Ellen G. White, The Ministry of Healing, trang 472.

Chú ý rằng người đưa con chim vào bóng tối chính là chủ nhân.

Sa-tan gây ra đau đớn là chuyện dễ hiểu, nhưng có thể nào chính Đức Chúa Trời lại chủ động trong việc đưa chúng ta vào những thử thách khiến chúng ta lao đao và bối rối?

“Vả, khi Pha-ra-ôn đến gần, dân Y-sơ-ra-ên ngước mắt lên, thấy dân Ê-díp-tô đuổi theo, bèn lấy làm hãi hùng, kêu van Đức Giê-hô-va” (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:10).

Bạn đã bao giờ bị gài bẫy, hoặc bị đẩy vào ngõ cụt chưa? Đôi khi nó có thể hay, như việc bất ngờ bước vào một căn phòng với những người bạn đang đợi và tất cả đều hét lên “Chúc mừng sinh nhật!” Cũng có lúc, nó có thể là một cú sốc, rất là bực mình. Cũng có thể như lúc bạn bị hiếp đáp khi còn ở trường, hay bị đồng nghiệp thọc gậy khi đi làm.

Kể từ ngày dân Y-sơ-ra-ên rời Ai Cập cho đến khi họ đến Đất Hứa, “Đức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây, để dẫn đường đi; ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho chúng, hầu cho được đi luôn ngày và đêm” (Xuất Ê-díp-tô Ký 13:21). Mỗi phần của cuộc hành trình đều do chính Đức Chúa Trời dẫn dắt. Nhưng hãy nhìn nơi Ngài đã dẫn họ đến đầu tiên: trước mặt là biển, hai bên là núi, sau lưng là quân của Pha-ra-ôn đuổi theo!

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 14. Tại sao Đức Chúa Trời lại đưa dân Y-sơ-ra-ên đến một nơi mà Ngài biết họ sẽ khiếp sợ?

Đi theo “trụ mây, trụ lửa” không đảm bảo chúng ta luôn hạnh phúc. Đó cũng có thể là một kinh nghiệm khó khăn, bởi vì việc rèn luyện trong sự công bình sẽ thử lòng dạ chúng ta, nơi vốn dĩ rất gian dối (Giê-rê-mi 17:9). Trong những khó khăn này, chìa khóa để biết khi nào chúng ta thực sự theo Chúa không nhất thiết là sự vắng mặt của gian nan hay đau đớn, mà là sự cởi mở đối với sự chỉ dạy của Chúa và liên tục phục tùng tâm trí của chúng ta trước sự dẫn dắt của Ngài.

Dân Y-sơ-ra-ên học được bài học gì từ kinh nghiệm này? (Xem Xuất Ê-díp-tô Ký 14:31).

Tại sao việc tin cậy Đức Chúa Trời đôi khi là quá khó, dù chúng ta biết Ngài dành cho chúng ta nhiều lời hứa tuyệt vời? Kể lại một số tình huống khó khăn mà bạn tin rằng Chúa đã dẫn bạn vào để dạy bạn “tin tưởng” và “kính sợ” Ngài.

“Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đi từ đồng vắng Sin, đi từng trạm, tùy theo lịnh Đức Giê-hô-va, đóng trại tại Rê-phi-đim; ở đó chẳng có nước cho dân sự uống” (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1).

Chúng ta có thể không nhận được từ Chúa mọi thứ mình muốn, nhưng ít ra chúng ta mong nhận được những thứ mình cần? Không phải những thứ chúng ta tưởng mình cần, mà là những gì chúng ta thực sự cần?

Có một thứ mà dân Y-sơ-ra-ên chắc chắn cần, đó là nước. Ngay sau khi Đức Chúa Trời trong đám mây dẫn dân Y-sơ-ra-ên băng qua Biển Đỏ, họ đã theo Ngài đi qua sa mạc nóng bỏng, không có nước trong ba ngày. Tìm thấy nước trong sa mạc là điều cực kỳ quan trọng, nên sự tuyệt vọng của dân chúng rất là dễ hiểu. Khi nào họ mới có được nước họ đang khao khát?

Vậy, Chúa dẫn họ đi đâu? Cuối cùng, trụ mây dẫn họ đến Ma-ra, nơi có nước. Ôi, dân Y-sơ-ra-ên phấn khích biết bao! Nhưng khi họ nếm thử nước, họ phải nhổ ra lập tức vì nước đắng ngắt. “Dân sự bèn oán trách Môi-se rằng: Chúng tôi lấy chi uống?” (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:24).

Vài ngày sau, Chúa lại làm điều đó. Tuy nhiên, lần này, trụ mây thực sự dừng lại ở nơi hoàn toàn không có nước (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1).

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 15:22–27 và Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1–7. Đức Chúa Trời đã tiết lộ điều gì cho dân Y-sơ-ra-ên về chính Ngài tại Ma-ra và Rê-phi-đim? Những bài học nào họ nên rút ra?

Tại Rê-phi-đim, dân Y-sơ-ra-ên đã hỏi gì? Xuất Ê-díp-tô Ký 17:7. Bạn có bao giờ hỏi câu tương tự như vậy không? Nếu có, tại sao? Bạn cảm thấy thế nào, và bạn rút ra được bài học gì sau khi được giải đáp? Chúng ta cần nghe câu trả lời bao nhiêu lần trước khi ngừng hỏi nó hoàn toàn?

“Đức Chúa Jêsus đầy dẫy Đức Thánh Linh, ở bờ sông Giô-đanh về, thì được Đức Thánh Linh đưa đến trong đồng vắng, tại đó, Ngài bị ma quỉ cám dỗ trong bốn mươi ngày” (Lu-ca 4:1, 2).

Đọc Lu-ca 4:1–13. Bạn có thể rút ra bài học nào từ câu chuyện này về cách vượt qua sự cám dỗ và không đầu hàng tội lỗi?

Đương đầu với các cám dỗ không phải là chuyện dễ vì chúng thường là những điều hấp dẫn của các thứ chúng ta mê thích, và cám dỗ thường đến lúc chúng ta yếu đuối nhất.

