BÀI HỌC 2 | 4 – 10 Tháng 7
Kinh Thánh Nghiên Cứu: 1 Cô-rinh-tô 1:17–31, Cô-lô-se 1:20, 1 Phi-e-rơ 2:24, Công vụ 13:16–47, 1 Cô-rinh-tô 2:1–5.
Câu Gốc: “Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 1:18).
Phao-lô nói rằng sứ điệp của Thập Tự Giá là quyền phép của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi “Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” là trung tâm trong sự rao giảng của ông (1 Cô-rinh-tô 2:2).
Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:17–31. Phao-lô đang nêu lên điểm quan trọng nào ở đây?
Trong 1 Cô-rinh-tô 1:18–31, Phao-lô trình bày sự tương phản giữa sự dại dột của loài người và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Thập Tự Giá có quyền bày tỏ điều tệ hại nhất của con người và điều tốt đẹp nhất của Đức Chúa Trời. Phần này của 1 Cô-rinh-tô được mở đầu bằng lời tuyên bố trong 1 Cô-rinh-tô 1:17. Vì Thập Tự Giá của Đấng Christ không được phép bị tước mất quyền năng (1 Cô-rinh-tô 1:17), nên sứ điệp của Thập Tự Giá phải giữ vị trí trung tâm trong sự rao giảng của chúng ta (cũng xem 1 Cô-rinh-tô 2:2).
Phao-lô nói rằng ông được sai đến không phải để làm phép báp-têm, nhưng để rao giảng phúc âm của Thập Tự Giá. Lời tuyên bố này yêu cầu chúng ta lưu ý hai nhận xét quan trọng. Thứ nhất, động từ Hy Lạp được dịch “sai đi” là apostellō, có cùng gốc với từ “sứ đồ.” Vì vậy, nhiệm vụ sứ đồ căn bản của Phao-lô là công bố phúc âm.
Thứ hai, lời Phao-lô nói về phép báp-têm không có nghĩa rằng phép báp-têm không quan trọng, hoặc ít nhất là không quan trọng bằng sự rao giảng. Thay vào đó, ông đang quở trách những người quá coi trọng việc ai là người làm phép báp-têm, thay vì chú ý đến Đấng duy nhất, là Chúa Giê-su, mà họ đã chịu báp-têm trong Ngài.
Khi nói “sự khôn ngoan của lời nói” (1 Cô-rinh-tô 1:17), Phao-lô không hàm ý rằng những bài diễn thuyết hùng biện tự nó là xấu. Điểm chính là sự khôn ngoan của loài người không được che khuất sứ điệp của Thập Tự Giá. Cụm từ này đề cập đến thuật hùng biện Hy Lạp-La Mã. Tại A-thên, Phao-lô đã dùng lý luận, khoa học và triết học, nhưng kết quả không nhiều. Vì thế, “ông quyết định theo một kế hoạch rao giảng khác tại Cô-rinh-tô trong nỗ lực thu hút sự chú ý của những người thờ ơ và lãnh đạm. Ông quyết định tránh những lập luận và tranh luận cao siêu, và ‘không biết gì’ giữa người Cô-rinh-tô ‘ngoài Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự.’ ”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 244.
Những bài diễn luận cao siêu có thể che khuất sứ điệp của Thập Tự Giá theo những cách nào? Tại sao việc rao giảng Đức Chúa Giê-su Christ và Ngài bị đóng đinh trên thập tự lại gặt hái nhiều kết quả hơn tại Cô-rinh-tô so với việc dùng lý luận, khoa học và triết học tại A-thên? Tuy nhiên, có khi nào lý luận, triết học và khoa học có thể hữu ích trong việc rao giảng phúc âm không?
Khi đối chiếu sự dại dột của loài người với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, Phao-lô nói rằng “lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại” (1 Cô-rinh-tô 1:18). Đây là lần đầu tiên trong sáu lần từ điên dại hoặc dại dột được nhắc đến trong 1 Cô-rinh-tô 1:18–31.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:20, 21, 23, 25 và 27. Những câu này nói đến sự điên dại như thế nào để giúp chúng ta hiểu ý Phao-lô khi ông nói rằng sứ điệp của Thập Tự Giá là sự điên dại đối với những người hư mất?
Từ Hy Lạp chỉ “sự điên dại” trong 1 Cô-rinh-tô 1:18 là mōria. Từ này chỉ xuất hiện năm lần trong Tân Ước, và tất cả đều ở trong 1 Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 1:18, 21, 23; 1 Cô-rinh-tô 2:14; 1 Cô-rinh-tô 3:19). Ngoài mōria, những từ khác cùng gốc xuất hiện nhiều lần trong Tân Ước. Nhiều trường hợp xuất hiện của nhóm từ này trong Tân Ước được tìm thấy trong 1 Cô-rinh-tô.