Phần đầu của Lu-ca 4 ghi lại câu chuyện Đức Chúa Giê-su bị Sa-tan cám dỗ, và nó cũng khiến chúng ta chú ý đến một số vấn đề khó giải thích. Thoạt nhìn, có vẻ như Đức Thánh Linh đang dẫn dắt Chúa Giê-su vào nơi cám dỗ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không bao giờ cám dỗ chúng ta (Gia-cơ 1:13). Đúng hơn, như chúng ta đã thấy, Đức Chúa Trời dẫn chúng ta đến những cái bình thử nghiệm. Điều nổi bật trong Lu-ca 4 là Đức Thánh Linh có thể dẫn chúng ta vào những thời điểm thử thách mà tại ấy chúng ta phải tiếp xúc với những cám dỗ khốc liệt của Sa-tan. Vào những lúc khi chúng ta cảm thấy sức cám dỗ này là quá mạnh, chúng ta có thể hiểu lầm và nghĩ rằng mình đã theo Chúa chưa vẹn toàn. Nhưng điều này chưa chắc đã đúng. “Thường khi bị đặt trong một tình huống khó khăn, chúng ta nghi ngờ rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang dẫn dắt chúng ta. Nhưng chính sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh đã đưa Chúa Giê-su vào đồng vắng để bị Sa-tan cám dỗ. Khi Đức Chúa Trời đưa chúng ta vào thử thách, Ngài có một mục đích để hoàn thành vì lợi ích cho chúng ta. Đức Chúa Giê-su không phỏng đoán vào những lời hứa của Đức Chúa Trời bằng cách nhắm mắt đi vào sự cám dỗ, Ngài cũng không bỏ cuộc để rơi vào sự thất vọng ê chề khi sự cám dỗ đến với Ngài. Chúng ta cũng phải nên như vậy.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 126, 129.

Đôi lúc, khi ở trong bình nấu kim loại, chúng ta bị phỏng hơn là được thanh lọc. Nhưng chúng ta có thể tìm được an ủi khi biết rằng dầu gục ngã trước sự cám dỗ, chúng ta vẫn có thể ngoi lên và có lại sự hy vọng vì chính Đức Chúa Giê-su đã đứng vững. Đây thật là tin lành: vì Đức Chúa Giê-su là Đấng Mang Tội lỗi của chúng ta, vì Ngài đã trả hình phạt cho việc chúng ta thất bại không chịu đựng được sự cám dỗ đó (bất kể đó là gì), vì Ngài đã trải qua những gian nan tệ hại hơn bất kỳ ai trong chúng ta, nên chúng ta không bị Chúa bỏ rơi hay lìa xa. “Đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (1 Ti-mô-thê 1:15).

Bạn đang phải đối mặt với những cám dỗ nào? Hãy dành một chút thì giờ để cầu nguyện, xin Chúa dạy bạn cách áp dụng những bài học từ gương của Đức Chúa Giê-su. Hãy nhớ rằng, bạn không bao giờ phải khuất phục trước sự cám dỗ! Và cũng nên nhớ rằng nếu bạn không chống nổi, bạn có một Đấng Cứu Rỗi bên cạnh.

Đọc 1 Phi-e-rơ 1:6, 7. Phi-e-rơ muốn nói gì?

Phi-e-rơ viết những lời này cho những ai đang phải chiến đấu với thử thách khó khăn và lắm lúc cảm thấy cô đơn trơ trọi. Ông viết cho “những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn”(1 Phi-e-rơ 1:1). Đây là khu vực mà chúng ta biết ngày nay thuộc phía tây Thổ Nhỉ Kỳ (Turkey). Trong những câu sau, Phi-e-rơ nói rằng ông biết họ đang trải qua “sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã” (1 Phi-e-rơ 1:6).

Phi-e-rơ muốn nói gì khi viết rằng họ “kiều ngụ” và “rải rác”? Tình cảnh ấy có thể thêm khó khăn trên những thử thách của họ ra sao?

Trở thành Cơ Đốc nhân vào giai đoạn đó là một điều mới lạ; số lượng các tín đồ còn ít và chỉ là thiểu số tại nhiều nơi. Họ thường bị hiểu lầm hoặc hiếp đáp. Tuy nhiên, Phi-e-rơ đảm bảo với họ rằng những thử thách này không là ngẫu nhiên hoặc hỗn loạn (1 Phi-e-rơ 1:6, 7). Đức tin chân chính là mục tiêu của những ai kiên trì vượt qua “mọi thử thách”.

Đọc 1 Phi-e-rơ 1:6–9. Phi-e-rơ muốn khuyến khích những Cơ Đốc nhân này với sự bảo đảm nào giữa lúc họ gặp thử thách? Hy vọng này cũng có ý nghĩa gì đối với chúng ta?

Thử thách gì, thương khó gì họ phải chịu đựng cũng không làm sao có thể sánh được với sự vĩnh cửu đang chờ đợi họ khi Đấng Christ trở lại. Những lời Phi-e-rơ nói với họ cũng là lời Đức Chúa Trời nói với chúng ta, trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta phải đối mặt. Dù thử thách khó khăn hay đau đớn, chúng ta không bao giờ được đánh mất mục đích cuối cùng: cuộc sống vĩnh cửu trong trời mới và đất mới, nơi không còn đau đớn, khổ sở, hoặc chết chóc. Với một lời hứa như vậy trước mặt, một lời hứa được bảo đảm qua cái chết của Đức Chúa Giê-su, điều quan trọng là chúng ta không để mất đức tin, nhưng thay vào đó, giữa những thử thách này, chúng ta hãy cầu xin Chúa thanh lọc chúng ta khỏi mọi thứ và bất cứ điều gì có thể cản trở đức tin của chúng ta.

Có một cậu thanh niên mà chúng ta sẽ gọi là Alex. Cậu ta có một tuổi trẻ khá rắc rối: ma túy, bạo lực, thậm chí có một lúc anh đã ngồi tù. Nhưng sau đó, qua lòng tốt của một thành viên hội thánh địa phương (người mà Alex đã đánh cắp), Alex đã biết về Chúa và trao trái tim mình cho Đức Chúa Giê-su. Mặc dù anh vẫn còn nhiều vấn đề, và chuyện trong quá khứ vẫn còn dây dưa, Alex là một người mới trong Chúa Cứu Thế. Anh yêu thương Chúa và bày tỏ tình yêu đó bằng cách tuân theo các điều răn của Ngài (1 Giăng 5:1, 2). Tại một thời điểm, Alex có được ấn tượng và linh cảm rằng Chúa muốn anh phải thành mục sư. Mọi dấu hiệu đều chỉ đến điều đó. Anh trả lời Chúa kêu gọi, không nghi ngờ gì nữa.

Lúc đầu, tại đại học, mọi điều diễn ra tốt đẹp. Nhưng rồi hết chuyện này đến chuyện khác xảy ra, cuộc đời anh bắt đầu tan rã. Nguồn tài trợ khô cạn, một người bạn thân quay lưng và đặt điều vu khống làm tổn hại danh dự anh. Tiếp theo, anh cứ hay đỗ bệnh; không ai biết nó là gì, nhưng điều ấy đã ảnh hưởng việc học của anh đến mức anh sợ rằng anh sẽ phải bỏ học hoàn toàn. Đã vậy, anh phải chiến đấu với những cám dỗ khốc liệt với ma túy, thứ rất dễ có trong cộng đồng địa phương. Đã có lúc anh không chống đỡ nổi cám dỗ này. Alex không hiểu tại sao tất cả những việc này lại xảy ra, nhất là vì anh chắc chắn rằng Chúa đã đầu tiên dẫn đưa anh đến ngôi trường này. Alex có nhận xét sai lầm không? Nếu vậy, toàn bộ kinh nghiệm của anh với Chúa có phải là một sai lầm lớn không? Ngay cả những yếu tố cơ bản nhất trong đức tin của anh cũng bị nghi ngờ.

Hãy tưởng tượng rằng, giữa cơn khủng hoảng này, Alex đến tìm bạn và xin lời khuyên. Bạn sẽ nói gì? Bạn đã có những kinh nghiệm riêng nào có thể giúp ích một người trong hoàn cảnh như Alex? Bạn có thể dùng những câu Kinh Thánh nào? Những câu sau đây hữu ích ra sao trong tình huống như vậy? Châm ngôn 3, Giê-rê-mi 29:13, Rô-ma 8:28, 2 Cô-rinh-tô 12:9, Hê-bơ-rơ 13:5.

Hầu như tất cả những người theo Chúa đều từng gặp khủng hoảng và đó là lúc họ dễ bị cám dỗ để nghi ngờ sự dẫn dắt của Chúa. Điều quan trọng trong những tình huống như vậy là chúng ta phải bám vào những lời hứa, kể lại sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong quá khứ, và cầu nguyện để có được đức tin và sự bền bỉ. Chúa sẽ không bao giờ từ bỏ chúng ta. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Làm thế nào để chúng ta không khuất phục trước sự cám dỗ mà từ bỏ Ngài?

“Như ngày xưa, Chúa đã dẫn dân Ngài đến Rê-phi-đim, và Ngài cũng có thể chọn dẫn chúng ta đến đó, để thử lòng trung thành của chúng ta. Không phải lúc nào Ngài cũng đưa chúng ta đến những nơi thoải mái. Nếu Ngài làm vậy, trong sự tự mãn của mình, chúng ta có thể quên rằng Ngài là Đấng giúp đỡ chúng ta. Ngài mong muốn được biểu lộ chính Ngài, và cho chúng ta thấy nguồn cung cấp dồi dào Ngài dành cho chúng ta; Ngài cho phép thử thách và thất vọng đến với chúng ta để chúng có thể nhận ra sự bất lực của mình, và học cách kêu gọi Ngài giúp đỡ. Ngài có thể tạo ra những dòng nước mát lạnh tuôn ra từ các tảng đá nóng khô. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được, cho đến khi chúng ta đối diện với Đức Chúa Trời, bao nhiêu gánh nặng Ngài đã gánh chịu cho chúng ta, và bao nhiêu gánh nặng mà Ngài vui lòng chịu, nếu, với đức tin như trẻ thơ, chúng ta đã mang chúng đến với Ngài.” — Ellen G. White, Rephidim, Advent Review và Sabbath Herald, 7/4/1903.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Chúng ta thường nói về sự cám dỗ như một vấn đề cá nhân, quả là đúng vậy. Đồng thời, cũng có những cám dỗ cộng đồng, những điều mà chúng ta với tư cách là một giáo hội hay hội thánh địa phương cần phải đề phòng. Nếu có, thì chúng ta phải xử trí thế nào?
  2. Bạn có thể chia sẻ về bất kỳ “nơi khó chịu” nào mà bạn đã được dẫn đến không? Tại sao những nơi ấy lại khó chịu? Nếu bạn phải nhìn lại những trải nghiệm đó ngày hôm nay, liệu bạn có cái nhìn khác đi không?
  3. Tất cả chúng ta đều hiểu nguyên tắc sau việc Đức Chúa Trời cho phép các thử thách thanh lọc và tinh luyện chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta làm sao hiểu được những trường hợp mà các thử thách dường như không có lợi ích gì — chẳng hạn, một người nào đó chết ngay lập tức trong một tai nạn xe cộ? Chung cả lớp hãy tìm câu trả lời khả dĩ.
  4. Cả lớp hãy dành thời giờ cùng cầu nguyện cho nhau, hầu cho mỗi người được thêm sức để chịu đựng thử thách và giữ lòng trung tín.
  5. Cả lớp có biết ai đang gặp thử thách và lạc lối không? Nếu vậy, với tư cách là một nhóm chung, các bạn có thể làm gì hữu hiệu để giúp dẫn dắt người ấy trở lại?
Bài Học 2, 2 — 8 Tháng 7, 2022

KHI LỬA THỬ THÁCH ĐẾN

CÂU GỐC: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót” (1 Phi-e-rơ 4:12, 13).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Phi-e-rơ 4:12–19; 5:8–11, Rô-ma 1:21–32, Giê-rê-mi 9:7–16, 2 Cô-rinh-tô 12:7–10.

Trong phòng thí nghiệm hóa học người ta thường đặt các vật liệu khác nhau vào một cái bình và nung chúng đến nhiệt độ cực cao. Khi bình càng nóng, các vật liệu trong bình hoặc chảy, tan, phun, hay cháy sáng tùy theo bản chất của mỗi loại. Cái bình ấy được gọi là nồi nấu kim loại (crucible).

Tự điển định nghĩa chữ crucible (1) bình được sử dụng để nấu chảy một chất ở nhiệt độ cao, (2) một thử thách khắc nghiệt, (3) một địa điểm hoặc hoàn cảnh trong đó các lực tập trung và tương tác để gây ảnh hưởng đến sự thay đổi hoặc phát triển.

Những định nghĩa này cũng cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc hữu ích về những gì xảy ra trong đời sống tinh thần của chúng ta. Tuần này chúng ta sẽ nêu lên một số lý do vì sao chúng ta có thể bỗng nhiên thấy mình bị áp lực và trải qua các thử thách trong những hoàn cảnh khiến chúng ta thay đổi, phát triển và trưởng thành. Điều này sẽ giúp chúng ta ý thức được những gì Đức Chúa Trời đang làm trong cuộc sống của chúng ta để khi chúng ta phải bước vào một giai đoạn gian nan, chúng ta sẽ biết ứng phó ra sao.

“Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường” (1 Phi-e-rơ 4:12).

Bất ngờ, những bất ngờ đau đớn, có thể đến trong nhiều cách. Một chiếc xe hơi đang chạy nhanh bỗng lách qua làn xe của bạn. Bạn nhận được thông báo đột ngột rằng bạn sắp mất việc. Bạn khám sức khoẻ và biết mình mắc một bệnh nan y. Bạn bị người yêu phản bội. Những nỗi đau này càng thêm sâu đậm hơn khi nó xảy đến bất ngờ.

Tuần này, chúng ta sẽ xem xét một số hoàn cảnh đau đớn cụ thể hoặc những tai biến mà chúng ta không nên ngạc nhiên.

Để bắt đầu, hãy quay lại 1 Phi-e-rơ 4:12. “Khác thường” từ tiếng Hy Lạp trong 1 Phi-e-rơ 4:12 có nghĩa là “xa lạ” hay “ở ngoài”. Phi-e-rơ kêu gọi độc giả của ông đừng lầm tin rằng những lò lửa thử thách hay gian nan là chuyện lạ, đáng ngạc nhiên trong đời Cơ Đốc nhân. Đúng hơn, những hoạn nạn ấy phải được coi là bình thường — những điều có thể hoặc chắc sẽ đến.