Việc nhắc đến sự điên dại trong 1 Cô-rinh-tô 1:18, 23 không phải nhằm hạ thấp khả năng trí tuệ của người Cô-rinh-tô, nhưng hướng sự chú ý đến việc họ không sẵn lòng xem xét lẽ thật của phúc âm. Vì vậy, Phao-lô cũng phải đối diện với lối sống và tư tưởng vô luân, sự thiếu phân biệt, và thậm chí cả sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời.
Hãy nghĩ đến hoàn cảnh của Phao-lô trong thành phố này. Ông đến một nơi tự hào về điều họ gọi là tri thức, khôn ngoan và sự tinh tế văn hóa. Và trong bối cảnh đó, ông nói về một người Do Thái xứ Ga-li-lê, Chúa Giê-su người Na-xa-rét, Đấng đã bị người La Mã đóng đinh trên thập tự rồi sống lại từ kẻ chết—tất cả là để trả giá không chỉ cho tội lỗi của họ mà còn cho tội lỗi của cả thế gian. Người này có nghiêm túc không? Ông đang đùa với ai vậy? Đây cũng không phải là một khái niệm triết học sâu sắc mới mẻ nào đó có thể được phân tích và giải thích bằng các công cụ triết học; nó dường như là sự cuồng dại, vô nghĩa, không có gì mà một người Cô-rinh-tô thông minh và có học thức có thể xem là nghiêm túc.
Sứ điệp của Phao-lô nghe có vẻ dại dột đối với người ngoại, thì đối với nhiều người Do Thái, sứ điệp về Thập Tự Giá còn tệ hơn nữa. Có người Do Thái nào lại mong đợi một Đấng Mê-si bị La Mã xử tử? Đấng Mê-si được cho là sẽ đánh bại người La Mã, chứ không phải bị họ đóng đinh trên thập tự giá.
Vì vậy, ngay từ đầu, Phao-lô đã gặp rất nhiều trở ngại tại Cô-rinh-tô. Thế nhưng, bất chấp tất cả, nhiều linh hồn—cả người Do Thái lẫn dân ngoại—đã được chinh phục cho phúc âm. Sứ điệp ở đây là gì?
Dù chúng ta đối diện với sự chống đối nào, Đức Chúa Trời vẫn có những người sẵn lòng nghe lẽ thật. Chúng ta phải sẵn sàng để Ngài sử dụng nhằm tiếp cận những người ấy ở bất cứ nơi nào họ ở, ngay cả tại những nơi ngày nay tệ như, hoặc còn tệ hơn, Cô-rinh-tô.
Sứ điệp của 1 Cô-rinh-tô 1:18 quá rõ ràng đến nỗi không ai có thể bỏ lỡ ý nghĩa của nó. Ý nghĩa của Thập Tự Giá tùy thuộc vào cách người ta nhìn nó. Đối với những người phản nghịch Đức Chúa Trời, đó là sự điên dại; nhưng đối với những người khao khát sự cứu rỗi của Ngài, đó là quyền phép.
Đọc Cô-lô-se 1:20 và 1 Phi-e-rơ 2:24. Chúa Giê-su đã làm gì cho chúng ta trên Thập Tự Giá?
Như chúng ta đã thấy, trong khi rao giảng Tin Lành, người ta phải tránh dùng “sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích” (1 Cô-rinh-tô 1:17). Dưới ánh sáng của 1 Cô-rinh-tô 1:17, chúng ta dễ hiểu hơn vì sao điều đối lập với sự điên dại là quyền phép của Đức Chúa Trời, chứ không phải sự khôn ngoan của loài người (1 Cô-rinh-tô 1:18). Thập Tự Giá, vốn hoàn toàn trái với sự khôn ngoan của loài người, bày tỏ sự khôn ngoan của loài người thật sự dại dột đến mức nào.
Bản Hy Lạp của 1 Cô-rinh-tô 1:18 gợi ý rằng “những người hư mất” đang nhận lấy kết quả từ hành động của chính họ. Câu này có thể được đọc như sau: “Vì sứ điệp của thập tự giá là sự điên dại đối với những người đang tự hủy hoại mình.” Động từ Hy Lạp apollymi (“hư mất”) cũng có thể có nghĩa là “hủy diệt” (Giăng 10:10). Thật vậy, apollymi được dịch là “hủy phá” trong 1 Cô-rinh-tô 1:19.
Điều gì đang xảy ra ở đây? Phao-lô đưa ra nền tảng Kinh Thánh cho lời tuyên bố trong câu 18 về những người hư mất này bằng cách trích lời Đức Chúa Trời trong Ê-sai 29:14 ở câu 19. Trong câu 19, Đức Chúa Trời là Đấng đứng sau sự hủy diệt, điều này dường như mâu thuẫn với lòng kiêu ngạo tự hủy hoại được nhắc đến ngay trước đó. Tuy nhiên, không có mâu thuẫn nào. Ý tưởng ở đây là Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt điều vốn đã tự hủy diệt chính nó.