Từ được sử dụng cho “lò lửa thử thách” hay “lò lửa gian nan” xuất phát từ một từ Hy Lạp khác, và nó có nghĩa là “sự thiêu đốt”. Ở những nơi khác, nó được dịch là “hỏa lò”. Vì vậy, trải nghiệm đau khổ cho đức tin của chúng ta này có thể được coi là “tiến trình nấu chảy”, tiến trình của những thử thách thương khó.

Đọc 1 Phi-e-rơ 4:12–19. Thông điệp của Phi-e-rơ là gì?

Vì chúng ta thường có cái nhìn đơn giản về đời sống Cơ Đốc nhân nên khi gian khổ xảy đến, chúng ta ngạc nhiên, thắc mắc. Chúng ta biết có hai phía — Đức Chúa Trời: Đấng tốt lành; và Sa-tan: kẻ hung ác. Bình thường chúng ta luôn tự động đặt những gì cho chúng ta cảm giác thoải mái vào hộp của Chúa, và những gì cho cảm giác bực bội vào hộp của Sa-tan. Nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy. Chúng ta không thể dùng cảm xúc của mình để quyết định xem thứ gì cho vào hộp của Chúa hay hộp của Sa-tan. Nhiều khi bước đi với Chúa cũng có thể là một thách thức khó khăn, trong khi đi theo Sa-tan thì lại thoải mái và mang lại nhiều phần thưởng lớn. Gióp, người công bình nhưng phải chịu nhiều đau khổ, minh họa điều này khi ông hỏi Đức Chúa Trời, “Cớ sao kẻ gian ác sống, trở nên già cả và quyền thế cường thạnh?” (Gióp 21:7).

Trong những câu trên, Phi-e-rơ nói về những thử thách gian nan xảy ra có nguyên nhân từ việc trung tín với Đấng Christ. Nhưng cũng có những gian nan xảy ra vì các lý do khác. 1 Phi-e-rơ 4:12–19 có thể giúp chúng ta giải thích cách khéo léo ra sao cho một người bạn rằng họ chớ nên kinh ngạc trước những thử thách khó khăn mà họ có thể phải đối mặt?

“Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (1 Phi-e-rơ 5:8).

Câu Kinh Thánh trên muốn nói gì với chúng ta? Bạn hãy tự hỏi, “Tôi cân nhắc những lời nầy nghiêm túc đến mực nào?” Những hành động nào chứng tỏ bạn suy gẫm cách nghiêm túc về nhưng lời cảnh cáo ấy?

Bạn đã bao giờ thấy một con sư tử đói chưa? Thật đáng sợ vì nó có thể bắt và ăn bất cứ thứ gì nó muốn. Phi-e-rơ nói rằng Sa-tan cũng đang rình mò theo cách ấy. Khi nhìn xung quanh, chúng ta có thể thấy hậu quả của việc Sa-tan thích hãm hại. Chết chóc, đau khổ, đạo đức suy đồi, giá trị méo mó đang xảy ra khắp nơi. Chúng ta không thể nào không thấy mọi tai hại Sa-tan gây nên.

Đọc 1 Phi-e-rơ 5:8–11. Cơ Đốc nhân nên phản ứng thế nào trước sự rình mò của Sa-tan?

Chúa hứa sẽ làm gì cho những người đang chịu hoạn nạn? 1 Phi-e-rơ 5:10.

Phi-e-rơ đã viết những lời này để ứng đối với việc Sa-tan luôn tìm cách tấn công đức tin của Cơ Đốc nhân. Và như đã nêu lên, Sa-tan hoạt động qua nhiều phương cách khác nhau. Tuy chúng ta phải có nhận thức thực tế về sức mạnh của kẻ thù của mình, nhưng chúng ta không bao giờ được nản lòng, và phải luôn nhớ rằng Đức Chúa Giê-su đã đánh bại Sa-tan, rằng Sa-tan là kẻ thù bại trận. Nếu chúng ta tiếp tục kết nối với Chúa Giê-su, tin cậy nơi Ngài, Sa-tan sẽ không thể nào đánh bại chúng ta. Qua thập tự giá, chiến thắng của Đấng Christ là chiến thắng của chúng ta.

Hãy nghĩ về những phương cách Sa-tan dùng để gây ra khổ đau. 1 Phi-e-rơ 5: 8–11 có thể giúp chúng ta đối phó ra sao với những hoạn nạn xảy đến mà chúng ta phải gánh chịu vì số phận con người sống trong một thế giới tội lỗi với những tàn phá do Sa-tan mang đến.

“Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật” (Rô-ma 1:18).

Mọi điều chúng ta làm đều có hậu quả. Nếu bạn đứng dưới trời nắng chói chang với cây kem thì chắc chắn kem sẽ bị chảy. Nhân quả luôn đi đôi với nhau. Tội lỗi cũng vậy. Nó luôn luôn gặt hái hậu quả. Chẳng phải Đức Chúa Trời ngồi trên trời tìm cách gieo hoạ cho những người phạm tội; không, tội lỗi tự nó đi kèm với những hậu quả có sẵn của nó.

Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng bằng cách nào đó chúng ta có thể qua mặt Đức Chúa Trời, và phạm tội mà không gặp phải hậu quả. Chuyện đó không bao giờ xảy ra. Phao-lô nói rất rõ rằng hậu quả của tội lỗi không chỉ ảnh hưởng đến đời đời mà ngay cả lúc này, chính nó sẽ mang đến nhiều đau đớn xót xa.

Trong Rô-ma 1:21–32, Phao-lô mô tả quá trình và hậu quả khi con người rơi vào tội lỗi. Hãy suy gẫm sâu sắc những câu này và tóm tắt những điều chính yếu Phao-lô muốn nói, chú trọng vào các giai đoạn và hậu quả của tội lỗi.

Phao-lô đã mô tả những hậu quả này là “cơn giận của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 1:18). Cơn giận của Đức Chúa Trời ở đây có nghĩa đơn giản là Ngài cho phép nhân loại gặt hái những gì họ gieo. Ngay cả đối với Cơ Đốc nhân, không phải lúc nào Đức Chúa Trời cũng can thiệp ngay lập tức để cất đi những đau khổ do chính hành động của chúng ta gây ra. Nhiều khi Ngài để chúng ta kinh nghiệm các hậu quả của những điều chúng ta làm và nhờ đó chúng ta mới ý thức được tội lỗi gây tổn hại và xúc phạm sâu đậm đến mức nào.

Chúng ta đã xem xét hậu quả của việc vi phạm luật đạo đức của Đức Chúa Trời. Nhưng còn vi phạm luật sức khỏe của Đức Chúa Trời thì sao? Cơ thể chúng ta là nhà của Chúa. Nếu chúng ta lạm dụng cơ thể của mình bằng cách không ăn uống lành mạnh, hoặc tập thể dục, hoặc nếu chúng ta làm việc đến lã người, thì đây cũng là tội phạm đến Đức Chúa Trời. Và điều này sẽ gây ra nhiều hậu quả tai hại.

Trong đời bạn, bạn đã gặt hái những hậu quả tức thời do tội lỗi của chính mình gây ra như thế nào? Bạn đã học được những bài học gì? Bạn phải thực hiện những thay đổi gì để không phải trải qua những điều tương tự lần nữa?

“Vậy nên Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ làm cho tan chảy và thử chúng nó; vì nếu chẳng vậy thì xử với con gái dân ta thể nào?” (Giê-rê-mi 9:7).

“Nếu Thánh Linh nhắc nhở bạn nhớ đến lời của Chúa mà làm cho bạn khó chịu một điều gì đó thì chắc chắn Ngài muốn cất điều đó khỏi bạn.” — Oswald Chambers, My Utmost for His Highest, 1963, trang 271.

Bạn hiểu câu trích dẫn và câu Kinh Thánh trên đây như thế nào? Bạn đã trải nghiệm gì với những đau đớn trong quá trình thanh lọc?

Đọc Giê-rê-mi 9:7–16. Đức Chúa Trời nói rằng Ngài sẽ “tan chảy và thử”, hoặc “thanh lọc” Giu-đa và Giê-ru-sa-lem (Giê-rê-mi 9:7). Đức Chúa Trời đưa ra hai lý do nào cho điều này? (Giê-rê-mi 9:13, 14). Việc thanh lọc sẽ diễn ra như thế nào? (Giê-rê-mi 9:15, 16).

Sự tinh luyện và thử nghiệm của Đức Chúa Trời là hành động quyết liệt. Có lẽ có ba lý do tại sao việc tinh chế và thử nghiệm có thể giống như một bình nấu kim loại. Thứ nhất, chúng ta kinh nghiệm đau khổ khi Đức Chúa Trời cho phép những hoàn cảnh khó khăn xảy ra khiến chúng ta phải để tâm đến tội lỗi của mình. Giê-rê-mi đã không vui khi viết: “Ống bễ thổi mạnh, chì đã tiêu bởi lửa; chúng nó luyện đi luyện lại cũng là luống công: Vì kẻ gian ác vẫn chưa trừ khỏi” (Giê-rê-mi 6:29). Thế nên, đôi khi hành động quyết liệt là cần thiết để khiến chúng ta phải quan tâm. Thứ hai, chúng ta kinh nghiệm đau đớn khi chúng ta hối tiếc về những tội lỗi nay ta thấy rõ ràng. Thứ ba, chúng ta kinh nghiệm thất vọng và bất lực khi cố sống một lối sống khác. Chẳng phải là dễ đâu khi chúng ta quyết định từ bỏ những gì đã từng là một phần của đời mình.

Hãy nghĩ về những tội lỗi mà bạn phải dằng co. Nếu Đức Chúa Trời định sàng lọc và thử thách bạn ngày hôm nay, thì Ngài có thể làm việc đó ra sao? Bạn có thể làm gì bây giờ để giải quyết vấn đề này trước khi Đức Chúa Trời muốn thực hiện các bước quyết liệt với bạn, như Ngài đã làm với dân Y-sơ-ra-ên?

“Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo” (2 Cô-rinh-tô 12:7)

Đốn cây và tỉa cành khác nhau rất nhiều. Chúng ta chặt bỏ những cây mình không thích, và tỉa những cây mình muốn chúng phát triển và sinh hoa trái dồi dào. Tuy nhiên, cả hai quy trình đều liên quan đến một con dao sắc bén. Thật vậy, việc cắt tỉa nhiều lúc phải cắt bỏ những phần của cây mà ai không biết tưởng rằng mình đang phá huỷ cây. Trong bối cảnh tâm linh, Bruce Wilkinson viết, “Bạn có cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban phước mình dồi dào, và cũng cầu xin Ngài khiến bạn trở nên giống Con của Ngài hơn không? Nếu câu trả lời của bạn là có, thì bạn đang yêu cầu cắt tỉa.” — Bruce Wilkinson, Secrets of the Vine, trang 60.

Người ta đã thắc mắc muốn biết Phao-lô thực sự muốn nói gì về “cái giằm xóc vào thịt tôi” (2 Cô-rinh-tô 12:7). Nhiều nguyên nhân được đưa ra, từ việc Phao-lô liên tục bị kẻ thù tấn công cho đến vấn đề phát âm khó khăn của ông. Hay cũng có thể ông có thị giác yếu kém. (xem Ellen G. White Comments, The SDA Bible Com comments, tập 6, trang 1107). Lạ lùng thay, Phao-lô tin rằng người đã “được cho” “cái giằm”.

Bạn nghĩ Phao-lô có ý gì khi viết “được cho”? Ai đã cho ông cái giằm? Làm sao Đức Chúa Trời có thể dùng việc ấy để mang lợi ích đến Phao-lô?

Hãy lưu ý rằng “cái giằm” của Phao-lô có một mục đích rõ ràng: “làm cho tôi đừng kiêu ngạo” (2 Cô-rinh-tô 12:7). Nó không nói về một tội nào đó ông đã vi phạm, mà là để ngăn ông không phạm tội trong tương lai. Phao-lô công nhận rằng theo bản tính, ông có yếu đuối với tội lỗi, và “cái giằm” này có thể bảo vệ chống lại yếu điểm đó.

Đọc 2 Cô-rinh-tô 12:7–10. Phao-lô đối phó với “cái giằm” của mình như thế nào? Bạn có nghĩ rằng yếu điểm của Phao-lô có mang lại lợi ích tâm linh nào khác cho ông? Cách Phao-lô đáp ứng có thể giúp bạn đối phó với những “chông gai” mà bạn có thể phải gánh mang ra sao?

Ý tưởng của Đức Chúa Trời về sự phát triển tâm linh của chúng ta có thể khác với ý của chúng ta ra sao? Những lĩnh vực nào trong đời bạn cần được kết quả hơn về sự công bình? Những đức tính tâm linh nào bạn muốn được phát triển qua sự “cắt tỉa” của Đức Chúa Trời?