Trái với những người đang bị hủy diệt, cụm từ “về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc” (1 Cô-rinh-tô 1:18) cho thấy sự cứu rỗi chỉ đến từ Đức Chúa Trời. Phao-lô nói rằng chúng ta đang được cứu; tức là chúng ta không tự cứu mình. Dĩ nhiên, chúng ta không thể tự cứu. Sự cứu rỗi của chúng ta có nguồn gốc bên ngoài chính mình. Trong khi sự hủy diệt là do tự gây ra, thì sự cứu rỗi chỉ có thể được ban cho, là món quà ân điển dành cho tội nhân. Như 1 Cô-rinh-tô 1:21 nói rõ, chính Đức Chúa Trời cứu những người tin. Trong ý nghĩa này, sự điên rồ là hành động từ chối điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho nhân loại qua thập tự giá của Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 1:30), và vì thế tự chuốc lấy sự hủy diệt cho chính mình.
“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23). Câu này nhắc lại điều Phao-lô đã nói trong 1 Cô-rinh-tô 1:18, 19 theo những cách nào?
Phao-lô viết rằng “người Do Thái đòi dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan” (1 Cô-rinh-tô 1:22). Thập Tự Giá—ý tưởng rằng Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si, bị đóng đinh—không phải là dấu lạ mà người Do Thái mong đợi. Nó cũng không phải là loại khôn ngoan mà người Hy Lạp tìm kiếm. Nó đi ngược lại sự mong đợi của mọi người.
Thật vậy, chỉ cần đọc cách các môn đồ phản ứng trước ý tưởng Chúa Giê-su bị đóng đinh (xem Mác 8:31, 32; Mác 9:30–32; và Mác 10:32–34), chúng ta bắt đầu thấy toàn bộ ý niệm ấy xa lạ và gây ghê sợ đến mức nào, đặc biệt đối với người Do Thái. Như đã nói trước đó, người Do Thái trông đợi Đấng Mê-si chiến thắng người La Mã; điều đó đã không xảy ra, ít nhất không “chiến thắng” theo nghĩa quân sự của thế gian.
Trong nhiều thế kỷ, đối với Cơ Đốc nhân, thập tự giá là biểu tượng của đức tin. Thật khó cho Cơ Đốc nhân thế kỷ hai mươi mốt hiểu được ý tưởng về một Đức Chúa Trời bị đóng đinh trên thập tự giá đã điên rồ thế nào đối với tâm trí thế kỷ thứ nhất.
Tuy nhiên, chính vì đây là một sứ điệp gây chấn động như vậy nên nó đáng để chúng ta suy ngẫm cách sâu sắc nhất. Hình ảnh Đấng Mê-si bị đóng đinh khiến cho toàn vũ trụ thấy rõ Đức Chúa Trời sẵn lòng đi xa đến mức nào để hoàn tất kế hoạch cứu chuộc. Chính ý tưởng về thập tự giá, và về việc Chúa chết trên thập tự giá, đã đủ làm chúng ta, những tội nhân trên đất, kinh ngạc. (Hãy tưởng tượng điều đó hẳn có ý nghĩa thế nào đối với những tạo vật vô tội, những đấng đã biết và thờ phượng Chúa Giê-su trên thiên đàng!)
Đọc Công vụ 13:16–47 (đặc biệt là các câu 26, 38 và 47). Phân đoạn này dạy chúng ta điều gì về ý nghĩa của Thập Tự Giá?
Phao-lô nói Đấng Christ đã sai ông đi rao giảng phúc âm. Vì vậy, Phao-lô rao giảng sứ điệp về Đấng Mê-si bị đóng đinh trên thập tự giá (1 Cô-rinh-tô 1:23). Ông tiếp tục những ý tưởng này trong 1 Cô-rinh-tô 2:1–5. Vị sứ đồ trung tín với sự ủy thác của Đấng Christ. Khi rao giảng phúc âm, ông không dùng “lời nói cao xa hay sự khôn ngoan” (1 Cô-rinh-tô 2:1); thay vào đó, ông chỉ tập trung vào “Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” (1 Cô-rinh-tô 2:2). Lời nói và sứ điệp của ông “chẳng phải bằng diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra của Thánh Linh và quyền phép” (1 Cô-rinh-tô 2:4), vì thật ra, “sự khôn ngoan của loài người” tương phản rõ rệt với “quyền phép của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 2:5).
Đấng Mê-si bị đóng đinh là điều hoàn toàn ngoài mong đợi của người Do Thái và người Hy Lạp. Điều này cho chúng ta biết gì về sự thật rằng Đức Chúa Trời không luôn hành động theo cách chúng ta mong đợi? Tại sao đây là một khái niệm quan trọng cần nắm vững, đặc biệt khi mọi việc không diễn ra như chúng ta kỳ vọng?
Trong 1 Cô-rinh-tô 1:19, 20, 30 và 31, Phao-lô nói về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của loài người khác nhau một cách lạ lùng, vì vậy, chúng loại trừ nhau. Hãy chú ý rằng Phao-lô không bác bỏ sự khôn ngoan nói chung, nhưng ông bác bỏ loại khôn ngoan của loài người cố gắng cạnh tranh với Đức Chúa Trời, và không có khả năng giải phóng con người khỏi tội lỗi. Chỉ Đấng Christ, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, mới có thể thực hiện công việc này. Hãy xem bảng dưới đây.
nhưng về phần chúng ta, là kẻ được cứu | [sứ điệp của Thập Giá] là quyền phép của Chúa Trời | 1 Cô-rinh-tô 1:18 |
nhưng đối với những người được gọi | Đấng Christ [là] quyền phép của Chúa Trời | 1 Cô-rinh-tô 1:24 |
Cả 1 Cô-rinh-tô 1:18 và 1 Cô-rinh-tô 1:24 đều cho thấy Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời, theo nghĩa Ngài có quyền năng cứu con người khỏi tội lỗi . Thật vậy, “Đức Chúa Trời đành lòng dùng sự giảng rồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin” (1 Cô-rinh-tô 1:21). Các cụm từ “chúng ta, là kẻ được cứu” (1 Cô-rinh-tô 1:18), “những người tin” (1 Cô-rinh-tô 1:21), và “những người được gọi” (1 Cô-rinh-tô 1:24) đều nói đến cùng một nhóm người, tức là những người đang sống trong kinh nghiệm cứu rỗi bởi đức tin. “Tin Lành của Đấng Christ . . . là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Rô-ma 1:16).
Đấng Christ không chỉ là quyền phép mà còn là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Nghĩa là qua Ngài, Đức Chúa Trời đã đối diện và giải quyết vấn đề tội lỗi. Sự khôn ngoan của thế gian không thể làm cho con người biết Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 1:21). Trái lại, qua Đấng Christ, chúng ta trở nên khôn ngoan để được cứu rỗi (2 Ti-mô-thê 3:15).
Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:24–29. Hãy chú ý những từ trong đó, như “dại dột,” “yếu đuối,” “quyền phép,” và “khôn ngoan.” Qua những từ này, Phao-lô muốn nhấn mạnh điều gì?
Khi đọc 1 Cô-rinh-tô 1:24–29, chúng ta chú ý đến các thuật ngữ dại dột (hoặc sự dại dột) và yếu đuối (hoặc sự yếu đuối). Sự khôn ngoan của loài người có thể xem sứ điệp của Thập Giá là dại dột và yếu đuối. Tuy nhiên, “sự dồ dại của Đức Chúa Trời là khôn sáng hơn người ta, và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta” (1 Cô-rinh-tô 1:25). Điều này không có nghĩa Đức Chúa Trời yếu đuối hay dại dột; đó chỉ là một cách diễn đạt cho thấy quyền phép và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời vượt xa mọi điều thuộc về loài người.
Hãy suy ngẫm lời này: “Trong anh em chẳng có nhiều kẻ khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng được gọi” (1 Cô-rinh-tô 1:26). Có sứ điệp nào ở đây cho chúng ta?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Calvary,” tr. 741–757, trong The Desire of Ages.
“Đối với tâm trí của nhiều người đang sống trong thời hiện tại, thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha được bao quanh bởi những ký ức thiêng liêng. Những mối liên tưởng thánh khiết gắn liền với cảnh tượng đóng đinh. Nhưng trong thời của Phao-lô, thập tự giá bị xem với cảm giác ghê tởm và kinh khiếp. Việc tôn cao một người đã chết trên thập tự giá như là Cứu Chúa của nhân loại đương nhiên sẽ khơi dậy sự chế giễu và chống đối.
“Phao-lô biết rõ sứ điệp của ông sẽ được cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp tại Cô-rinh-tô xem như thế nào. . . . Giữa những thính giả Do Thái của ông, có nhiều người sẽ tức giận bởi sứ điệp ông sắp công bố. Theo sự đánh giá của người Hy Lạp, lời ông nói sẽ là sự dại dột vô lý. Ông sẽ bị xem là người thiếu khôn ngoan khi cố gắng chứng minh rằng thập tự giá có thể liên hệ đến sự nâng cao nhân loại hoặc sự cứu rỗi của loài người.
“Nhưng đối với Phao-lô, thập tự giá là đối tượng duy nhất đáng quan tâm hơn hết. Từ khi ông bị chặn lại trong hành trình bắt bớ những người theo Đấng Na-xa-rét bị đóng đinh, ông không bao giờ ngừng khoe mình trong thập tự giá. Lúc ấy, ông đã được ban cho sự mặc khải về tình yêu vô hạn của Đức Chúa Trời, như được bày tỏ trong sự chết của Đấng Christ; và một sự biến đổi kỳ diệu đã xảy ra trong đời sống ông, khiến mọi kế hoạch và mục đích của ông hòa hợp với thiên đàng. . . . Bằng kinh nghiệm cá nhân, ông biết rằng khi một tội nhân đã nếm biết tình yêu của Chúa Cha, được bày tỏ trong sự hy sinh của Con Ngài, và đầu phục ảnh hưởng thiên thượng, thì một sự thay đổi trong lòng diễn ra, và từ đó trở đi Đấng Christ là tất cả và trong tất cả.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 245, 246.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
BÀI HỌC 1 | 27 Tháng 6 – 3 Tháng 7
Kinh Thánh Nghiên Cứu: 1 Cô-rinh-tô 1:1, Ga-la-ti 1:1, Công vụ 17:16–34, 1 Cô-rinh-tô 5:9–11, Công vụ 18:4–10, 2 Cô-rinh-tô 2:4.