“Đấng biết rõ trái tim con người cũng biết được tính tình họ hơn chính họ. Ngài nhìn thấy những ai có quyền năng và dễ cảm nhận, nếu được hướng dẫn đúng đắn, có thể được dùng để phát triển công việc Ngài. Trong sự quan phòng của Ngài, Ngài đưa những người này vào những địa vị hay hoàn cảnh khác nhau để họ có thể khám phá ra những khuyết điểm bị che dấu trong tính tình của họ. Ngài cho họ cơ hội để sửa chữa những khiếm khuyết này, để họ có thể tương xứng với công việc Ngài sẽ dành cho họ. Nhiều khi Ngài cho phép những ngọn lửa đau khổ tấn công để họ có thể được tinh lọc.” — Ellen G. White, Ministry of Healing, trang 471.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Trong giai đoạn khi chúng ta đang phải hứng chịu những hậu quả của tội lỗi quả là giai đoạn khó khăn. “Liệu tôi có bao giờ được hòa thuận trở lại với Chúa không?”, chúng ta tự hỏi. Đức Chúa Trời có lời hứa nào để khuyến khích chúng ta phải kiên trì để vượt qua những giai đoạn khó khăn ấy mà không bỏ cuộc? (Xem những gì Phao-lô viết trong Rô-ma 5:1–11.) Nếu có ai hỏi bạn câu hỏi này thì bạn sẽ trả lời ra sao?
  2. Ellen G. White muốn nói gì khi viết “Sự quan phòng của Ngài”? Điều này hoạt động ra sao? Làm sao bạn biết khi một chuyện gì đó xảy ra là do “sự quan phòng” của Đức Chúa Trời? Những hành động “quan phòng” nào của Đức Chúa Trời đã dẫn đến những thử thách trong đời bạn? Hãy thảo luận về những gì bạn đã học được tại thời điểm này. Làm thế nào bạn có thể giúp một người đang tự hỏi liệu sự kiện nào đó có thực sự là “sự quan phòng” của Ngài”?
  3. Nếu bạn biết ai đó đang trải qua một thử thách ngặt nghèo lúc này, thì nguyên nhân vì sao chuyện lại xảy ra như vậy có thành vấn đề không? Có nghĩa là, bạn nên phản ứng như thế nào trước sự đau khổ của nhân vật này, bất kể vì nguyên cớ gì?
  4. Một thanh niên Cơ Đốc sống ở Nam Mỹ đã trải qua một thử thách khá cay đắng. Sau khi mọi chuyện kết thúc, anh ta chuyển qua Âu Châu và đã nói rằng, “Tôi đã bỏ lại xác mình ở Nam Mỹ.” Điều đó có nghĩa gì? Tại sao tất cả chúng ta, theo ý tưởng ấy, phải để lại xác chết mình ở một nơi nào đó? Những thử thách khó khăn có vai trò gì trong quá trình này?
  5. Cả lớp hãy dự tính một chuyến thăm bệnh viện hoặc một nơi nào đó mà bạn có thể giúp đỡ, an ủi và khuyến khích những người, vì bất cứ lý do gì, đang ở trong sự thử thách.
Bài Học 1, 25 Tháng 6 — 1 Tháng 7, 2022

SỰ TÔI LUYỆN TỪ ĐẤNG CHĂN CHIÊN

CÂU GỐC: “Ngài bổ lại linh hồn tôi, dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài”(Thi thiên 23:3).

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Thi thiên 23, Rô-ma 12:18–21.

Sophie dựa lưng vào cửa phòng ngủ và ngồi bệt xuống sàn. Nước mắt đong đầy, nàng bật khóc thổn thức. “Sao anh ấy lại làm thế? Sao anh ấy có thể làm thế?” Sophie vừa nhận được một tin khiến tim nàng tan nát. Một người nàng tưởng là bạn, một người nàng kính trọng và tin tưởng lại tung ra những lời đàm tiếu ghê gớm về nàng để hủy hoại danh tiếng của Sophie và những việc nàng đang thực hiện. Vội vàng cầm lấy cuốn Kinh Thánh trên giường, cô chợt thấy mình đang nhìn chằm vào một số câu rất quen thuộc: “Ngài bổ lại linh hồn tôi, dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài. Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào, vì Chúa ở cùng tôi: Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi” (Thi thiên 23:3, 4).

“Chắc chắn điều này không thể được!” cô tự thốt lên. Nhưng nó hợp lý làm sao! Người chăn chiên trong Thi thiên đang hướng dẫn chiên của Ngài theo những con đường công bình, nhưng chính những con đường này dường như cũng đi qua thung lũng của bóng chết. Biết đâu thung lũng tăm tối này — sự phản bội đau đớn của một người bạn — có thể được Đức Chúa Trời dùng để rèn luyện Sophie trên bước đường công chính?

Đối với bạn thì sao? Đời sống thuộc linh của bạn khôn lớn qua giai đoạn nào — những tháng ngày thoải mái, hay những tháng ngày khó khăn?

“Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi; tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì”(Thi thiên 23:1).

Một số trẻ em được yêu cầu vẽ một bức tranh về Chúa. Không có ngoại lệ, tất cả đều vẽ một bức tranh với một trái tim ở đâu đó trong hình. Khi được hỏi tại sao, các em đồng trả lời rằng Đức Chúa Trời là tình yêu. Thật là đơn giản.

Khi mọi việc diễn ra tốt đẹp thì nghĩ tốt về Đức Chúa Trời và các mục đích của Ngài là điều rất dễ. Nhưng rồi chúng ta trưởng thành và cuộc sống trở nên khó khăn và phức tạp hơn, cái nhìn của chúng ta về Chúa thường thay đổi. Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời không thay đổi (Hê-bơ-rơ 13:8, Gia-cơ 1:17); nhưng chúng ta thay đổi.

Vì lối sống mục vụ của người dân trong thời Cựu Ước, Thi thiên 23 dùng hình ảnh người chăn chiên để mô tả cách Đức Chúa Trời chăm sóc chúng ta. Biểu tượng người chăn chiên được dùng cho Đức Chúa Trời —trong cả Cựu Ước và Tân Ước. Đó là một bức tranh tuyệt vời và cũng là một bức tranh không thay đổi. Trước khi xem Thi thiên 23, chúng ta hãy xem xét những người viết Kinh Thánh khác nhau như thế nào trong những gì họ hiểu về công việc và đức tính của Người chăn chiên trong suốt Kinh Thánh.

Bạn học được gì về Đấng Chăn chiên qua những câu sau?

Ê-sai 40:11
Giê-rê-mi 23:3, 4
Ê-xê-chi-ên 34:12
Giăng 10:14–16
1 Phi-e-rơ 2:25

Bây giờ, hãy chuyển sang Thi thiên 23. Đấng Chăn chiên làm gì để chăm sóc chiên của Ngài?

Thi thiên 23:2
Thi thiên 23:3
Thi thiên 23:4
Thi thiên 23:5
Thi thiên 23:6

Bạn nghĩ sao khi biết rằng có một Đấng như vậy chăm sóc bạn? Bạn có thể dùng hình ảnh này để khuyến khích thế nào một cá nhân khác, một người mà hình ảnh Chúa đã lu mờ vì những gian nan trong đời họ?

“Dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài” (Thi thiên 23:3).