Câu Gốc: “Ban đêm, Chúa phán cùng Phao-lô trong sự hiện thấy rằng: Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh; ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì ta có nhiều người trong thành nầy” (Công vụ 18:9, 10).
Phao-lô, Sứ Đồ Của Chúa Giê-su, Được Kêu Gọi
Phao-lô bắt đầu thư gửi cho người Cô-rinh-tô bằng cách tự nhận mình là sứ đồ của Chúa Giê-su, được gọi “theo ý muốn Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 1:1; so sánh với 2 Cô-rinh-tô 1:1). Niềm tin của ông về việc ông là ai trong mối liên hệ với Chúa Giê-su vững chắc đến nỗi, ngoại trừ vài trường hợp, đây là cách ông mở đầu tất cả các thư của mình.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:1 và Rô-ma 1:1. Hai yếu tố nào trong chức vụ của Phao-lô được nhấn mạnh trong các câu Kinh Thánh này? (Xem thêm Ga-la-ti 1:1).
Phao-lô nói về sự kêu gọi và chức vụ sứ đồ của mình như là sự làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời. Ông tin chắc rằng sự kêu gọi của mình không đến từ loài người nhưng đến từ Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 1:1). Phao-lô được Đức Chúa Trời kêu gọi từ trong lòng mẹ như Giê-rê-mi (Giê-rê-mi 1:5), là một hành động của ân điển Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 1:15), và điều đó xảy ra để ông rao giảng phúc âm của Đấng Christ giữa vòng dân ngoại.
Trong 1 Cô-rinh-tô 15:8, Phao-lô kể mình vào số những người mà Đấng Christ đã hiện ra sau sự Phục Sinh (1 Cô-rinh-tô 15:5–7). Vài câu sau đó, ông ngụ ý rằng sự kêu gọi để làm sứ đồ của mình là kết quả của cuộc gặp gỡ ấy với Chúa Giê-su (1 Cô-rinh-tô 15:9–11).
Danh hiệu “sứ đồ của Chúa Giê-su” bao hàm một loạt ý nghĩa. Trước hết, danh hiệu ấy truyền đạt ý tưởng về một người được Chúa Giê-su sai đi. Tuy nhiên, Phao-lô cũng dùng cụm từ này để xác định mình là tôi tớ của Đấng Christ (Rô-ma 1:1, Tít 1:1, Ga-la-ti 1:10), cũng là người giảng đạo và giáo sư (1 Ti-mô-thê 2:7, 2 Ti-mô-thê 1:11). Dù Phao-lô rao giảng hay dạy dỗ, Đấng Christ luôn luôn được bày tỏ. Tóm lại, Phao-lô là sứ đồ của Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su không chỉ là trung tâm của chức vụ sứ đồ của Phao-lô; Ngài còn là trung tâm của đời sống Phao-lô. Tư tưởng và cảm xúc của Phao-lô đầy dẫy sự hiện diện của Chúa Giê-su. Bằng chứng về điều này là ông nhắc đến Chúa Giê-su nhiều lần trong phần mở đầu và phần tạ ơn của 1 Cô-rinh-tô (chín lần trong chín câu). Phao-lô yêu Chúa Giê-su quá nhiều đến nỗi ông không thể ngừng suy nghĩ và nói về Ngài. Ông muốn chia sẻ Chúa Giê-su với những người dưới sự chăm sóc của mình để đời sống họ cũng đặt Đấng Christ làm trung tâm. Trong khi ông được kêu gọi làm sứ đồ, thì họ được kêu gọi làm những môn đồ trung tín của Chúa Giê-su trong bất cứ khả năng nào mà Chúa đã kêu gọi họ.
Phao-lô được kêu gọi làm sứ đồ. Sự kêu gọi của bạn là gì, và làm sao bạn biết đó là sự kêu gọi của mình? Nếu bạn nghĩ mình không có sự kêu gọi nào, tại sao ngay bây giờ không đến cầu xin Ngài chỉ cho bạn công việc Ngài đã chọn để bạn làm?
Đọc Công vụ 17:16–34. Phao-lô đã ở đâu trước khi đến Cô-rinh-tô, và ông đã làm gì tại đó?
Công vụ 17:16–34 mô tả việc Phao-lô rao giảng cho người A-thên trước khi ông đến Cô-rinh-tô. Dường như ông không dự định đến A-thên vào lúc ấy, nhưng vì sự chống đối mà ông đã gặp phải tại Bê-rê, nên vài người bạn đã đưa ông đến đó (Công vụ 17:13–15).
Những người đưa Phao-lô đến A-thên trở về Bê-rê với lời dặn rằng Ti-mô-thê và Si-la phải đến với ông càng sớm càng tốt (Công vụ 17:15). Công vụ 17:16–34 nói về những gì Phao-lô đã làm trong khi chờ họ. Ông nói về Chúa Giê-su trong nhà hội, ngoài chợ và tại A-rê-ô-ba. Ông thật sự không thể ngừng nói về Chúa Giê-su và đã tận dụng mọi cơ hội để làm điều đó.
Đọc Công vụ 18:1–11. Phao-lô làm gì khi đến Cô-rinh-tô và trong suốt thời gian ông ở lại thành ấy?
Phao-lô đến Cô-rinh-tô trong hành trình truyền giáo thứ hai của mình. Lu-ca cho chúng ta biết rằng Phao-lô ở đó một năm sáu tháng.
Như thường lệ, Phao-lô bắt đầu hoạt động truyền giáo của mình tại nhà hội (Công vụ 18:4–6). Công vụ 17:1, 2 cho biết đây là thói quen của ông. Ông theo chiến lược “cho người Giu-đa trước hết” (Rô-ma 1:16, Công vụ 13:46), đúng như Chúa Giê-su đã truyền cho các sứ đồ của Ngài (xem Công vụ 1:8).
Cuối cùng, khi Si-la và Ti-mô-thê đến với ông tại Cô-rinh-tô, Phao-lô “hết lòng chuyên lo về sự giảng dạy, làm chứng với người Giu-đa rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Christ” (Công vụ 18:5). Trong thời gian ở tại Cô-rinh-tô, ông bận rộn “dạy đạo Đức Chúa Trời” (Công vụ 18:11). Chính trong bối cảnh này, ông cũng bày tỏ những lời nổi tiếng rằng ông “ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” (1 Cô-rinh-tô 2:2).
Chúng ta có thể học được gì từ hoạt động truyền giáo của Phao-lô tại A-thên và Cô-rinh-tô? Điều gì khiến việc chia sẻ phúc âm trong các thành phố và cộng đồng của chúng ta ngày nay trở nên đầy thách thức? Làm sao chúng ta có thể chia sẻ phúc âm cách thành công tại những nơi khó khăn này? Chúng ta có thể học được những chiến lược nào từ hoạt động truyền giáo của Phao-lô để thực hiện điều đó một cách tốt nhất?
Đọc Công vụ 18:1–3, 1 Cô-rinh-tô 5:9–11 và 1 Cô-rinh-tô 8:4. Chúng ta có thể suy ra điều gì về kinh tế, đạo đức và đời sống tôn giáo tại Cô-rinh-tô?
Cô-rinh-tô là một trung tâm quan trọng của thế giới cổ đại, nổi tiếng về thương mại thịnh vượng. Thành bị La Mã phá hủy vào năm 146 TCN và được Julius Caesar xây dựng lại như một thuộc địa La Mã vào năm 44 TCN. Chính Cô-rinh-tô La Mã này xuất hiện trong Tân Ước. Vào thời Phao-lô, Cô-rinh-tô là một trong những đối thủ của A-thên và thậm chí đã vượt trội hơn A-thên về nhiều phương diện. Cô-rinh-tô có hai hải cảng quan trọng, giúp cho việc trao đổi hàng hóa và phát triển thương mại trở nên dễ dàng.
Thật vậy, Phao-lô chọn Cô-rinh-tô vì tầm quan trọng và vị trí địa lý thuận lợi của thành ấy. “Như vậy, một cơ hội đã được mở ra cho việc truyền bá phúc âm. Một khi được thiết lập tại Cô-rinh-tô, phúc âm sẽ dễ dàng được truyền đạt đến mọi nơi trên thế giới.”—Ellen G. White, Sketches From the Life of Paul, tr. 99.
Ngoài ra, thương mại phồn thịnh của Cô-rinh-tô giúp Phao-lô dễ dàng tự nuôi mình bằng cách làm và bán trại trong khi rao giảng phúc âm tại thành ấy (Công vụ 18:2, 3). Rõ ràng, công việc truyền giáo trong một thành phố lớn và giàu có không hề thiếu thách thức. Cô-rinh-tô nổi bật với tình trạng đa thần giáo công khai (1 Cô-rinh-tô 8:5), thể hiện qua nhiều đền miếu được xây để tôn kính các thần như Apollo, Athena, Aphrodite, cùng nhiều thần khác, thậm chí thờ cả các thần Ai Cập như Serapis và Isis.
Bên cạnh sự hỗn loạn tôn giáo này, Cô-rinh-tô cũng nổi tiếng về sự buông thả tình dục. Strabo, một nhà địa lý và sử học Hy Lạp, đề cập rằng có 1,000 gái mại dâm “thánh” dâng mình cho việc thờ phượng Aphrodite trong đền thờ nữ thần này tại Cô-rinh-tô. Dù nhiều học giả nhìn nhận điều này với sự hoài nghi và cho rằng lời tuyên bố ấy bắt nguồn từ tuyên truyền của người A-thên chống lại Cô-rinh-tô, nhưng mại dâm mang tính nghi lễ vẫn phổ biến trong thế giới cổ đại. Sự gian dâm là một vấn đề tại Cô-rinh-tô, cũng như ở nhiều nơi khác. Thờ hình tượng và sự vô luân là một phần của đời sống hằng ngày, và thực trạng đáng buồn này giải thích phần lớn nội dung của 1 và 2 Cô-rinh-tô.