Hãy tưởng tượng “các lối công bình” (Thi thiên 23:3) trải dài xa tít trước mắt. Bạn không thể nhìn thấy cuối điểm, nhưng bạn biết rằng cuối đoạn đường là nhà, nhà của Chúa. Tập trung ánh mắt gần hơn, bạn thấy những con đường ấy dẫn đi đâu? Bạn có thể thấy nhiều đoạn đường, khi thông suốt, khi bế tắc vì những chướng ngại vật to lớn và nguy hiểm. Đôi khi con đường biến mất trên một sườn núi. Có đoạn dễ đi, cũng có đoạn khó đi. Lộ trình của dân Y-sơ-ra-ên khi họ đi từ Ai Cập đến Đất Hứa cũng như vậy, và nó đã được mô tả qua bài thơ Thi thiên này.

Qua Thi thiên 23, bạn hãy kể ra những địa điểm Đa-vít thấy bầy chiên đi qua khi chúng bước theo các lối công bình trên đường về nhà Chúa.

Nhưng tại sao những con đường này được gọi là “các lối công bình” hoặc “con đường đúng”? Đây là bốn lý do quan trọng: (1) Chúng là những con đường đúng vì chúng dẫn đến đúng nơi cuối cùng — nhà của Đấng Chăn chiên. (2) Chúng là những con đường đúng vì chúng giúp chúng ta sống hòa thuận với đúng người — chính Đấng chăn chiên. (3) Chúng là những con đường đúng bởi vì chúng đào luyện chúng ta trở thành những người đúng — như Đấng chăn chiên. (4) Chúng là những con đường đúng vì chúng cho chúng ta thành những chứng nhân đúng — những người công chính mang lại vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Đó là những con đường “đúng” hay “công bình”, cho dù lộ trình dễ dàng hay vất vả.

Điều quan trọng là chúng ta phải ý thức rằng khi Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta, việc không chỉ đơn giản như là Ngài giao một kiện hàng đến đích. Nó không chỉ bao gồm hướng dẫn và bảo vệ, mà còn hơn thế nữa. Giống như nhiều ví dụ trong Kinh Thánh, trong đó Đức Chúa Trời dẫn dắt dân sự của Ngài (cho dù đó là dẫn dắt Áp-ra-ham bằng những lời hứa của Ngài hay dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên bằng cột lửa và đám mây), khi Đức Chúa Trời hướng dẫn, Ngài luôn luôn rèn luyện dân sự Ngài trong sự công bình.

Bạn có ý thức được chăng rằng sự công bình là ưu tiên của Đấng chăn chiên cho cuộc đời bạn? Các thử thách bạn trải qua có thể nào thay đổi đời bạn để bạn phản ánh cách hiệu quả hơn phẩm tính của Đấng Christ?

“Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào, vì Chúa ở cùng tôi: Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi” (Thi thiên 23:4).

Nếu các con lộ công bình chỉ chạy dọc theo những bờ suối mát rượi với bãi cỏ xanh tươi thì tốt biết bao nhiêu. Nhưng Đa-vít không vẽ ra cảnh ấy. Dọc theo những con đường này có thung lũng của bóng sự chết — không phải là nơi chúng ta náo nức đến thăm! Cứ đến mùa, Y-sơ-ra-ên có nhiều bãi cạn hay khe núi bị nước lũ ào ập kéo đến gây áp đảo. Những nơi này thường là eo hẹp, với các sườn dốc che khuất ánh sáng. Do đó, “trũng bóng chết” là hình ảnh của “bóng tối rất sâu” hoặc “màn đen sâu thẫm”.

Hãy nghĩ về những lần bạn đã ở trong “trũng bóng chết” của riêng mình. Nó như thế nào? Bạn có sợ hãi không, dù biết rằng Đấng Chăn chiên đang ở cạnh đó? Những câu Kinh Thánh nào quý giá nhất đối với bạn vào thời điểm đó, và tại sao?

Bạn nghĩ sao những con chiên lại đi vào trong thung lũng? Bạn nghĩ đàn chiên đã tự mình đến đó, hay chính Người chăn chiên dẫn chiên đến đó? Biện minh cho câu trả lời của bạn.

Elisabeth Elliot viết, “Một chiên con thấy mình trong ‘trũng bóng chết’ có thể kết luận rằng nó đã bị dẫn dắt sai. Nó cần phải vượt qua bóng tối đó để học cách không sợ hãi. Người chăn chiên vẫn ở bên nó.” — Elisabeth Elliot, Quest for Love, (Grand Rapids, MI: Revell Books, 1996), trang 218.

Bạn đã bao giờ cảm thấy rằng mình đã bị “dẫn dắt sai lầm” vào thung lũng? Bạn đã đáp lại Chúa như thế nào trong thời điểm ấy? Bạn nghĩ tại sao Đấng chăn chiên có thể cam chịu bị hiểu lầm khi Ngài cho phép chúng ta đi vào một thung lũng tối tăm?

“Chúa dọn bàn cho tôi, Trước mặt kẻ thù nghịch tôi; Chúa xức dầu cho đầu tôi, Chén tôi đầy tràn” (Thi thiên 23:5).

Trong suốt cuộc đời, chắc chắn chúng ta sẽ không tránh khỏi đụng độ với ít nhiều kẻ thù. Chúng ta sẽ đối phó với họ ra sao? Chúng ta có thức trắng đêm, trằn trọc, cố nghĩ ra nhiều mưu cách để trả thù những kẻ muốn làm hại hoặc phá hủy công việc của chúng ta? Cơ Đốc nhân có thể khó biết cách đối phó với kẻ thù.

Bạn đã từng gặp những loại kẻ thù nào trong cuộc đời mình? Bạn đã phản ứng như thế nào với những người muốn làm tổn thương bạn hay những người bạn thương yêu? Bạn vâng lời Đấng Christ dạy trong Ma-thi-ơ 5:44, hay của Phao-lô trong Rô-ma 12:18–21 đến mức nào?

Trong Thi thiên 23:5, Đa-vít cho chúng ta thấy một cách đối phó với kẻ thù khá thích thú. Sự hiện diện của kẻ thù bị lu mờ đi khi Đa-vít quay nhìn vào những gì Đức Chúa Trời đang làm thay cho mình. Ô! Đức Chúa Trời đang ở đó chuẩn bị một bữa tiệc cho người.

Trong văn hóa thời Đa-vít, khi một vị khách danh dự đến dự tiệc, chủ nhà sẽ xức dầu (dầu ô liu trộn với nước hoa) lên đầu khách khi người chuẩn bị bước vào phòng tiệc. Sau đó, khách sẽ ngồi trước một bàn tiệc tràn đầy thức ăn.

Làm thế nào ba vật dụng (bàn, dầu, chén) trong Thi thiên 23:5 có thể giúp nhắc nhở chúng ta về cách Đức Chúa Trời bảo bọc, ngay cả khi chúng ta ở trong thung lũng?

Như Phao-lô nhắc nhở chúng ta, “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy” (Ê-phê-sô 6:12). Kẻ thù của chúng ta bao gồm những kẻ chúng ta thấy hay không thấy. Dù muốn hay không, chúng ta vẫn bị bao vây. Tuy nhiên, khi chúng ta ở với Đấng Chăn Chiên, không một kẻ thù nào, dù hữu hình hay vô hình, có thể cướp lấy những gì Ngài đã cung cấp cho chúng ta.

Hãy suy gẫm về cách Đấng Chăn Chiên đã giúp đỡ khi bạn bị bao vây bởi kẻ thù. Bạn nhìn thấy gì trong những lúc này để có thể giúp bạn tạ ơn ngay cả trong những lúc khó khăn như vậy?

“Quả thật, trọn đời tôi, phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi; Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài” (Thi thiên 23:6).

Khi phải ở trong thung lũng, hoặc khi bị bao vây bởi kẻ thù, chúng ta nhiều lúc yếu lòng tin rằng mình đã bị bỏ lại một mình. Có lúc chúng ta cảm thấy như Đức Chúa Trời hầu như chẳng làm gì hết, vì nếu Ngài can thiệp hay giúp đỡ thì chúng ta đâu có phải lâm vào tình huống này. Nhưng Đa-vít rõ ràng không thấy việc như vậy.

Dầu phải trải qua nhiều thử thách, Đa-vít vẫn cả quyết hai điều gì trong Thi thiên 23:6? (Xem thêm Ê-phê-sô 1:4; 2 Phi-e-rơ 1:10; Hê-bơ-rơ 11:13–15.)

Một số bản dịch nói rằng phước hạnh và sự thương xót sẽ “theo” (follow) tôi suốt cuộc đời. Tuy nhiên, động từ gốc mạnh hơn nhiều, và câu thơ nên đọc rằng phước hạnh và sự thương xót sẽ “theo đuổi” (pursue) tôi suốt cả cuộc đời. (Đây cũng là động từ tiếng Do Thái được dùng trong các câu như Sáng thế Ký 14:14, Giô-suê 10:19 và 1 Sa-mu-ên 25:29, trong đó ý tưởng về “theo đuổi” rất rõ ràng).

Bạn sẽ nghĩ đến hình ảnh nào nếu bạn tưởng tượng phước hạnh và sự thương xót (tình yêu không bao giờ phai nhạt) đang “theo đuổi” bạn? Bạn nghĩ Đa-vít muốn nói gì với chúng ta về Đức Chúa Trời khi người mô tả sự chăm sóc của Ngài dành cho chúng ta theo cách ấy?

Dầu thung lũng sâu đến đâu hay kẻ thù dai dẳng đến thế nào, chúng ta đều biết rằng phước hạnh và sự thương xót, và sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời đưa chúng ta đến cuối lộ trình là những điều chắc chắn và không thể nghi ngờ. Chính những ý nghĩ này đã nâng đỡ tinh thần Đức Chúa Giê-su trên đồi Gô-gô-tha. Vậy chúng ta cũng nên giữ chắc trong tim mình những tư tưởng ấy.

Tuy nhiên đôi lúc những người gần gũi với chúng ta cũng nêu lên nhiều nghi vấn. Giống như Đa-vít, cách hay nhất để giải quyết những thắc mắc này thường không phải những mô tả thần học về những gì Đức Chúa Trời có thể làm, mà đúng hơn, như Đa-vít cho chúng ta thấy trong Thi thiên 23:6, đó là qua sự xác định, sự chia sẻ đức tin cá nhân và lẽ thật về Đức Chúa Trời của chúng ta.

Với kiến thức riêng của bạn về Đức Chúa Trời, bạn có bằng chứng nào để có thể cả quyết rằng phước hạnh và tình yêu không hề phai nhạt của Chúa luôn “theo đuổi” chúng ta? Bạn có thể thêm bằng chứng nào từ Kinh Thánh? Làm thế nào bạn có thể chia sẻ điều này với những người có thể đang nghi ngờ về sự chắc chắn của việc Đức Chúa Trời chăm sóc chúng ta? Làm thế nào Thập tự giá lại là ví dụ tuyệt vời nhất của sự “theo đuổi” này?

“Những người cuối cùng rồi cũng chiến thắng sẽ có những mùa gian nan và thử thách khủng khiếp trong đời sống tôn giáo của họ; nhưng họ không được bỏ đi lòng vững tin, vì những hoạn nạn ấy chính là một phần của sự huấn luyện tại học đường của Đấng Christ và cũng cần thiết để tẩy lọc những cặn bã. Tôi tớ Đức Chúa Trời phải chịu đựng những đòn tấn công của kẻ thù, những lời chế nhạo tổn thương, và phải vượt qua những chướng ngại mà Sa-tan sẽ đặt trên con đường của họ.

“Nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục nhìn lên, không nhìn xuống những trắc trở của đời mình, chúng ta sẽ không bị choáng váng trên lộ trình, rồi chúng ta sẽ nhìn thấy bàn tay Chúa đang đưa ra để nâng đỡ chúng ta. Chúng ta chỉ cần đặt tay mình vào trong tay Chúa cách vững tin, và để Ngài dẫn dắt chúng ta. Khi chúng ta bắt đầu tin cậy, chúng ta cũng bắt đầu hy vọng.

“Bạn sẽ tìm thấy sự giúp đỡ từ Đấng Christ để trở thành một nhân vật mạnh mẽ, cân đối, mỹ miều. Sa-tan không thể làm gì được đến ánh sáng chiếu ra từ một nhân vật như vậy. . . Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta món quà tuyệt vời nhất của Ngài, là Con một của Ngài, để nâng cao tinh thần, sức mạnh chúng ta. Ngài khoác lên chúng ta sự hoàn hảo của chính Ngài để chúng ta được vào nhà trong vương quốc của Chúa.” — Ellen G. White, Messages to Young People, trang 63-64.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Bạn đã nhận thức được đến mức độ nào rằng “những gian nan và thử thách khủng khiếp” xảy đến trong cuộc sống của bạn thực sự có thể là một phần của “sự sửa phạt trong trường học của Đấng Christ” của bạn?
  2. Làm thế nào để sự giúp đỡ, an ủi và khuyến khích của chúng ta cho những người trong thung lũng có thể là một phần trong những cách Đấng Chăn Chiên dùng để đưa mọi người vượt qua cơn khủng hoảng của họ? Hội thánh bạn có thể làm được những gì mà Chúa có thể sử dụng để giúp đỡ những người đang gặp khó khăn?
  3. Mỗi người trong lớp có thể chia sẻ về phước hạnh và sự thương xót đã “theo đuổi” mình ra sao. Bạn có thể học được gì từ kinh nghiệm của nhau?
  4. Hãy nghĩ về những giờ phút cuối cùng của Đấng Christ, khi Ngài chịu đựng sự thử thách. Kinh Thánh hoặc Ellen G. White (The Desire of Ages) đã cho thấy làm thế nào mà Chúa Giê-su, trong nhân tính của Ngài, lại có thể chịu đựng nổi? Từ tấm gương của Ngài chúng ta có thể áp dụng được gì cho chính mình trong bất kỳ hoạn nạn nào chúng ta phải đối mặt?