Trong hoạt động truyền giáo tại Cô-rinh-tô, Phao-lô đối diện với thách thức của một xã hội thờ hình tượng và phóng túng. Những thách thức nào trong văn hóa ngày nay có thể khiến việc rao giảng phúc âm trở nên khó khăn? Chúng ta có thể vượt qua bằng cách nào? Nếu có, giữa Cô-rinh-tô và các thành phố của chúng ta ngày nay khác biệt nhiều đến mức nào?
Đọc Công vụ 18:4–8. Kết quả của việc rao giảng của Phao-lô là gì?
Công việc của Phao-lô giữa vòng người Giu-đa tại Cô-rinh-tô không kết quả như ông mong muốn. Ông phải đối diện với sự thù nghịch và căm ghét. Kinh Thánh nói rằng “chúng chống cự và khinh dể người” (Công vụ 18:6). Khi đối tượng của động từ Hy Lạp blasphēmeō (“nói phạm thượng”) là một con người, thì từ ấy có nghĩa là “mắng nhiếc” hoặc “vu khống.” Nói cách khác, họ có ý định làm hoen ố danh tiếng của Phao-lô và ngăn cản ông thành công trong những nỗ lực truyền giáo của mình.
May thay, công việc của Phao-lô trong nhà hội Cô-rinh-tô không vô ích. Suy cho cùng, Đức Chúa Trời đang điều hành sứ mạng này. Ngài đã hứa: “[Lời Ta] chẳng trở về luống nhưng” (Ê-sai 55:11). Một số người Giu-đa không ngờ rằng Cơ-rít-bu, chủ nhà hội, cùng cả nhà mình tiếp nhận Chúa Giê-su là Đấng Mê-si và chịu phép báp-tem (Công vụ 18:8). Ngoài ra, “nhiều người Cô-rinh-tô từng nghe Phao-lô giảng, cũng tin và chịu phép báp-tem” (Công vụ 18:8), rất có thể là do ảnh hưởng của Cơ-rít-bu.
Đọc Công vụ 18:9, 10. Chúng ta có thể suy ra điều gì về cảm xúc của Phao-lô trước những thách thức tại Cô-rinh-tô? Đức Chúa Trời đã khích lệ tôi tớ Ngài như thế nào?
Ngay sau khi Phao-lô rời nhà hội, ông có một kinh nghiệm đem lại sự khích lệ. Chính Đấng Christ hiện ra với ông ban đêm trong sự hiện thấy, với những lời gợi nhớ trong Ê-sai 41:10: “Đừng sợ, vì ta ở với ngươi.” Thật vậy, Phao-lô thừa nhận rằng ông ở tại Cô-rinh-tô “trong sự yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm” (1 Cô-rinh-tô 2:3). Ông đã phải rời Bê-rê để đến A-thên vì sự chống đối dữ dội. Dường như ông nghĩ rằng mình cũng sẽ phải rời Cô-rinh-tô vì cùng lý do: sự chống đối lớn lao. Nhưng lần này điều đó đã không xảy ra. Chúa Giê-su phán với ông: “Ta có nhiều người trong thành nầy” (Công vụ 18:10). Và Phao-lô là công cụ của Ngài để đem tin tức về sự cứu rỗi đến cho họ.
Đọc Ê-sai 41:10. Đức Chúa Trời ban cho bạn những lời hứa tuyệt vời nào trong câu này? Những lời hứa ấy đem lại cho bạn hy vọng nào ngay lúc này trong đời sống bạn?
Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:11–13; 1 Cô-rinh-tô 4:14; 1 Cô-rinh-tô 5:11; 1 Cô-rinh-tô 7:1; và 1 Cô-rinh-tô 14:37, 40. Cũng đọc 2 Cô-rinh-tô 1:12, 2 Cô-rinh-tô 2:9, 2 Cô-rinh-tô 11:3 và 2 Cô-rinh-tô 13:10. Những câu Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu như thế nào về lý do Phao-lô viết thư cho người Cô-rinh-tô?
Phao-lô đang ở Ê-phê-sô khi ông viết 1 Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 16:5–9). Người nhà của Cơ-lô-ê đến báo cho ông biết rằng tình hình tại Cô-rinh-tô không được tốt lắm (1 Cô-rinh-tô 1:11). Trong 1 Cô-rinh-tô 1–6, Phao-lô giải quyết những vấn đề do người nhà Cơ-lô-ê đem đến. Các vấn đề bao gồm bè phái, gian dâm, kiện tụng và mại dâm. Phao-lô cũng nhận được một bức thư với những câu hỏi cụ thể (1 Cô-rinh-tô 7:1). Câu trả lời của ông kéo dài từ chương 7 trở đi. Các câu hỏi liên quan đến hôn nhân, ly dị, độc thân, thức ăn cúng thần tượng, cách cư xử trong sự thờ phượng, việc sử dụng các ân tứ thuộc linh và sự hiểu sai về sự sống lại. Hội thánh Cô-rinh-tô có rất nhiều vấn đề và còn non nớt. Có lẽ hội thánh địa phương của bạn cũng có nhiều vấn đề. Tuy nhiên, hội thánh tại Cô-rinh-tô có lẽ còn tệ hơn.
Thư thứ nhất của Phao-lô gửi cho người Cô-rinh-tô cũng rất liên quan đến thời đại chúng ta. Rốt cuộc, chẳng phải ở một mức độ nào đó, chúng ta cũng đang đối diện với một số vấn đề tương tự trong nhiều hội thánh ngày nay sao? Bức thư này có nhiều điều để nói với chúng ta. Đó là “một trong những bức thư phong phú nhất, có tính giáo huấn nhất, mạnh mẽ nhất trong tất cả các thư của ông.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 301.
Phao-lô có thể đã viết ba hoặc bốn bức thư cho người Cô-rinh-tô (so sánh với 2 Cô-rinh-tô 10:9). Ông viết một bức thư đầu tiên trước thư 1 Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 5:9), nhưng thư ấy đã thất lạc. Trước thư 2 Cô-rinh-tô, ông viết một bức thư mà các học giả gọi là “bức thư nghiêm khắc” (2 Cô-rinh-tô 2:3, 4, 9; 2 Cô-rinh-tô 7:8), nhưng thư ấy cũng đã thất lạc. Một số người cho rằng ông đang đề cập đến thư 1 Cô-rinh-tô, hoặc bức thư ấy được lưu giữ một phần trong các thư 2 Cô-rinh-tô.
Từ 2 Cô-rinh-tô, chúng ta nhận ra rằng các tín hữu tại Cô-rinh-tô bị ảnh hưởng bởi văn hóa xung quanh. Họ coi trọng những điều như sự cạnh tranh, quyền lực và giàu có, tất cả đều là những điều cũng có thể thách thức hội thánh chúng ta ngày nay. Ngược lại, Phao-lô tìm cách tạo dựng một văn hóa đặt Đấng Christ làm trung tâm, một cách nhìn thế giới qua lăng kính của phúc âm. Thật quan trọng biết bao khi chúng ta cũng nhìn thế giới hiện tại qua lăng kính của phúc âm.
Đọc lại 2 Cô-rinh-tô 2:4. Câu này nói gì với bạn về việc Phao-lô quan tâm đến những người này nhiều như thế nào? Ngược lại, trong lòng bạn có bao nhiêu tình yêu thương dành cho người khác?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Corinth,” tr. 243–254, trong The Acts of the Apostles.
“Trong khi rao giảng phúc âm tại Cô-rinh-tô, vị sứ đồ đã theo một phương cách khác với cách ông đã thực hiện tại A-thên. . . . Ông quyết định tránh những lập luận và tranh luận cầu kỳ, và ‘chẳng biết sự gì’ giữa vòng người Cô-rinh-tô ‘ngoài Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên thập tự giá.’ ”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 244.
“Phao-lô đã có một mức độ thành công,” nhưng ông “nghi ngờ sự khôn ngoan của việc xây dựng một hội thánh từ những con người mà ông tìm thấy tại đó. Ông xem Cô-rinh-tô là một cánh đồng lao động rất đáng ngờ, và quyết định rời khỏi nơi ấy. . . .
“Khi ông đang suy nghĩ về việc rời thành ấy để đến một cánh đồng có triển vọng hơn, . . . Chúa hiện ra với ông trong sự hiện thấy ban đêm và phán: ‘Đừng sợ chi; song hãy nói, . . . vì ta có nhiều người trong thành nầy.’ Phao-lô hiểu đây là mạng lệnh phải ở lại Cô-rinh-tô, và là sự bảo đảm rằng Chúa sẽ làm cho hạt giống đã gieo được gia tăng. . . . Một hội thánh lớn đã được ghi danh dưới ngọn cờ của Đức Chúa Giê-su Christ.”—Ellen G. White, Sketches From the Life of Paul, tr. 106, 107.
“Kinh Thánh ghi lại rằng Phao-lô đã làm việc một năm sáu tháng tại Cô-rinh-tô. Tuy nhiên, những nỗ lực của ông không chỉ giới hạn trong thành ấy. . . . Ông đặt Cô-rinh-tô làm trụ sở chính. . . . Nhờ đó, nhiều hội thánh đã được thành lập. . . . Sự vắng mặt của Phao-lô đối với các hội thánh ông chăm sóc được bù đắp phần nào bằng những thư tín có sức ảnh hưởng lớn và đầy quyền năng, thường được tiếp nhận như lời của Đức Chúa Trời. . . . Những thư tín này được đọc trong các hội thánh.”—Ellen G. White, Sketches From the Life of Paul, tr. 109.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: