CÂU GỐC: “Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép; vì những lời này đều trung tín và chơn thật” (Khải-huyền 21:5).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 2 Phi-e-rơ 3:13; Khải huyền 21:3, 22; 1 Giăng 3:2, 3; 1 Phi-e-rơ 1:22; Ê-sai 25:8; Khải huyền 22:3–5.
Kinh Thánh mang lại cho chúng ta hy vọng này: “Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở” (2 Phi-e-rơ 3:13).
Tuy nhiên, với một số người, lời hứa về một “trời mới đất mới” (Khải huyền 21:1) có vẻ như là một điều viển vông, những chuyện bày ra bởi nhà cầm quyền gợi hy vọng về một thế giới bên kia để giữ quần chúng trong khuôn phép. Ý họ có là: Dù hiện tại bạn đang gặp khó khăn, một ngày nào đó bạn sẽ có phần thưởng trên trời, hoặc tương tự.
Và dầu một số người tuy có tư tưởng ấy khi họ lạm dụng niềm hy vọng tương lai trình bày trong Kinh Thánh, việc lạm dụng của họ không thay đổi sự thật của những lời hứa mà chúng ta có về trời mới và đất mới.
Trong những ngày cuối cùng, những kẻ nhạo báng sẽ chế giễu niềm hy vọng ân điển của chúng ta (2 Phi-e-rơ 3:3–7). Nhưng sự chế giễu của họ, đúng như dự đoán, có thể được coi là thêm bằng chứng cho những gì Kinh Thánh nói là đúng, vì họ đang chế giễu đúng như lời Kinh Thánh dự đoán.
Trong tuần này, chúng ta sẽ suy ngẫm về lời hứa vẻ vang về một trời mới và đất mới, bao gồm đền thờ trên trời, sự hiện diện của Đức Chúa Trời, sự kết thúc của sự chết và nước mắt — và sau cùng, sự chiến thắng tối thượng của tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
Với những người theo triết học Hy Lạp, họ cho rằng cái gì vật chất đều là xấu. Đó là lý do tại sao đối với họ, họ khó tưởng tượng ra một thiên đường thật với những con người thật trong tương lai. Theo tư tưởng này, để có thể trở thành thiên đường và tốt đẹp, nó phải là một trạng thái tinh thần thuần túy, không có tì vết trong thế giới vật chất ở đây. Nếu một cái gì đó là vật chất, họ khẳng định, nó không thể là tinh thần; và nếu một cái gì đó là tinh thần, nó không thể là vật chất. Ngược lại, Kinh Thánh nói về thiên đàng theo những thuật ngữ cụ thể nhưng không có những giới hạn do sự hiện diện của tội lỗi gây ra.
Đọc Ê-sai 65:17–25; Ê-sai 66:22, 23; 2 Phi-e-rơ 3:13; và Khải huyền 21:1–5. Thông điệp cuối cùng của những đoạn văn này là gì?
Sách Ê-sai cung cấp những cái nhìn thú vị về trái đất sẽ như thế nào nếu Y-sơ-ra-ên là một quốc gia trung thành với giao ước của họ với Đức Chúa Trời (Ê-sai 65:17–25; Ê-sai 66:22, 23; so sánh với Phục truyền 28). Toàn bộ môi trường với những biểu hiện khác nhau của sự sống sẽ ngày càng phát triển theo kế hoạch ban đầu của Đức Chúa Trời, tức là trước khi tội lỗi xâm nhập.
Tuy nhiên, kế hoạch ấy đã không xảy ra như mong đợi. Sau đó, một kế hoạch mới đã được thiết lập, nhưng giờ đây với hội thánh, gồm người Do Thái và người ngoại từ mọi quốc gia (Ma-thi-ơ 28:18–20, 1 Phi-e-rơ 2:9). Các lời tiên tri của Ê-sai thế nên phải được đọc lại từ quan điểm của hội thánh (2 Phi-e-rơ 3:13, Khải huyền 21:1–5).
“Theo Kinh Thánh, cơ nghiệp của những người được cứu gọi là “quê hương” (Hê-bơ-rơ 11:14–16). Nơi đây, Đấng Chăn chiên sẽ dẫn bầy Ngài đến suối nước sự sống. Cây sự sống ra trái mỗi tháng, và lá cây được dùng cho lợi ích muôn dân. Những giòng suối không bao giờ ngưng chảy, trong như lưu ly, và hai bên bờ suối những cành cây đong đưa, phủ bóng xuống các con đường dọn sẵn cho người được chuộc. Nơi đây, những đồng bằng trải dài khoe nét đẹp, và đồi núi chập chùng với ngọn vươn cao vút. Chính trên những đồng bằng an bình, bên cạnh những giòng suối trong vắt, dân sự Đức Chúa Trời từ lâu là kẻ lữ hành sẽ tìm được một tổ ấm.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 597, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Nhiều tác giả thế tục, không có hy vọng về sự vĩnh cửu như được trình bày trong Kinh Thánh, đã than thở về sự vô nghĩa của sự hiện sinh của con người. Dù họ đã nghĩ sai về tương lai, nhưng tại sao lại khó tranh luận với quan điểm của họ về sự vô nghĩa của một đời người không có hy vọng cho tương lai? Mang câu trả lời của bạn đến lớp vào ngày Sa-bát.
Một số người nghĩ rằng thiên đường chính là đền thánh của Đức Chúa Trời. Nhưng sách Khải huyền đề cập đến một nơi thánh/đền thờ cụ thể trong Giê-ru-sa-lem Mới, nơi có ngai của Đức Chúa Trời và có biển pha lê (Khải huyền 4:2–6, Khải huyền 7:9–15, Khải huyền 15:5–8). Ở đó, vô số thánh đồ từ mọi quốc gia, chi phái, dân tộc và ngôn ngữ sẽ thờ phượng Đức Chúa Trời mãi mãi (Khải huyền 7:9–17).
So sánh Khải huyền 7:9–15 với Khải huyền 21:3, 22. Làm thế nào chúng ta có thể hòa hợp lời mô tả về “vô số” những người được chuộc hầu việc Đức Chúa Trời “ngày đêm hầu việc Ngài trong đền Ngài” (Khải huyền 7:15) với lời Giăng tuyên bố rằng “tôi không thấy đền thờ nào” trong Giê-ru-sa-lem Mới (Khải huyền 21:22)?
Đền Thánh trên trời/đền thờ luôn là nơi các cơ binh trên trời thờ phượng Đức Chúa Trời. Nhưng với sự xuất hiện của tội lỗi, đền thánh đó cũng trở thành nơi mà từ đó sự cứu rỗi được ban cho nhân loại. “Khi vấn đề tội lỗi kết thúc, đền thánh trên trời sẽ một lần nữa trở lại chức năng ban đầu. Trong Khải huyền 21:22, Giăng viết rằng ông không còn thấy đền thờ trong thành thánh nữa, vì Đức Chúa Trời Toàn Năng và Chiên Con là đền thờ của nơi ấy. Như vậy, có phải điều đó có nghĩa là sẽ không còn nhà Chúa, nơi mà các tạo vật có thể đến và thông công với Ngài? Dĩ nhiên là không!” — Richard M. Davidson, “The Sanctuary: ‘To Behold the Beauty of the Lord,’ ” The Word: Searching, Living, Teaching, tập 1, trang 31.
Sách Khải huyền dành sự quan tâm đặc biệt đến Đấng đang được thờ phượng và những người đang thờ phượng Ngài. Sự thờ phượng trên trời này tập trung vào Đức Chúa Trời và Chiên Con (Khải huyền 5:13, Khải huyền 7:10). Đúng vậy, Đấng Christ luôn luôn là trọng tâm của sự thờ phượng.
Những người thờ phượng là những người đã “ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con” (Khải huyền 7:14). Họ là những nhân chứng sống về quyền năng cứu chuộc và biến đổi của Đức Chúa Trời. Họ hát ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài là Chúa và những gì Ngài đã làm cho họ.
Khải huyền 21:3 ghi lại: “Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng.” Những câu này phản ánh nhiều câu Kinh Thánh khác (Giê-rê-mi 32:38, Ê-xê-chi-ên 37:27, Xa-cha-ri 8:8, Hê-bơ-rơ 8:10). Điều đó có nghĩa gì đối với chúng ta lúc này, khi vẫn còn sống trên địa cầu, rằng Đức Chúa Trời sẽ là Đức Chúa Trời của chúng ta, và chúng ta sẽ là dân sự Ngài? Chúng ta sẽ trải nghiệm sự thật tuyệt vời này ra sao?
Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời “ở nơi sự sáng không thể đến gần được” (1 Ti-mô-thê 6:16), và “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời” (Giăng 1:18, 1 Giăng 4:12). Có phải điều ấy có nghĩa là các thánh đồ trên trời sẽ không bao giờ nhìn thấy Đức Chúa Trời Cha chúng ta? Dĩ nhiên là không phải vậy. “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời” nói về loài người sau Sự Sa Ngã, vì có nhiều dấu hiệu trong Kinh Thánh cho thấy các thánh sẽ thực sự nhìn thấy Ngài trên thiên đàng.
Đọc Ma-thi-ơ 5:8; 1 Giăng 3:2, 3; và Khải huyền 22:3, 4. Những câu Kinh Thánh này cho chúng ta biết gì về đặc ân tối cao được nhìn thấy Đức Chúa Trời?
Cùng một sứ đồ Giăng, người đã tuyên bố rằng “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời” (Giăng 1:18, 1 Giăng 4:12) cũng tuyên bố rằng chúng ta “sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy” (1 Giăng 3:2, 3) và “sẽ được thấy mặt Chúa” (Khải huyền 22:3, 4). Cũng đáng tranh luận xem những đoạn văn này đề cập đến Đức Chúa Trời Cha hay về Đấng Christ. Nhưng mọi nghi ngờ đều biến mất với lời tuyên bố của chính Đức Chúa Giê-su Christ, “Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 5:8). Thật là một đặc ân cho những người được cứu chuộc vì họ sẽ được thờ phượng Đức Chúa Trời trong đền thờ của Ngài! Nhưng đặc ân tối cao của tất cả là được nhìn thấy dung nhan Ngài.
“Dân sự Đức Chúa Trời được phép thông công mật thiết với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. “Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương cách mập mờ” (1 Cô-rinh-tô 13:12). Chúng ta thấy hình ảnh Đức Chúa Trời phản chiếu như trong một cái gương, qua thiên nhiên và mối tương quan với loài người; nhưng sau đó, chúng ta sẽ thấy Ngài mặt đối mặt, không có bức màn mờ ảo ở giữa. Chúng ta sẽ ở trước sự hiện diện của Ngài, chiêm ngưỡng sự vinh hiển của gương mặt Ngài.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 598, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Trong một số câu Kinh Thánh nghiên cứu hôm nay chúng ta hãy để ý mối liên hệ giữa “lòng trong sạch” và việc “thấy Đức Chúa Trời”. Người “trong sạch trong lòng” sẽ nhìn thấy Đức Chúa Trời; người sẽ thấy Đức Chúa Trời “thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch” (1 Giăng 3:3). Điều mà những câu này tiết lộ là Đức Chúa Trời phải làm việc trong chúng ta lúc này ngay bây giờ để giúp chúng ta chuẩn bị cho thiên đàng.
Mặc dù cuối cùng, đặc ân được vào thiên đàng của chúng ta đã được bảo đảm qua sự chết của Đức Chúa Giê-su, chúng ta sẽ trải qua một quá trình thanh lọc ở đây và bây giờ để giúp chúng ta chuẩn bị cho ngôi nhà vĩnh cửu. Và tâm điểm của tiến trình thanh lọc là sự vâng phục Lời Ngài.
Đọc 1 Phi-e-rơ 1:22. Câu Kinh Thánh này cho chúng ta thấy mối liên hệ giữa sự vâng lời và sự thanh lọc như thế nào? Có cái gì về sự vâng lời giúp chúng ta được thanh lọc? Cụ thể, Phi-e-rơ nói sự vâng lời của chúng ta sẽ được thể hiện như thế nào?
Học thuyết về một linh hồn bất tử, phải chịu đựng mãi mãi trong một địa ngục luôn thiêu đốt, mâu thuẫn với lời dạy trong Kinh Thánh rằng sẽ có trời mới và đất mới.
“sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa” (Khải huyền 21:4). Nếu giả thuyết về một địa ngục thiêu đốt vĩnh viễn là đúng, thì “cái chết thứ hai” sẽ không xóa bỏ tội lỗi và tội nhân khỏi vũ trụ mà chỉ giam họ trong một địa ngục vĩnh cửu đau khổ và khóc than. Và hơn thế nữa: trong trường hợp này, vũ trụ sẽ không bao giờ được phục hồi hoàn toàn về sự hoàn hảo ban đầu của nó. Nhưng hãy ngợi khen Đức Chúa Trời rằng Kinh Thánh đã vẽ nên một bức tranh hoàn toàn khác!
Đọc Ê-sai 25:8, Khải huyền 7:17 và Khải huyền 21:4. Những câu Kinh Thánh này có thể mang lại cho chúng ta niềm an ủi và hy vọng nào giữa những thử thách và đau khổ của thế giới hiện tại này?
Cuộc sống có thể rất khó khăn, không công bằng và tàn nhẫn. Chúng ta có những người thân thương đã bị cái chết lạnh lùng cướp đi một cách khủng khiếp. Hoặc có những người bước vào cuộc đời chúng ta thật tế nhị, chiếm lấy trái tim của chúng ta, rồi sau đó bỏ đi như thể người không quen biết. Thật đau đớn biết bao khi bị phản bội bởi một người mà chúng ta đã yêu thương và tin tưởng.
Có những khoảnh khắc, với trái tim tan vỡ, chúng ta thậm chí có thể tự hỏi cuộc đời có đáng sống hay không. Tuy nhiên, bất kể nỗi buồn của chúng ta ra sao, Đức Chúa Trời luôn mong muốn lau đi những dòng lệ tràn trên má chúng ta. Nhưng một số giọt nước mắt nặng nề nhất của chúng ta sẽ tiếp tục chảy cho đến ngày vinh quang, khi cái chết, nỗi buồn thương và sự khóc lóc sẽ không còn nữa (Khải huyền 21:1–5).
Chúng ta có thể tin tưởng rằng trong sự phán xét cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ đối xử công bằng và yêu thương đối với mỗi cá nhân. Tất cả những người thân yêu của chúng ta đã chết trong Đấng Christ sẽ từ kẻ chết sống lại để ở với chúng ta trong suốt cõi đời đời. Những người không xứng đáng được sống vĩnh cửu cuối cùng sẽ không còn tồn tại, mà không cần phải sống trong một thiên đường “khó chịu” hoặc trong một địa ngục luôn cháy. Niềm an ủi lớn nhất của chúng ta đến từ cách Chúa đối xử công bằng với mọi người. Khi cái chết dứt khoát không còn tồn tại, những người được cứu chuộc sẽ vui mừng reo lên, “Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu?” (1 Cô-rinh-tô 15:54, 55).
Chúa đã hứa rằng trong trời mới và đất mới mà Ngài sẽ tạo ra, “những việc trước sẽ chẳng nhớ nữa, chẳng còn nhắc đến nữa” (Ê-sai 65:17). Điều này không có nghĩa là thiên đàng sẽ là nơi mất trí nhớ, mà là quá khứ sẽ không làm mất đi niềm vui lâu dài trên thiên đàng.
Ai đã chẳng từng cảm thấy sự tàn phá bất công trên sự tồn tại của con người ở đây? Trong những giai đoạn bất hạnh đó, làm thế nào chúng ta có thể học cách tin cậy, và khả dĩ vui mừng trước sự tốt lành và tình yêu thương của Đức Chúa Trời?
Đọc Khải huyền 22:3–5. Làm sao chúng ta có thể yên tâm rằng chúng ta sẽ ở trong số những người sẽ được ghi tên Đức Chúa Trời trên trán?
Sau cuộc nổi loạn của Lu-xi-phe và sự sa ngã của A-đam và Ê-va, Đức Chúa Trời có thể đã tiêu diệt hai tội nhân. Tuy nhiên, như một biểu hiện của tình yêu vô điều kiện đối với các tạo vật của Ngài, Đức Chúa Trời đã thiết lập một kế hoạch nhân từ để cứu tất cả những ai chấp nhận những gì Ngài ban. Đây là “kế hoạch cứu rỗi”, mặc dù đã hiện sinh trước khi sáng thế (Ê-phê-sô 1:3, 4; 2 Ti-mô-thê 1:9; Tít 1:2; Khải huyền 13:8), nhưng lần đầu được giới thiệu với nhân loại tại vườn Ê-đen, ngay sau sự sa ngã. Sau đó, nó được tiết lộ thêm qua các hình và bóng của nơi lễ bái cho người Hê-bê-rơ (Xuất Ê-díp-tô Ký 25). Và sau đó nó được thể hiện trọn vẹn nhất trong cuộc đời, sự chết và sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su (xem Rô-ma 5).
Trung tâm của kế hoạch cứu rỗi là lời hứa về sự sống đời đời, dựa trên công đức của Chúa Giê-su, cho tất cả những ai chấp nhận, bởi đức tin, sự ban cho tuyệt vời được cung cấp tại thập tự giá. Trước thập tự giá, sau thập tự giá — sự cứu rỗi luôn luôn là bởi đức tin, và không bao giờ bởi việc làm, cho dù nhiều công việc là một biểu hiện của sự cứu rỗi của chúng ta.
Phao-lô viết về Áp-ra-ham, người đã sống rất lâu trước khi Đấng Christ đến lần thứ nhất, như một tấm gương về sự cứu rỗi bởi đức tin: “Thật thế, nếu Áp-ra-ham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì có cớ khoe mình; nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy. Vì Kinh thánh có dạy chi? Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người” (Rô-ma 4:2,3). Làm thế nào những câu này giúp chúng ta hiểu được sự cứu rỗi bởi đức tin là gì?
Do đó, chúng ta có thể có được bảo đảm về sự cứu rỗi nếu chúng ta đã tin nhận Đức Chúa Giê-su, đầu phục Ngài, và xưng nhận những lời hứa của Ngài, kể cả những lời hứa về một đời sống mới trong Ngài bây giờ, và nếu chúng ta hoàn toàn dựa vào công đức của Ngài chứ không phải điều gì khác. Áp-ra-ham tin, và người được coi là công bình; đối với chúng ta cũng vậy.
Vậy đây là ý nghĩa của việc ghi tên Ngài trên trán của chúng ta. Nếu chúng ta đã viết tên Ngài lên trán rồi và không quay lưng lại với Ngài, thì nó cũng sẽ được viết ở đó trên trời mới và đất mới.
“Thập tự giá của Đấng Christ sẽ là khoa học và bài ca của những người được chuộc trong cõi đời đời. Trong Đấng Christ vinh hiển họ chiêm ngưỡng Đấng Christ bị đóng đinh. Không bao giờ nên quên rằng Đấng có quyền sáng tạo và nâng đỡ vạn vật trong không gian bao la, là Con Yêu dấu của Đức Chúa Trời, Vua của thiên đàng, Đấng mà các chê-ru-bim và sê-ra-phin sáng láng thích tôn thờ—đã hạ mình để nâng cao loài người sa ngã; gánh lấy tội lỗi và sự sỉ nhục, Cha Ngài che dấu mặt đi, cho đến chừng những cảnh khốn đốn của thế gian làm tan nát tâm hồn Ngài, và hủy hoại mạng sống Ngài trên thập tự giá ở núi Sọ. Tất cả việc này sẽ luôn luôn kích thích sự ngạc nhiên và chiêm ngưỡng của vũ trụ; Đấng Sáng tạo vũ trụ, Đấng Trung bảo cho loài người, đã bỏ sự vinh hiển mình, nhận lấy sự sỉ nhục chỉ vì yêu thương nhân loại.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 575, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
“Cuộc thiện ác đấu tranh vĩ đại đã chấm dứt. Tội lỗi và kẻ có tội không còn nữa. Toàn thể vũ trụ được thanh lọc. Mọi loài thọ tạo cùng nổi lên một nhịp điệu hòa hợp và hoan hỉ. Từ Ngài là Đấng tạo ra muôn vật, sự sống, ánh sáng và sự vui mừng tuôn tràn ra khắp không gian vô tận. Từ một nguyên tố nhỏ nhất đến một thế giới vĩ đại nhất, mọi vật sống động hay bất động, trong nét đẹp và niềm vui trọn vẹn, đều đồng thanh tung hô: ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ SỰ YÊU THƯƠNG!” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 600, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước toà án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt” (2 Cô-rinh-tô 5:10).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Ma-thi-ơ 25:31–46; Đa-ni-ên 7:9–14; 1 Cô-rinh-tô 6:2, 3; 2 Phi-e-rơ 2:4–6; Ma-la-chi 4:1; Khải huyền 21:8.
Nếu Kinh Thánh có bày tỏ rõ ràng về một điều gì thì đó là sự phán xét. Đức Chúa Trời sẽ phán xét thế gian. Cựu ước và Tân ước viết rất nhiều và rất rõ ràng về điều này.
Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời có “trí huệ trọn vẹn” (Gióp 37:16) và “biết cả mọi sự” (1 Giăng 3:20), kể cả những ý định bí mật nhất của chúng ta (Truyền đạo 12:14, Giê-rê-mi 17:10). Chúng ta có thể trốn lánh mọi người và mọi điều khác, nhưng không có gì che giấu trước mặt Đức Chúa Trời.
Thực trạng này ngụ ý là Ngài không cần sự phán xét để biết cuộc đời của mỗi cá nhân. Sự phán xét của Đức Chúa Trời thực ra là một giúp đỡ thiên thượng, được thực hiện vì lợi ích của các tạo vật của Ngài, cả trên trời và dưới đất. Quá trình này có tính chất lịch sử — vũ trụ bởi vì Lu-xi-phe bắt đầu cuộc nổi loạn của mình trên thiên đàng và sau đó lan rộng xuống thế giới này (Khải huyền 12:7–9).
Trong tuần này, chúng ta sẽ xem xét ba giai đoạn chính của quá trình phán xét vào thời kỳ cuối cùng: sự phán xét trước tái lâm, sự phán xét ngàn năm, và thi hành sự phán xét. Toàn bộ quá trình kết thúc với sự minh oan cho người công chính và cái chết thứ hai của kẻ ác.
Với nhiều người, khi nghĩ về sự phán xét họ nghĩ đến sự buộc tội hay lên án. Và mặc dù đó là một phần của quá trình, chúng ta đừng quên rằng sự phán xét cũng có một mặt khả quan của nó, đó là sự minh oan cho người công bình. Thực ra, sách Đa-ni-ên đề cập đến sự phán xét vào thời kỳ cuối cùng “sự xét đoán đã ban cho các thánh của Đấng Rất Cao” (Đa-ni-ên 7:22). Sự phán xét của Đức Chúa Trời bao gồm cả hai — một nguyên tắc được tìm thấy trong văn bản Cựu Ước này: “và thưởng người tùy theo sự công bình của người” (1 Các Vua 8:32).
Đọc Ma-thi-ơ 25:31–46 và Giăng 5:21–29. Đức Chúa Giê-su Christ chỉ ra các khái niệm về sự lên án và cả sự minh oan trong cuộc phán xét cuối cùng ra sao?
Một số người cho rằng cụm từ “chẳng bị đoán xét” (Giăng 3:18) và “không đến sự phán xét” (Giăng 5:24) có nghĩa là những người ở trong Đấng Christ sẽ không bị xét đoán gì cả. Nhưng những câu này ngụ ý rằng những người tin Chúa không bị kết án trong cuộc phán xét. Do đó, các bản văn nên được hiểu là “chẳng bị kết án” (Giăng 3:18) và “không đến sự kết án” (Giăng 5:24).
Tóm lại, số phận của chúng ta được định đoạt trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Những người ở trong Đấng Christ có sự bảo đảm sẽ được minh oan trong ngày phán xét, và những người không ở trong Đấng Christ tiếp tục dưới sự buộc tội. Khi mô tả sự phán xét (Ma-thi 25:31–46), Đấng Christ đã đề cập đến sự hiện diện không chỉ của dê (gian ác) mà cũng cả của chiên (công bình). Và sứ đồ Phao-lô đã tuyên bố một cách rõ ràng, “Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt” (2 Cô-rinh-tô 5:10).
Trong khi suy ngẫm về sự phán xét, chúng ta nên nhớ rằng chúng ta được cứu bởi ân điển (Ê-sai 55:1, Ê-phê-sô 2:8–10), được xưng công bình bởi đức tin (Sáng thế Ký 15:6, Rô-ma 5:1), và bị phán xét bởi việc làm (Truyền đạo 12:14, Ma-thi-ơ 25:31–46, Khải huyền 20:11–13). Nền tảng của quá trình phán xét là luật đạo đức của Đức Chúa Trời, được tóm tắt trong Mười Điều Răn (Truyền đạo 12:13, 14; Gia-cơ 1:25; Gia-cơ 2:8–17). Việc làm của chúng ta là bằng chứng bên ngoài về sự chân thật của kinh nghiệm cứu rỗi của chúng ta và đó là các yếu tố được cân nhắc vào lúc phán xét.
Hãy nhớ rằng: không có sắc lệnh độc đoán nào từ Đức Chúa Trời chọn người này được cứu, người kia bị hư mất. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức đối với số phận của mình.
Cuối cùng, sự phán xét không phải là lúc Đức Chúa Trời quyết định chấp nhận hay từ chối chúng ta, mà là lúc Đức Chúa Trời quyết định về sự lựa chọn của chúng ta rằng chúng ta có chấp nhận Ngài hay không — một sự lựa chọn được thể hiện qua việc làm của chúng ta.
Khái niệm về sự xét đoán trước khi Đức Chúa Giê-su tái lâm (tiền tái lâm) được tìm thấy tại nhiều nơi trong Kinh Thánh.
Đọc Đa-ni-ên 7:9–14; Ma-thi-ơ 22:1–14; Khải huyền 11:1, 18, 19; và Khải huyền 14:6, 7. Làm thế nào những phân đoạn này làm sáng tỏ khái niệm về một điều tra phán xét trước ngày tái lâm tại toà án trên trời? Ý nghĩa của sự đoán xét ấy là gì?
Khái niệm về một cuộc điều tra – phán xét cho dân sự Đức Chúa Trời trước tái lâm được dựa trên ba sự dạy dỗ cơ bản trong Kinh Thánh.
(1) Thứ nhất là quan niệm cho rằng tất cả những người chết – dù công bình hay bất chính – vẫn vô thức trong mồ chôn của họ cho đến khi có sự phục sinh cuối cùng (Giăng 5:25–29).
(2) Thứ hai là sự hiện hữu của một phán xét phổ quát cho tất cả nhân loại (2 Cô-rinh-tô 5:10, Khải huyền 20:11–13).
(3) Thứ ba là sự kiện sự sống lại đầu tiên sẽ là phần thưởng phước hạnh cho người công bình, và sự sống lại thứ hai sẽ là sự chết đời đời cho kẻ ác (Giăng 5:28, 29; Khải huyền 20:4–6, 12–15).
Điều này có nghĩa là nếu tất cả loài người sẽ bị đoán xét, họ sẽ được xét đoán trước khi họ được phục sinh, bởi vì tại lúc phục sinh đó, họ sẽ nhận được phần thưởng cuối cùng của mình.
Sách Đa-ni-ên giúp chúng ta hiểu về thời gian và bản chất của cuộc phán xét trước tái lâm ấy. Vào cuối 2.300 ngày tượng trưng — vào năm 1844 — nơi thánh trên trời sẽ được thanh sạch (Đa-ni 8:14, so sánh với Hê-bơ-rơ 9:23) và cuộc điều tra phán xét trước khi tái lâm sẽ bắt đầu (Đa-ni-ên 7:9–14). Đó là hai cách khác nhau để diễn đạt cùng một sự kiện. Và sự phán xét là “ban cho các thánh của Đấng Rất Cao” (Đa-ni-ên 7:22). Đó là tin tốt cho dân sự của Đức Chúa Trời.
Trong Ma-thi-ơ 22:1–14, Đức Chúa Giê-su nói về một cuộc điều tra về những người khách dự tiệc cưới trước khi tiệc cưới thực sự bắt đầu.
Và trong sách Khải huyền, cuộc điều tra phán xét trước tái lâm được đề cập đến qua nhiệm vụ đo “những kẻ thờ lạy tại đó” trong đền thờ của Đức Chúa Trời (Khải huyền 11:1), và trong thông báo rằng “giờ phán xét của Ngài đã đến” (Khải huyền 14:6, 7; so sánh với Khải huyền 14:14–16).
Kiến thức của chúng ta về sự phán xét trên trời sẽ ảnh hưởng như thế nào đến cách chúng ta sống ở trên đất này?
Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng vào lúc tái lâm (1) các thánh đang sống và các thánh được sống lại “tại nơi không trung mà gặp Chúa” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16, 17); (2) tất cả các thánh sẽ được đưa lên trời để cùng vào “chỗ ở” trên thiên đàng, nơi mà chính Ngài đã chuẩn bị cho họ (Giăng 14:1–3); và (3) chỉ vào cuối thiên niên kỷ (một ngàn năm), Giê-ru-sa-lem Mới sẽ xuống trái đất này và trở thành quê hương đời đời của các thánh đồ (Khải huyền 21:1–3, 9–11). Vì vậy, trong suốt một ngàn năm, trong khi trái đất này vẫn còn hoang vu, các thánh đồ sẽ trị vì với Đấng Christ trên trời (Giê-rê-mi 4:23, Khải huyền 20:4).
Đọc 1 Cô-rinh-tô 6:2, 3 và Khải huyền 20:4–6, 11–13. Tại sao các thánh đồ lại tham gia vào cuộc phán xét ngàn năm?
Toàn bộ quá trình phán xét nhằm mục đích (1) để minh oan cho đức tính của Đức Chúa Trời trước những cáo buộc của Sa-tan rằng Đức Chúa Trời không công bằng trong cách Ngài đối xử với các tạo vật của Ngài; (2) để xác nhận sự không thiên vị trong việc ban thưởng cho những người công bình; (3) để chứng minh sự công bằng trong các hình phạt cho kẻ ác; và (4) để làm tiêu tan mọi nghi ngờ có thể dẫn đến một cuộc nổi loạn khác trong vũ trụ. Trong cuộc điều tra phán xét tiền tái lâm của người công bình, chỉ có các cơ binh trên trời mới được tham gia (Đa-ni-ên 7:9, 10). Nhưng trong cuộc phán xét ngàn năm đối với kẻ ác và các thiên thần sa ngã, chính các thánh đồ cũng sẽ tham gia (1 Cô-rinh-tô 6:3, Giu-đe 6, Khải huyền 20:4–6).
Sự điều tra phán xét tiền tái lâm bắt đầu vào năm 1844 khi “các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng cổ ngồi ở trên . . . và các sách mở ra” (Đa-ni-ên 7:9, 10). Tuy nhiên, sự phán xét ngàn năm sẽ bắt đầu sau khi các thánh đồ được đưa lên thiên đàng và ngồi trên ngai, và quyền xét đoán được dành cho họ. Một lần nữa, các sách trên trời được mở ra và những người chết “bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy” (Khải huyền 20:4, 12). Quá trình này tạo cơ hội cho các thánh đồ kiểm điểm các hồ sơ trên trời và thấy được sự đối xử công bằng của Đức Chúa Trời trong mọi trường hợp. Ngài không chỉ ban thưởng cho những ai đáng được ban thưởng tùy theo những gì chính họ quyết định hay lựa chọn, mà còn giải thích cho họ tại sao Ngài làm như vậy.
Chúng ta học được gì về đức tính của Đức Chúa Trời rằng trước khi bất kỳ ai trong số những kẻ hư mất đang chết được sống lại để đối mặt với cái chết thứ hai, những người được cứu sẽ tham gia vào quá trình xét xử, và không ai bị trừng phạt cho đến khi kể cả chúng ta cũng nhìn thấy được công lý và sự công bằng của Chúa? Mang câu trả lời của bạn đến lớp vào ngày Sa-bát.
Có một xu hướng mạnh mẽ vào thời Trung cổ là mô tả Đức Chúa Trời như một vị Thẩm phán nghiêm khắc, hay trừng phạt. Khuynh hướng thời đại này thì mô tả Ngài như một người Cha nhân từ, nhân nhượng và không bao giờ trừng phạt con cái Ngài. Tuy nhiên, tình yêu mà không có công lý sẽ trở thành hỗn loạn và vô luật pháp, và công lý mà không có tình yêu sẽ trở thành áp bức và chế ngự. Quá trình phán xét của Đức Chúa Trời là sự kết hợp hoàn hảo giữa công lý và lòng thương xót, cả hai đều xuất phát từ tình yêu thương vô điều kiện của Ngài.
Khi thi hành sự phán xét thì sự trừng phạt cuối cùng là không thể đảo ngược của Đức Chúa Trời trong lịch sử loài người. Những phán xét trừng phạt có giới hạn đã xảy ra, chẳng hạn như khi Sa-tan và các thiên sứ nổi loạn của hắn bị đuổi ra khỏi thiên đàng (Khải huyền 12:7–12), A-đam và Ê-va đuổi ra khỏi vườn Ê-đen (Sáng thế Ký 3), trận Đại hồng thủy (Sáng thế Ký 6–8), sự hủy diệt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sáng thế Ký 19, Giu-đe 7), cái chết của con đầu lòng ở Ai Cập (Xuất Ê-díp-tô Ký 11–12), và cái chết của A-na-nia và Sa-phi-ra (Công vụ 5:1–11). Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi cũng sẽ có một sự thi hành phán xét đối với những kẻ ác vào cuối lịch sử nhân loại.
Đọc 2 Phi-e-rơ 2:4–6 và 2 Phi-e-rơ 3:10–13. Những câu Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu tính chất của sự thi hành phán xét cuối cùng ra sao? Những câu nầy có ngụ ý gì về việc sự phán xét được hoàn tất, trái ngược với ý tưởng rằng sự phán xét sẽ tiếp tục mãi mãi — một méo mó của công lý chứ không phải là một biểu hiện của công lý?
“Sự nhân từ và sự nhẫn nhịn lâu dài của Đức Chúa Trời, sự kiên nhẫn và lòng thương xót của Ngài bày tỏ đối với dân sự Ngài, sẽ không cản trở việc Ngài trừng phạt tội nhân, những người từ chối tuân theo các mạng lịnh của Ngài. Làm sao con người — một tội nhân chống lại luật thánh của Đức Chúa Trời, được ân xá nhờ sự hy sinh lớn lao mà Ngài đã thực hiện qua sự chết thay của con Ngài cho kẻ có tội vì luật pháp của Ngài không thay đổi — lại có thể ra lệnh cho Đức Chúa Trời.” — Ellen G. White, Manuscript Releases, bộ 12, trang 208.
Tất cả những gì Đức Chúa Trời có thể làm để cứu nhân loại khỏi bị hư mất đời đời, Ngài đã làm, ngay cả khi chính Ngài phải trả giá rất đắt. Những người lầm lạc đã có những lựa chọn dẫn họ đến kết cục đáng tiếc này. Ý tưởng rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với người bị mất, thậm chí là sự hủy diệt của người bị mất (trái ngược với sự đau khổ vĩnh viễn), đi ngược lại đặc tính của một Đức Chúa Trời yêu thương là hoàn toàn sai. Chính tình yêu của Đức Chúa Trời và chỉ tình yêu đó đòi hỏi sự công bằng.
Chính Thập tự giá dạy chúng ta điều gì về những gì Đức Chúa Trời sẵn sàng làm để cứu tất cả những người sẽ được cứu?
Đức Chúa Trời đang hướng dẫn lịch sử nhân loại tiến tới thời kỳ then chốt cuối cùng của nó. Vào cuối thiên niên kỷ, tất cả những kẻ ác đã chết được sống lại từ mồ mả của họ để nhận bản án trừng phạt cuối cùng (Khải huyền 20:5, 11–15). Sau đó, khi toàn bộ quá trình xét xử hoàn tất và không thể thêm được gì khác, kẻ ác sẽ thừa nhận công lý của Đức Chúa Trời. “Cuộc thiện ác đấu tranh sẽ được phơi bày rõ ràng, toàn thể vũ trụ, cả người công bình và kẻ phản nghịch đồng tuyên bố, ‘Ôi Vua các thánh, đường lối của Ngài là công bình và chánh trực.’ ” Và “Giờ đây Sa-tan cúi đầu và thú nhận rằng bản án dành cho nó là công bình.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 593, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Đọc Ma-la-chi 4:1; Khải huyền 20:14, 15; và Khải huyền 21:8. “Hồ lửa” và “sự chết thứ hai” sẽ hiệu quả như thế nào?
Sự hủy diệt cuối cùng của Sa-tan và các sứ của hắn và tất cả những kẻ ác sẽ làm sạch vũ trụ khỏi tội lỗi và hậu quả của nó. Nhưng ngay cả sự hủy diệt cuối cùng của kẻ ác cũng là một hành động của tình yêu thương của Đức Chúa Trời, không chỉ đối với các thánh đồ mà còn đối với chính kẻ ác. Họ thà chết chứ không muốn sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, Đấng là “ngọn lửa thiêu đốt” tội lỗi (Hê-bơ-rơ 12:29).
“Họ mong ước được trốn khỏi nơi thánh ấy. Họ muốn sự hủy diệt để tránh khỏi mặt Đấng đã chết để cứu chuộc họ. Chính những kẻ ác đã chọn lấy số phận mình. Họ đã tình nguyện mất thiên đàng, và Đức Chúa Trời đã hành động cách công bình và thương xót.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 479, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Do đó, sự huỷ diệt cuối cùng của tội lỗi và tội nhân — trái ngược với lý thuyết không có trong Kinh Thánh về những đọa đày vĩnh viễn của họ trong địa ngục — cung cấp một hình phạt công bằng và tương xứng cho bất cứ điều gì ác nhân đã vi phạm. Điều này cũng xác nhận rằng tội lỗi có lúc bắt đầu và sẽ có hồi kết thúc. Sau đó toàn bộ vũ trụ sẽ trở lại sự hoàn hảo ban đầu của nó, trước khi tội lỗi, điều ác và sự bất tuân phát sinh một cách bí ẩn và không có bất kỳ sự biện minh nào.
Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời rằng Ngài, là “Quan xét công bình” của chúng ta (2 Ti-mô-thê 4:8), sẽ đưa ra quyết định công bằng là Ngài ban sự bất tử cho người trung chính, và sự hủy diệt đời đời cho kẻ ác.
Có gì sai lầm trong ý nghĩ rằng Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ cứu mọi người? Tại sao đó lại là một ý tưởng tồi tệ?
“Trong ngày phán xét cuối cùng, mọi linh hồn lạc lối sẽ hiểu được bản chất của sự từ chối lẽ thật của chính mình. Thập tự giá sẽ được trình bày, và hình ảnh thực sự của nó sẽ được nhìn thấy bởi mọi tâm trí đã bị mờ ám vì tội lỗi. Hướng nhìn về đồi Gô-gô-tha với Nạn nhân bí ẩn của nó, tội nhân sẽ bị kết án. Mọi lời bào chữa dối trá sẽ bị cuốn trôi. Sự bội đạo của con người sẽ xuất hiện trong tính cách ghê tởm của nó. Người ta sẽ thấy sự lựa chọn của họ là gì. Mọi câu hỏi về lẽ thật và sự sai lầm trong cuộc tranh chấp lâu dài sau đó sẽ được làm sáng tỏ. Trong sự phán xét của vũ trụ, Đức Chúa Trời sẽ không bị đổ lỗi cho sự tồn tại hay tiếp tục của điều ác. Nó sẽ được chứng minh rằng các sắc lệnh thiên thượng không phải là tòng phạm cho tội lỗi. Không có khiếm khuyết nào trong vương quốc của Đức Chúa Trời, không có lý do gì gây ra sự bất mãn. Khi mọi suy tư của tất cả trái tim sẽ được tiết lộ, cả người trung thành và kẻ phản nghịch sẽ hợp nhất để tuyên bố rằng: ‘Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chơn thật! Lạy Chúa, ai là kẻ không kính sợ, và không ngợi khen danh Ngài? . . . vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra’ (Khải huyền 15:3, 4.)” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 58.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến!” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Lu-ca 2:52; Ma-thi-ơ 4:23; 1 Cô-rinh-tô 6:19, 20; Thi thiên 24:3, 4; Công vụ 8:4–24; 1 Giăng 3:1–3.
Sách Khải huyền nói về hai sự kiện chính sẽ xảy ra trên toàn cầu, trước khi Đấng Christ tái lâm. Khải huyền 13 mô tả sự phổ biến trên toàn cầu của sai lầm, khi “cả thế giới” sẽ ngạc nhiên và làm theo con thú lên từ biển (Khải huyền 13:3, 7, 8, 12, 16). Khải huyền 14 nêu lên sự lan rộng trên toàn cầu của lẽ thật, khi “Phúc Âm đời đời” sẽ được rao giảng “cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc” (Khải huyền 14:6, 7). Trong những “thời kỳ khó khăn” đó (2 Ti-mô-thê 3:1), “chiều gió của đạo lạc” sẽ thổi (Ê-phê-sô 4:14) và mọi người sẽ “bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn” (2 Ti-mô-thê 4:4). “Chính bởi hai điểm sai lầm lớn lao, sự tin vào thuyết linh hồn bất tử và ngày Chủ nhật thánh khiết, mà Sa-tan lừa dối loài người. Điểm thứ nhất đặt nền tảng cho phong trào vong hồn hiện thuyết, điểm thứ hai thiết lập mối tình cảm với La Mã.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 518. Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Cho đến khi những sự kiện cuối cùng này diễn ra, trong khi chúng ta trông cậy vào sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh để giúp chúng ta sẵn sàng cho sự tái lâm vinh hiển của Đấng Christ, chúng ta phải giữ vững niềm tin vào tất cả lẽ thật mà chúng ta có, kể cả lẽ thật về bản chất của con người và sự chết.
Đọc Lu-ca 2:52. Câu này đề cập đến bốn khía cạnh nào về sự trưởng thành của Đức Chúa Giê-su?
Đức Chúa Giê-su là Con Người hoàn hảo, và sự trưởng thành của Ngài bao gồm tất cả các cơ bản của sự tồn tại của con người. Theo Lu-ca 2:52, “Đức Chúa Giê-su khôn ngoan (mặt trí tuệ) càng thêm, thân hình (mặt thể chất) càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời (mặt thuộc linh) và người ta (mặt xã hội)”. “Tâm trí Ngài hoạt động và hiểu sâu, với một sự chu đáo và khôn ngoan quá tuổi của Ngài. Tuy nhiên, cá tính của Ngài đẹp ở sự cân xứng của nó. Sức mạnh của tâm trí và cơ thể phát triển phù hợp với quy luật của thời thơ ấu. Khi còn nhỏ, Đức Chúa Giê-su đã biểu lộ tính cách đáng yêu đặc biệt. Đôi tay của Ngài luôn sẵn sàng phục vụ người khác. Ngài thể hiện một sự kiên nhẫn không gì có thể làm phiền, và một sự chân thật không bao giờ hy sinh sự chính trực. Với nguyên tắc vững chắc như một tảng đá, cuộc đời của Ngài bộc lộ sự dịu dàng của một lịch sự không vị kỷ.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 68, 69.
Đọc Ma-thi-ơ 4:23. Làm sao chúng ta có thể tiếp tục thực hiện ba chức vụ của Đức Chúa Giê-su — dạy dỗ, rao giảng, và chữa lành — ngày nay một cách hiệu quả?
Nếu chúng ta công nhận rằng con người là một nhân vật tổng hợp và không thể tách rời, thì chúng ta không thể giới hạn tôn giáo của mình với chỉ những vấn đề thuộc linh mà thôi. Lẽ thật ôm trọn toàn thể con người chúng ta, bao trùm xuyên suốt cuộc đời chúng ta, và bao gồm tất cả các khía cạnh của cuộc sống chúng ta. Các yếu tố thể chất và tinh thần của chúng ta được tích hợp rất chặt chẽ, vững chắc đến độ chúng thực sự không thể tách rời ra. Và mặc dù là những sinh vật sa ngã, chúng ta sẽ không bao giờ được sánh ngang với sự miêu tả về Đức Chúa Giê-su như đã kể trên, chúng ta nhờ ân điển của Đức Chúa Trời để mô phỏng điều đó, bởi vì, để phục hồi trong con người hình ảnh của Đấng Tạo Hoá, để đưa con người trở lại sự hoàn hảo mà họ đã được tạo ra, để thúc đẩy sự phát triển của cơ thể, trí óc và linh hồn — đây là công việc của sự cứu chuộc. Đây là điều Chúa tìm cách thực hiện trong dân sự Ngài như một phần của quá trình chuẩn bị cho sự trở lại của Ngài.
Khi đối chiếu bản thân mình với Đức Chúa Giê-su, chúng ta có thể dễ dàng nản lòng vì sự khác biệt lớn lao. Vậy, nếu chúng ta tập trung vào Thập giá và ý nghĩa của nó, điều ấy có thể bảo vệ chúng ta ra sao để khỏi bị thất vọng trước những gì chúng ta thấy nơi chính mình so với những gì chúng ta thấy nơi Đức Chúa Giê-su?
Thuyết nhị nguyên về một cơ thể hay chết với một linh hồn bất tử đã tạo ra nhiều lý thuyết khác nhau về cơ thể con người. Ví dụ, đối với các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, cơ thể con người là nhà tù của linh hồn và linh hồn được giải phóng bằng cái chết. Nghe theo tiếng vang của quan niệm ngoại giáo này, nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay tin rằng cơ thể là nơi ở tạm thời của linh hồn bất tử, sẽ được tái hòa nhập với cơ thể khi sống lại. Ngược lại, những người theo thuyết đa thần xem thân thể người ta như thần thánh; họ tin rằng Thượng đế và vũ trụ là một và giống nhau. Đối với họ, tất cả mọi vật đều là Thượng đế và cơ thể con người là một phần của một bản thể Thần thánh tổng hợp và phổ quát duy nhất. Bị bao vây bởi những lý thuyết mâu thuẫn về chủ đề này, chúng ta phải đứng vững trên những gì Kinh Thánh dạy về bản chất của con người.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 6:19, 20 và 1 Cô-rinh-tô 10:31. Làm thế nào việc hiểu rằng cơ thể chúng ta là “đền thờ của Đức Chúa Trời” và “đền thờ của Đức Thánh Linh” có thể ảnh hưởng tích cực đến lối sống của chúng ta?
Cả A-đam và Ê-va đều được tạo ra theo hình ảnh và giống như Đức Chúa Trời (Sáng thế Ký 1:26, 27), điều này phản chiếu không những trong tính cách mà trong cả khía cạnh thể xác của họ. Nhưng vì tội lỗi đã làm hoen ố và thậm chí che khuất đi hình ảnh đó, việc cứu chuộc có nhiệm vụ phục hồi con người về trạng thái ban đầu, bao gồm cả sức khỏe thể xác của họ.
Sự phục hồi này là một quá trình trọn đời và sẽ chỉ được hoàn tất khi Đấng Christ tái lâm, khi “thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết” (1 Cô-rinh-tô 15:53, 54).
Sứ đồ Giăng đã viết cho người bạn Gai-út của mình rằng: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy” (3 Giăng 1:2).
Nếu chúng ta chấp nhận rằng con người là một thực thể không thể phân chia, và tôn giáo bao trùm tất cả các khía cạnh của đời sống con người, thì chúng ta nên gìn giữ sức khỏe thể xác mình như một nghĩa vụ tôn giáo. Chúng ta nên được hướng dẫn bởi nguyên tắc được soi dẫn này, “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm” (1 Cô-rinh-tô 10:31). Nhưng hãy nhớ rằng chúng ta vẫn đang sống trong một thế giới nơi những người tốt có thể làm hết sức mình nhưng lại phải gánh chịu hậu quả của bản chất con người tội lỗi và một môi trường tội lỗi. Vì vậy, chúng ta nên tin cậy vào Chúa và cố gắng hết sức mình, và chúng ta giao kết quả trong tay Ngài.
Một số người tin rằng bởi thay đổi môi trường, cá nhân sẽ được biến cải. Chắc chắn vậy, chúng ta nên tránh những nơi và những hoàn cảnh có thể khiến mình dễ bị cám dỗ hơn (Thi thiên 1:1, Châm ngôn 5:1–8). Nhưng vấn đề chúng ta có với cám dỗ và tội lỗi chỉ có thể được giải quyết bằng sự biến cải của tấm lòng (hoặc tâm trí) của chính mình. Đức Chúa Giê-su Christ đã nói đúng vào vấn đề khi Ngài tuyên bố, “Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng” (Mác 7:21, 22). Điều này có nghĩa là tâm trí của chúng ta cần được biến cải để hành vi của chúng ta được thay đổi.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 2:16; Thi thiên 24:3, 4; Rô-ma 12:2; Phi-líp 4:8; và Cô-lô-se 3:2. “Có ý của Đấng Christ” nghĩa là gì?
Đức Chúa Trời đã hứa rằng dưới “Giao ước mới” Ngài sẽ đặt luật pháp Ngài trong trí và vào lòng dân sự Ngài (Giê-rê-mi 31:31–33, so sánh với Hê-bơ-rơ 8:8–10, Hê-bơ-rơ 10:16). Do đó, không có gì ngạc nhiên khi trong Bài giảng Trên Núi, Đấng Christ đã mở rộng và đào sâu ý nghĩa của các điều răn của Đức Chúa Trời đến mức độ chúng bao gồm cả ý tưởng và ý định (xem Ma-thi-ơ 5:17–48). Chúng ta chỉ có thể chiến thắng sự cám dỗ nhờ ân điển cải hóa của Đức Chúa Trời. Vậy nên khi cám dỗ vẫn còn trong ý nghĩ và ý định, chúng ta phải xin đòi lời hứa đó để có thể chận đứng những tư tưởng tội lỗi.
Trong đời sống này, dù có trung tín đến đâu, chúng ta cũng sẽ không bao giờ đạt đến mức hoàn toàn vô tội. Nhưng nếu chúng ta ở trong Đấng Christ, chúng ta được sự công bình của Ngài che chở trọn vẹn. Mặc dù chúng ta chưa hoàn hảo, nhưng chúng ta được coi là đã hoàn hảo trong Ngài (Phi-líp 3:12–15). “Khi chúng ta được kết hợp với Đấng Christ, chúng ta có tâm trí của Đấng Christ. Sự tinh khiết và tình yêu thương tỏa sáng trong phẩm cách; sự hiền hòa và lẽ thật kiểm soát cuộc sống. Sắc mặt của diện mạo cũng được thay đổi. Đấng Christ ở trong tâm hồn có sức mạnh biến cải, và ngoại hình là chứng nhân cho sự bình an và vui thích ngự trị bên trong.” — Ellen G. White, Selected Mesages, tập 1, trang 337.
Chỉ với sự đầu phục mỗi ngày, “cái tôi” chết mỗi ngày, quyết tâm nỗ lực mỗi ngày, bởi đức tin để vâng phục Đức Chúa Giê-su, thì chúng ta mới có thể có được loại biến đổi này trong cuộc sống của mình.
Hãy tưởng tượng cuộc đời bạn ra sao nếu bạn có thể chận lại ngay những ý nghĩ tội lỗi. Cuộc sống của bạn sẽ khác như thế nào? Cách duy nhất để có được kinh nghiệm là gì?
Đức Thánh Linh là Đấng xúc tác quyền năng của Đức Chúa Trời, Đấng đổ tuôn tình yêu thương của Đức Chúa Trời vào lòng chúng ta (Rô-ma 5:5), đưa chúng ta vào kinh nghiệm cứu rỗi thực sự (Giăng 16:7–11), hướng dẫn chúng ta vào tất cả lẽ thật (Giăng 16:13), và cho chúng ta quyền lực để hoàn thành sứ mệnh phúc âm (Công vụ 1:8). Bởi vì chính Đức Thánh Linh làm ngược lại công việc suy đồi thoái hóa của Sa-tan, không có gì ngạc nhiên khi Sa-tan cố gắng bằng mọi cách để bóp méo sự hiểu biết của chúng ta về bản chất và công việc của Ngài. Trong khi có một số người phủ nhận nhân cách của Đức Thánh Linh, thì cũng có những người khác nhấn mạnh đến các ban cho của Ngài trên quyền năng cải hóa của Ngài.
Đọc Công vụ 8:4–24. Thầy phù thủy Si-môn xứ Sa-ma-ri muốn nhận các ân tứ của Đức Thánh Linh dầu chưa được sinh lại bởi Ngài. Chính thái độ này vẫn được thể hiện trong thời đại của chúng ta ra sao?
Con cái của Đức Chúa Trời là những người đang được Đức Thánh Linh hướng dẫn (Rô-ma 8:14) vào tất cả lẽ thật của lời Đức Chúa Trời (Giăng 16:13, Giăng 17:17). Đức Chúa Giê-su đã cảnh báo một cách rõ ràng, “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” (Ma-thi-ơ 7:21–23). Điều này có nghĩa là Đức Thánh Linh không bao giờ hướng dẫn bất cứ ai rời khỏi Lời của Đức Chúa Trời — điều mà chính Ngài đã soi dẫn — nhưng luôn hướng dẫn chúng ta tuân theo Lời đó.
Cùng một Đức Thánh Linh hướng dẫn chúng ta vào với tất cả lẽ thật, Ngài cũng ban sức mạnh cho chúng ta trong việc dẫn dắt người khác đến với lẽ thật tuyệt vời đó (Ma-thi 28:18–20, Công vụ 1:8). Trong khi hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của mình, chúng ta có sự trợ giúp đặc biệt của Ngài. Vì vậy, mỗi sáng sớm, chúng ta phải quỳ gối trước mặt Chúa và tái lập lời thề dâng mình cho Ngài. Nếu chúng ta làm điều này, Ngài sẽ ban cho chúng ta sự hiện diện của Đức Thánh Linh, với quyền năng phục nguyên và thánh hóa của Ngài.
Tuy nhiên, chúng ta phải cởi mở trước sự dẫn dắt của Ngài bằng cách hành động với những lựa chọn có ý thức, từng ngày, để làm những gì chúng ta biết là đúng và tránh những gì chúng ta biết là sai. Có nghĩa là, với sức mạnh Đức Chúa Trời ban cho, nếu chúng ta tìm kiếm cách sống như phải sống, thì chúng ta mới sẵn sàng đón nhận quyền năng đó của Đức Thánh Linh trong cuộc sống của chúng ta, điều mà Đức Chúa Trời hứa.
Tại sao với từng buổi sáng chúng ta cầu nguyện xin được một tấm lòng cởi mở để đón nhận Đức Thánh Linh dẫn dắt trong cuộc sống của chúng ta là điều rất quan trọng?
Chúng ta đang sống trong một thế giới điên cuồng với quá nhiều nhu cầu giả tạo và những thứ hấp dẫn đam mê. Nếu chúng ta không cẩn thận, những thứ này có thể chiếm hết thì giờ và thay đổi cả các ưu tiên của chúng ta. Đây không chỉ là một sản phẩm phụ khác của một thế giới mạng đã được toàn cầu hóa của chúng ta; Cơ Đốc nhân ở mọi thời đại, không ít thì nhiều, phải đề phòng những nỗ lực của Sa-tan nhằm đánh lạc hướng họ khỏi những gì thực sự quan trọng trong cuộc đời này.
Nếu không cẩn thận, ai cũng có thể ở trong vực nguy hiểm khi mắt không hướng về Chúa mà hướng về những điều trần tục, xác thịt, những điều cuối cùng không thể thỏa mãn chúng ta, những điều có thể dẫn đến sự hủy hoại thuộc linh của mình.
Đọc 2 Phi-e-rơ 3:14 và 1 Giăng 3:1–3. Bạn thấy sự khác biệt nào giữa việc chuẩn bị cho sự Chúa tái lâm và sẵn sàng cho sự kiện vinh quang đó?
Nhiều khi có cảm tưởng rằng sự chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại đã và đang tiếp diễn có thể trở thành cái cớ để người ta trì hoãn. Cảm tưởng này sẽ dễ dàng khiến họ cảm thấy thư thả dưới giả thuyết của đầy tớ tà ác, “Chủ ta đến chậm” (Ma-thi 24:48).
Đọc Thi thiên 95:7, 8; Hê-bơ-rơ 3:7, 8, 15; và Hê-bơ-rơ 4:7. Những câu này nói gì với chúng ta về việc sẵn sàng ngay bây giờ?
Từ góc nhìn của Kinh Thánh, thời điểm cứu rỗi luôn là “hôm nay” và không bao giờ là ngày mai (xem Thi thiên 95:7, 8; Hê-bơ-rơ 3:7, 8, 15; Hê-bơ-rơ 4:7). Và hơn vậy: trừ khi có một kinh nghiệm hoán cải lớn lao diễn ra, chúng ta sẽ cứ tiếp tục như hiện tại. Thời gian tự nó không hoán cải một người chưa hoán cải. Nếu có chăng, trừ khi một người tiếp tục tăng trưởng trong ân điển, và tiến bước trong đức tin, còn không thì họ sẽ có khuynh hướng sa ngã, trở nên chai đá, hoài nghi, chê bai, thậm chí không tin tưởng.
Từ khía cạnh này, chúng ta có thể nói rằng mỗi ngày trong cuộc sống của chúng ta là cuộc đời của chúng ta thu nhỏ. Vì vậy, nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta nên lập kế hoạch cho tương lai nhưng nên sống mỗi ngày sẵn sàng cho sự trở lại của Chúa Giê-su — đặc biệt là bởi vì, với những tình huống bất ngờ của cuộc sống này, hôm nay có thể là ngày cuối cùng của bạn.
Làm thế nào bạn có thể sẵn sàng cho sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su nếu Ngài sẽ trở lại hôm nay? Thảo luận câu trả lời của bạn trong lớp vào ngày Sa-bát.
“Cuộc Thiện Ác Đấu Tranh đang đến hồi kết thúc. Mỗi báo cáo về thiên tai trên biển hoặc trên đất là một bằng chứng cho sự thật rằng ngày tận thế của vạn vật đang ở trong tầm tay. Chiến tranh và tin đồn về chiến tranh tuyên bố điều ấy. Có Cơ Đốc nhân nào mà tim không đập nhanh hơn khi họ đoán trước những sự kiện trọng đại đang mở ra trước mắt? không? Chúa đang đến. Chúng ta nghe thấy tiếng bước chân của Chúa đang đến gần.” — Ellen G. White, Maranatha, trang 220.
“Hãy sống đời sống đức tin mỗi ngày. Đừng trở nên âu lo và phiền muộn về thời kỳ khó khăn, vì như vậy có thời gian khó khăn từ trước. Đừng tiếp tục nghĩ, ‘Tôi sợ tôi sẽ không đứng vững trong ngày thử thách lớn.’ Bạn phải sống cho hiện tại, chỉ cho ngày này. Ngày mai không phải của bạn. Hôm nay bạn phải duy trì sự chiến thắng bản thân. Hôm nay bạn phải sống một đời sống cầu nguyện. Hôm nay bạn phải chiến đấu trong cuộc chiến tốt đẹp của đức tin. Hôm nay bạn phải tin rằng Chúa ban phước cho bạn. Và khi bạn giành được chiến thắng trước bóng tối và sự không tin tưởng, bạn sẽ đáp ứng các yêu cầu của Chủ nhân, và sẽ trở thành một phước lành cho những người xung quanh bạn.” — Ellen G. White, Signs of the Times, 20/10/1887.
“Chúa sắp đến, và chúng ta phải chuẩn bị để gặp Ngài trong bình an. Chúng ta hãy quyết tâm làm hết khả năng của mình để truyền lại ánh sáng cho những người xung quanh. Chúng ta không phải buồn, nhưng vui vẻ, và chúng ta muốn giữ Chúa Giê-su luôn ở trước mặt chúng ta . . . Chúng ta phải sẵn sàng và chờ đợi sự xuất hiện của Ngài. Ôi, thật vinh hiển biết bao khi được gặp Ngài, và được chào đón như những người được Ngài cứu chuộc! Chúng ta đã chờ đợi từ lâu, nhưng niềm tin của chúng ta không để trở nên yếu ớt. Nếu chúng ta có thể nhìn thấy Đức Vua trong vẻ đẹp của Ngài, chúng ta sẽ được ban phước mãi mãi. Tôi cảm thấy như thể mình phải khóc lớn, “Bị ràng buộc về nhà.” Chúng ta đang gần đến thời điểm mà Đấng Christ sẽ đến với quyền năng và vinh quang vĩ đại, để đưa những người được chuộc của Ngài về ngôi nhà vĩnh cửu của họ.” — Ellen G. White, Heaven, trang 165, 166.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
CÂU GỐC: “Nào có lạ gì, chính quỉ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng. Vậy thì những kẻ giúp việc nó mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lạ gì; nhưng sự cuối cùng họ sẽ y theo việc làm” (2 Cô-rinh-tô 11:14, 15).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Ma-thi-ơ 7:21–27, Giăng 11:40–44, 1 Phi-e-rơ 3:18, 1 Sa-mu-ên 28:3–25, Ê-phê-sô 6:10–18.
Thế giới hiện đại của chúng ta đã trở thành một nơi pha trộn của những siêu nhiên và huyền bí, với sự hỗ trợ của một Hollywood không ngại ngùng chi khi làm những phim có đề tài tôn giáo hay huyền bí loạn xạ của sai lầm và dối trá. Lời nói láo xưa, “Hai ngươi chẳng chết đâu” (Sáng thế Ký 3:4) cũng đã gây cảm hứng cho một số sách được đọc nhiều nhất, những bộ phim được xem nhiều nhất, và nhiều trò chơi điện tử nổi tiếng trong những thập kỷ qua. Khó có thể phủ nhận rằng chúng ta đang giao tiếp và bị cám dỗ bởi cơ sở mê hoặc của Sa-tan, được xuất hiện dưới vô số hình thức và thậm chí, trong một số trường hợp, có thể ẩn mình trong lớp vỏ của khoa học.
Một trong những hiện tượng lừa đảo nhất là trải nghiệm gọi là “trải nghiệm cận tử”, nơi những người đã “chết” sống lại với những câu chuyện về thế giới bên kia. Nhiều người đã xem những sự kiện này là bằng chứng của một linh hồn bất tử!
Trong tuần này, chúng ta sẽ xem xét một số lừa dối vào thời kỳ cuối, bao gồm thuyết thần bí, trải nghiệm cận tử, luân hồi, chiêu hồn, thờ cúng tổ tiên, và những thứ khác. Đây là những đối tượng nguy hiểm mà chúng ta nên nhận thức mà không để mình bị ảnh hưởng bởi chúng.
Thế giới của chúng ta đã bị tràn ngập bởi những làn sóng thần bí mạnh mẽ. Chữ “thần bí” là một chữ phức tạp bao hàm rất nhiều ý tưởng. Đứng về quan điểm tôn giáo, chữ này ám chỉ sự kết hợp của cá nhân với Thần thánh hoặc Đấng Tuyệt đối trong một số loại kinh nghiệm tâm linh hoặc xuất thần. Đây là đặc tính của sự thờ phượng của một số nhà thờ. Các hiện tượng có thể khác nhau về hình thức và cường độ, nhưng xu hướng luôn là thay thế thẩm quyền của Lời Chúa bằng kinh nghiệm chủ quan của riêng một người. Trong mọi trường hợp, Kinh Thánh mất đi phần lớn chức năng giáo lý của nó, và Cơ Đốc nhân vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm của chính mình. Loại tôn giáo chủ quan này không cung cấp một biện pháp bảo vệ để chống lại bất kỳ sự lừa dối nào, đặc biệt là những sự lừa dối trong thời kỳ cuối cùng.
Đọc Ma-thi-ơ 7:21–27. Dựa theo lời của chính Đức Chúa Giê-su, việc xây cất ngôi nhà thuộc linh của chúng ta “trên đá” hay “trên cát” có nghĩa gì?
Có một khuynh hướng mạnh mẽ trong thế giới Cơ Đốc giáo hậu hiện đại là hạ thấp tầm quan trọng của các giáo lý Kinh Thánh, coi chúng như những tiếng vọng tẻ nhạt của một hình thức tôn giáo lỗi thời. Trong quá trình này, những lời dạy của Đấng Christ được thay thế một cách giả tạo bởi cá nhân của Ngài — ví dụ, họ lập luận rằng một số câu chuyện trong Kinh Thánh không thể là có thật bởi vì Đức Chúa Giê-su, như họ nhận thức về Ngài, sẽ không bao giờ cho phép điều đó xảy ra như đã được viết. Cảm xúc và sở thích cá nhân cuối cùng trở thành tiêu chuẩn để giải thích Kinh Thánh hoặc thậm chí bác bỏ hoàn toàn những gì Kinh Thánh dạy rõ ràng — thường là về sự vâng lời Đức Chúa Trời — điều mà Đức Chúa Giê-su đã nói là rất cần thiết để xây nhà trên đá.
Có nhiều người cho rằng việc họ tin gì trong giáo lý không phải là điều quan trọng, miễn là họ tin vào Đức Chúa Giê-su Christ. Những người này đang ở trong tình trạng nguy hiểm. Các người La Mã chống đối Cải cách giáo lúc xưa đã kết án tử hình vô số người theo đạo Tin Lành, cũng tin vào Đức Chúa Giê-su Christ. Những người đã nhân danh Đấng Christ để “trừ quỷ” (Ma-thi-ơ 7:22) cũng đã tin Ngài vậy. “Một trong những sự lừa dối thành công nhất của Sa-tan là khiến người ta nghĩ rằng điều họ tin tưởng không quan hệ mấy. Hắn biết rằng người nào tiếp nhận lẽ thật bởi lòng yêu thương thì sẽ nhờ đó mà được nên thánh; cho nên hắn luôn luôn cố gắng thay thế lẽ thật bằng những lý thuyết sai lầm, bằng những chuyện huyễn, bằng một tin lành khác.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 459, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Làm thế nào chúng ta có thể chống lại khuynh hướng rất tự nhiên là chúng ta thường để cảm xúc và ham muốn thúc đẩy chúng ta làm những điều trái với Lời Chúa?
Một trong những lập luận hiện đại phổ biến nhất để “chứng minh” lý thuyết về sự bất tử tự nhiên của linh hồn là “trải nghiệm cận tử”. Trong cuốn sách, Live after Live: The Investigation of a Phenomenon – Survival of Bodily Death (Atlanta, GA: Mockingbird, 1975), Raymond A. Moody, Jr., đã trình bày kết quả của cuộc nghiên cứu kéo dài 5 năm với hơn trăm người, những người đã trải qua “cái chết lâm sàng” (clinically dead) và đã được hồi sinh. Những người này tuyên bố đã nhìn thấy một sinh thể yêu thương và ấm áp đầy ánh sáng trước khi sống lại. Đây được xem là “bằng chứng sôi động về sự tồn tại của linh hồn con người sau cái chết” (Bìa sau). Trong những năm qua, nhiều cuốn sách tương tự khác đã được xuất bản, cổ động cùng một ý tưởng (Xem Bài Học 2).
Đọc lại các câu chuyện về sự sống lại trong 1 Các Vua 17:22–24; 2 Các Vua 4:34–37; Mác 5:41–43; Lu-ca 7:14–17 và Giăng 11:40–44. Có chuyện nào thuật lại về bất kỳ người chết nào vẫn còn tri thức trước khi được sống lại? Tại sao câu trả lời của bạn là quan trọng?
Tất cả những kinh nghiệm cận tử được thuật lại trong văn chương hiện đại đều là của những người được coi là chết lâm sàng, nhưng không thực sự chết, trái ngược với La-xa-rơ, người đã chết được bốn ngày và xác đang thối rữa (Giăng 11:39). Cả La-xa-rơ và bất kỳ ai trong số những người sống lại từ cõi chết trong thời Kinh Thánh đều không bao giờ đề cập đến bất kỳ kinh nghiệm nào về thế giới bên kia, cho dù là trong thiên đàng, trong luyện ngục hay trong âm phủ. Đây quả thực là một lập luận từ sự im lặng, nhưng nó hoàn toàn phù hợp với những lời dạy trong Kinh Thánh về tình trạng vô thức của người chết!
Nhưng còn những trải nghiệm “cận kề cái chết” được tường thuật rộng rãi ngày nay thì sao? Nếu chúng ta chấp nhận sự dạy dỗ trong Kinh Thánh về sự vô thức của người chết (Gióp 3:11–13, Thi thiên 115:17, Thi thiên 146:4, Truyền đạo 9:10), thì hai điều chính có thể xảy ra: hoặc đó là ảo tượng tâm lý/hoá chất tự nhiên phát hiện dưới những điều kiện khắc nghiệt; hoặc đó có thể là một khải nghiệm siêu nhiên giả mạo của Sa-tan (2 Cô-rinh-tô 11:14). Sự lừa dối của Sa-tan có thể thực sự là lời giải thích, đặc biệt là vì trong một số trường hợp, những người cận tử này tuyên bố họ được hàn huyên với người thân đã chết của họ! Kinh nghiệm “cận tử” cũng có thể là sự kết hợp của cả hai yếu tố.
Với sự lừa dối này được phổ biến và đã thuyết phục được khá nhiều người, điều quan trọng là chúng ta phải đứng vững trong sự dạy dỗ của Lời Đức Chúa Trời, bất chấp những kinh nghiệm mà chúng ta hoặc những người khác có thể có đi ngược lại với những gì Kinh Thánh dạy.
Trải Nghiệm Cận Tử xem ra rất là lôi cuốn và nay thường đi kèm với dấu ấn của “khoa học”. Chúng ta nên cẩn thận ra sao đối với những thứ mà khoa học cho là “chứng minh”?
Quan niệm của người ngoại giáo về linh hồn bất tử cung cấp nền tảng cho lý thuyết không có trong Kinh Thánh về sự luân hồi hoặc chuyển sinh của linh hồn. Lý thuyết này đã được một số tôn giáo lớn trên thế giới chấp nhận. Trong khi hầu hết các tín đồ Cơ Đốc giáo tin vào sự tồn tại của một linh hồn bất tử hoặc sẽ ở trên thiên đàng hoặc địa ngục vĩnh viễn sau khi chết, những người tin vào sự luân hồi cho rằng một linh hồn bất tử như vậy trải qua nhiều chu kỳ chết và tái sinh ở trên trần gian.
Đối với một số người, luân hồi được xem như là một quá trình tiến hóa tâm linh cho phép tâm linh đạt được ngày càng cao mức độ kiến thức và đạo đức trong hành trình hướng tới sự hoàn thiện. Người theo đạo Hindu tin rằng linh hồn vĩnh cửu trải qua quá trình tiến triển của ý thức hay còn gọi là “luân hồi” ở sáu cấp độ sống: thủy sinh, thực vật, bò sát và côn trùng, chim, thú và con người, bao gồm cả cư dân trên trời.
Đọc Hê-bơ-rơ 9:25–28 và 1 Phi-e-rơ 3:18. Nếu Đức Chúa Giê-su chỉ chết “một lần” (Hê-bơ-rơ 9:28, 1 Phi-e-rơ 3:18) và tương tự như vậy, tất cả loài người chỉ chết “một lần” (Hê-bơ-rơ 9:27), thì tại sao một số người tự xưng là Cơ Đốc lại tin vào luân hồi (qua nhiều hình thức)?
Nhiều người không tin vào những gì họ nên tin mà vào những gì họ muốn tin. Nếu một lý thuyết mang lại cho họ sự bình yên và thoải mái hiện sinh, thì điều đó đủ rồi, không cần bàn cãi. Nhưng đối với những người coi trọng Kinh Thánh, không có cách nào họ sẽ chấp nhận thuyết luân hồi.
Nói tóm lại, ý tưởng luân hồi không thể có được trong đức tin Cơ Đốc.
Chữ “chiêu hồn” bắt nguồn từ các thuật ngữ Hy Lạp nekros (chết) và manteia (bói toán). Được thực hành từ thời cổ đại, chiêu hồn là một hình thức triệu tập các linh hồn được cho là đang hoạt động của người chết để có được kiến thức, thường là về các sự kiện trong tương lai. Trong khi đó, thờ cúng tổ tiên là phong tục tôn kính tổ tiên đã khuất vì họ vẫn được coi là gia đình và linh hồn của họ, người ta tin rằng, có thể ảnh hưởng đến công việc của người sống. Những thực hành tà giáo này có thể rất hấp dẫn đối với những người tin vào linh hồn bất tử và những người vẫn nhớ thương những người thân yêu đã khuất của họ.
Đọc 1 Sa-mu-ên 28:3–25. Từ kinh nghiệm của Sau-lơ với người đàn bà đồng bóng ở Ên-đô-rơ chúng ta rút ra được bài học tâm linh nào chống lại bất cứ sự giao tiếp nào với người chết?
Kinh Thánh đã nói rất rõ ràng rằng trong chế độ thần quyền của người Y-sơ-ra-ên cổ đại, tất cả những người theo ma thuật, đồng bóng, phù thủy và thuật giả, đều là những kẻ ghê tởm đối với Đức Chúa Trời và đáng bị xử tử bằng cách ném đá (Lê-vi Ký 19:31; Lê-vi Ký 20:6, 27; Phục truyền 18:9–14). Theo luật này, Sau-lơ đã tiêu diệt tất cả đồng bóng và những ai theo ma thuật, khỏi Y-sơ-ra-ên (1 Sa-mu-ên 28:3, 9).
Tuy nhiên, sau khi bị Đức Chúa Trời từ chối, chính Sau-lơ đã đến thành Ên-đô-rơ của người Ca-na-an để hỏi một người đàn bà cầu đồng (1 Sa-mu-ên 28:6, 7, 15; so sánh với Giô-suê 17:11, Thi thiên 83:10). Ông yêu cầu bà ta triệu về nhà tiên tri Sa-mu-ên đã qua đời, người được cho là đã xuất hiện trong một cuộc chiêu hồn và nói chuyện với Sau-lơ (1 Sa-mu-ên 28:13–19). Một linh hồn lừa dối, giả danh Sa-mu-ên, nói với Sau-lơ, “Ngày mai ngươi và các con trai ngươi sẽ ở một nơi với ta” (1 Sa-mu-ên 28:19). Trong khi tiên đoán về cái chết của Sau-lơ, linh hồn lừa dối đó, chỉ bằng cách giả dạng Sa-mu-ên, đã khẳng định lại thuyết phi Kinh Thánh về sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Đó là một sự lừa dối mạnh mẽ, và Sau-lơ lẽ ra phải biết rằng ông chớ nên tham gia vào những gì ông đã lên án trước đó.
Hơn hai thế kỷ sau, nhà tiên tri Ê-sai viết, “Nếu có ai bảo các ngươi: Hãy cầu hỏi đồng bóng và thầy bói, là kẻ nói ríu rít líu lo, thì hãy đáp rằng: Một dân tộc há chẳng nên cầu hỏi Đức Chúa Trời mình sao? Há lại vì người sống mà hỏi kẻ chết sao? Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc sẽ chẳng có rạng đông cho nó” (Ê-sai 8:19, 20; Ê-sai 19:3).
Khi tinh thần căng thẳng, chúng ta có hay làm những điều mà chúng ta biết là sai không? Tại sao đức tin, cầu nguyện, và vâng Lời Chúa là sự bảo vệ chắc chắn duy nhất của chúng ta để chống lại chính bản thân mình?
Tương tự như thuật chiêu hồn, ma quỷ mạo dạng người chết và những hiện hình khác. Mạo dạng có thể qua hình dạng của một người trong gia đình, hay bạn bè hoặc bất kỳ ai đã qua đời. Cả ngoại hình và giọng nói đều rất giống người đã khuất. Tất cả những trò lừa bịp quỷ quái này sẽ được sử dụng để đánh lừa những người không có nền tảng vững chắc về Lời Chúa. Ellen G. White cảnh báo, “Các thần lừa dối này cũng giả mạo các sứ đồ để nói nghịch lại những điều họ viết dưới sự soi dẫn của Đức Thánh Linh, khi họ còn ở trong thế gian.” — Thiện Ác Đấu Tranh, trang 491. Và hơn thế nữa, “Màn chủ yếu của tấn kịch dối gạt ấy, là chính Sa-tan sẽ hóa trang thành Đấng Christ.” — trang 551, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Đọc 2 Cô-rinh-tô 11:14, 15 và Ê-phê-sô 6:10–18. Điều gì nên là biện pháp bảo vệ của chúng ta chống lại những lừa dối ma quỷ như vậy?
Sứ đồ Phao-lô cảnh báo chúng ta rằng “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy” (Ê-phê-sô 6:12). Chúng ta chỉ có thể được bảo vệ chống lại những lừa dối này bằng cách “hãy lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 6:13) được mô tả trong Ê-phê-sô 6:13–18.
Mạo dạng và ngoại hình của Sa-tan có thể rất đáng sợ và xảo trá, nhưng chúng không thể đánh lừa những người có sự che chở của Đức Chúa Trời và vững vàng trên Lời của Ngài. Từ góc nhìn giáo lý, những người tin vào giáo lý Kinh Thánh về sự bất tử có điều kiện của con người đều biết rằng bất kỳ sự hiện hình hoặc giao tiếp nào với người chết đều có nguồn gốc từ ma quỷ và cần phải bị bác bỏ bởi quyền năng ân điển của Đức Chúa Trời. Một lần nữa, cho dù sự phát hiện đó có sức mạnh, minh xác, và giống như thật đến đâu, chúng ta phải luôn kiên trì với sự dạy dỗ rằng người chết đang ngủ yên trong mồ.
Tuy nhiên, hãy tưởng tượng một người thân yêu của bạn qua đời, rồi sau đó bạn tin rằng chính người ấy xuất hiện với bạn? Và bày tỏ lòng thương nhớ bạn? Và kể với bạn những gì mà chỉ hai người biết? Và nói rằng họ đang ở một nơi tốt hơn? Nếu một người không có nền tảng vững chắc trên sự dạy dỗ của Kinh Thánh về tình trạng của người chết, thật là dễ dàng cho họ mắc vào sự lừa dối này, nhất là khi họ cũng rất muốn tin vào điều đó.
“Hãy lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời” có nghĩa là gì? Nói cách thực tế, làm thế nào để chúng ta thực hiện điều này trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, không chỉ trong việc đối phó với những lừa dối vào thời kỳ cuối cùng?
Có một Tổ Chức tuyên bố rằng họ đang tạo ra công nghệ cho phép người đang sống liên lạc với những người đã khuất “qua tin nhắn, gọi điện thoại và hội nghị truyền hình”. Trang mạng của Tổ Chức tuyên bố rằng khi con người chết đi, họ chỉ đơn giản chuyển “sang một giai đoạn khác của mãi mãi” nhưng “giữ lại tri thức, bản sắc và các khía cạnh nồng cốt của ngoại hình trước đây của họ.” Và quan trọng nhất, những người trong Tổ Chức này tuyên bố rằng họ đang phát triển, trong ba giai đoạn, công nghệ cho phép sự giao tiếp giữa những người hữu hình và hậu hữu hình.
Giai đoạn đầu tiên sẽ “cho phép tin nhắn hay viết cho những người đã thuộc về thế giới hậu hữu hình kể cả gia đình, bạn bè và các chuyên gia trong mọi lĩnh vực chuyên môn.” Giai đoạn hai xem như là “cho phép trò chuyện với những người thân yêu của bạn, những người đang sống ở một nơi khác của mãi mãi.” Và giai đoạn thứ ba sẽ đưa đến việc “nghe và thấy những người đang trải nghiệm trong mọi lĩnh vực khả dĩ từ một điểm quan sát khác.”
Điều đáng kinh hãi là cách họ kiểm xét xem những người chết đang giao tiếp có thực sự là người mà họ tự nhận hay không. “Chẳng hạn”, trang mạng cho biết, “một người cha đang để tang có thể hỏi một người con, trai hoặc gái, đã thay đổi thế giới câu hỏi sau: ‘Con có nuôi một con chó tên là Snoopy khi còn nhỏ phải không? Ba đã cho con một con dao bỏ túi vào sinh nhật con lên mười?’ ” Chúng ta nên chú ý đến lời cảnh báo này: “Các tinh linh đôi khi xuất hiện với người sống dưới dạng bạn bè đã qua đời của họ, và kể lại những biến cố liên quan đến cuộc sống của họ và làm những điều chúng đã thực hiện khi còn sống.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 684.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Hãy xem xét mọi việc; điều chi lành thì giữ lấy” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:21).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Mác 9:42–48; Ma-la-chi 4:1; Giu-đe 7; 1 Ti-mô-thi 2:5; Công vụ 2:29, 34, 35; 1 Giăng: 5:3–12.
Thi hào Ý Dante Alighieri (1265–1321) đã viết tác phẩm nổi tiếng The Divine Comedy, kể về cuộc hành trình tưởng tượng của linh hồn sau khi chết. Linh hồn đã đi đến hoặc hỏa lò (địa ngục) trong trái đất; hoặc luyện ngục, nơi mà linh hồn con người có thể tự thanh tẩy và trở nên xứng đáng lên thiên đàng; hoặc lên thiên đàng trước sự hiện diện của chính Đức Chúa Trời.
Dù chỉ là một bài thơ, tiểu thuyết, nhưng lời của Dante đã gây nên ảnh hưởng sâu đậm đến thần học Cơ Đốc giáo, đặc biệt là thần học Công giáo La Mã. Khái niệm cơ bản về một linh hồn bất tử hoặc xuống địa ngục, luyện ngục, hoặc lên thiên đàng là nền tảng cho giáo phái đó. Nhiều giáo phái Tin lành bảo thủ cũng tin vào một linh hồn bất tử mà sau khi chết sẽ lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục. Thật vậy, nếu linh hồn con người không bao giờ chết, thì nó sẽ đi đâu đó một khi thể xác chết đi. Tóm lại, sự hiểu biết sai lầm về bản chất con người đã dẫn đến những sai lầm thần học khủng khiếp.
Tuần này, chúng ta sẽ giải quyết một số lý thuyết phi Kinh Thánh này, cũng như quan điểm Kinh Thánh về những gì xảy ra sau khi chết.
So sánh Mác 9:42–48 với Ê-sai 66:24. Bạn hiểu thế nào về câu nói “sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết” (Mác 9:48) ?
Một số người giải thích danh từ “sâu bọ” (số ít) (Mác 9:48) như một ám chỉ về linh hồn của kẻ ác, tưởng như đã lìa khỏi xác sau khi chết và sẽ bay vào địa ngục, nơi nó không bao giờ chết và chịu sự dày vò vĩnh viễn.
Nhưng lối giải thích này không phản ảnh được khái niệm Kinh Thánh về cái chết vô thức; nó cũng bỏ qua bối cảnh Cựu Ước của phân đoạn này. Thật ra, “chữ ‘sâu bọ’ được dùng không có nghĩa là chỉ một con sâu duy nhất, mà đó là những con giun bọ ăn xác chết đang thối rữa.” — Robert G. Bratcher và Eugene A. Nida, A Translator’s Handbook on the Gospel of Mark (London: United Bibles Societies, 1961), trang 304.
Trong Mác 9:48, Đức Chúa Giê-su trích dẫn Ê-sai 66:24, “Khi dân sự ra ngoài, sẽ thấy thây của những người đã bội nghịch cùng ta; vì sâu chúng nó chẳng hề chết, lửa chúng nó chẳng hề tắt; chúng nó sẽ làm sự ghớm ghiết cho mọi xác thịt.” Cảnh tượng ẩn dụ đáng sợ này miêu tả một chiến trường với những kẻ thù của Chúa chết trên mặt đất và bị tiêu diệt. Các thi thể không bị lửa thiêu rụi sẽ bị tiêu hủy bởi sâu bọ, hoặc có thể bị sâu bọ tiêu hủy trước và sau đó là lửa thiêu rụi. Dù bằng cách nào, phân đoạn Kinh Thánh trên không bao giờ đề cập đến bất cứ linh hồn nào xem như là được thoát khỏi sự hủy diệt của cơ thể và bay vào địa ngục.
Nhưng còn những “con sâu” không bao giờ chết thì sao? Ngôn ngữ ẩn dụ của Ê-sai 66:24 (trích trong Mác 9:48) không ngụ ý rằng những con sâu đó là bất tử. (Những con sâu bất tử?) Điều nhấn mạnh ở đây là những con sâu không bỏ dở nhiệm vụ phá hoại của chúng. Nói cách khác, chúng tiếp tục gặm nhấm kẻ ác cho đến khi những cơ thể này bị tiêu rục. Ngược lại, những người con trung tín của Đức Chúa Trời sẽ vui mừng ở trong “trời mới và đất mới” và thờ phượng Đức Chúa Trời trước mặt Ngài (Ê-sai 66:22, 23). Với những số phận tương phản như vậy trong tâm trí, không có gì đáng ngạc nhiên khi Đức Chúa Giê-su tuyên bố với đoàn dân đông rằng dầu mất một bộ phận quan trọng trên cơ thể của họ — không có tay, chân, hoặc thậm chí cả mắt mà được vào vương quốc của Đức Chúa Trời vẫn tốt hơn hẳn là có một cơ thể hoàn hảo mà sẽ bị hủy hoại bởi sâu và lửa (Mác 9:42–48).
Rốt cuộc, chúng ta hoàn toàn được cứu hoặc hoàn toàn bị hư mất. Không có chuyện đứng giữa. Chúng ta có thể có hoặc cuộc sống vĩnh cửu hoặc sẽ phải đối mặt với sự hủy diệt vĩnh viễn. Bạn có những lựa chọn nào hôm nay? Thực tế này – cuộc sống vĩnh cửu hay sự hủy diệt đời đời – sẽ ảnh hưởng đến những lựa chọn ấy ra sao?
Trong tập sách dành cho trẻ em tựa đề The Sight of Hell (Cảnh Địa Ngục) (Dublin: James Duffy, [1874], trang 24), linh mục Công giáo La Mã người Anh, John Furniss (1809–1865) đã minh họa sự đọa đầy vĩnh viễn như một trái banh bằng sắt vĩ đại, lớn hơn cả trời và đất. “Cứ mỗi trăm triệu năm, có một con chim bay đến một lần quẹt chiếc lông trên cánh của nó vào quả cầu sắt vĩ đại.” Tác giả lập luận rằng dẫu cho đến khi quả banh sắt đó bị lông chim mài mòn đi, việc thiêu đốt tội nhân trong địa ngục vẫn tiếp tục không dừng.
Điều đáng buồn là ngày nay nhiều người theo đạo Tin lành cũng tin rằng số phận tương tự như vậy dành cho những người hư mất.
Đọc Ma-la-chi 4:1 và Giu-đe 7. Làm thế nào những câu Kinh Thánh này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khái niệm “lửa đời đời” hoặc ý tưởng, như Chúa Giê-su đã bày tỏ, rằng những người hư mất sẽ ở trong “lửa đời đời” (Ma-thi-ơ 18:8) hay trong một “lửa chẳng hề tắt”? (Mác 9:43).
Chữ “đời đời” (tiếng Hê-bơ-rơ ‘Olam; tiếng Hy Lạp aion, aionios) mang nhiều nghĩa khác nhau, tùy vào bối cảnh trưc tiếp. Ví dụ, khi được kết hợp với Đức Chúa Trời (Phục truyền Luật lệ Ký 33:27, “đời đời”), từ này diễn tả sự vĩnh cửu của Ngài. Khi liên quan đến con người (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:6, “trọn đời”), từ này bị giới hạn bởi tuổi thọ của họ. Khi nói về lửa (Ma-thi-ơ 18:8, Ma-thi-ơ 25:41, “đời đời”), nó ngụ ý rằng lửa sẽ không tắt cho đến khi nó tiêu hủy hết những gì đang bị đốt cháy. Vậy “lửa đời đời” có nghĩa là nó sẽ thiêu rụi những kẻ ác hoàn toàn và không thể phục hồi, “chẳng để lại cho chúng nó hoặc rễ hoặc nhành” (Ma-la-chi 4:1).
Lý thuyết về việc kẻ ác bị trừng phạt đời đời có hàm ý nghiêm trọng. Nếu kẻ ác chịu trừng trị mãi mãi, thì cái ác sẽ không bao giờ bị tuyệt diệt. Ngoài ra, tất cả sự sống của con người đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời (Phục truyền 32:39, Thi thiên 36:9), Đấng “chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui” (Ê-xê-chi-ên 33:11). Thế nên cớ sao Ngài lại tiếp tục ban sự sống cho kẻ ác để họ phải chịu đựng sự dày vò bất tận? Chẳng hợp lý hơn sao nếu Ngài chỉ việc chấm dứt sự tồn tại của họ? Nếu kẻ ác sẽ bị trừng phạt “tùy công việc mình làm” (Khải huyền 20:12), thì tại sao cuộc đời ngắn ngủi của con người lại phải bị trừng phạt đến bất tận?
Tất cả các tham chiếu trong Kinh Thánh về “lửa đời đời” nên được coi là ám chỉ đến “hồ lửa” hậu ngàn năm của Khải huyền 20 (xem bài học 13). Vì vậy, nói về một địa ngục lửa đang cháy trong hiện tại và mãi mãi là không đúng theo Kinh Thánh.
Cũng đáng tiếc như chuyện lửa địa ngục, sự thật về địa ngục tiết lộ gì cho chúng ta về tình yêu thương của Đức Chúa Trời, nhất là khi tương phản với ý tưởng của sự đày đọa muôn đời?
Giáo hội Công giáo La Mã cho rằng những người chết không đáng phải vào địa ngục nhưng chưa sẵn sàng để vào thiên đàng có thể tẩy lọc tội lỗi mình trong luyện ngục và từ đó được lên thiên đàng. Những đau khổ của họ trong luyện ngục có thể được giảm bớt nhờ những lời cầu nguyện và sự đền tội của những người thân yêu.
Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo La Mã nói rõ về luyện ngục: “Tất cả những ai chết trong ân sủng và tình bạn của Đức Chúa Trời, nhưng vẫn chưa được hoàn toàn trong sạch, thực ra đã được bảo đảm về sự cứu rỗi đời đời của họ; nhưng sau khi chết, họ phải chịu sự thanh lọc để đạt được sự thánh thiện cần thiết mà bước vào niềm vui của thiên đàng.” — Catechism of the Catholic Church, (New York: Doubleday, 1995) trang 291. Giáo lý Công Giáo cũng nói rằng đau khổ của họ có thể được xoa dịu bằng những lời cầu nguyện thay hoặc các hành động khác của những người thân yêu của họ. “Giáo hội cũng khen ngợi việc bố thí, xin ân xá, và các công việc đền tội được thực hiện thay cho người chết.” — trang 291.
Đọc Truyền đạo 9:10, Ê-xê-chi-ên 18:20–22 và Hê-bơ-rơ 9:27. Những đoạn Kinh Thánh này bác bỏ lý thuyết luyện ngục ra sao?
Tín điều về luyện ngục kết hợp quan niệm của người ngoại giáo về một địa ngục thiêu đốt với việc cầu nguyện cho người chết. Tín điều này không được chấp nhận bởi những người tin vào sự dạy dỗ của Kinh Thánh rằng: (1) người chết vẫn yên nghỉ cách vô thức vô tri trong mộ của họ (Truyền đạo 9:10); (2) sự công bình của một con người sa ngã không thể được chuyển qua cho một con người sa ngã khác (Ê-xê-chi-ên 18:20–22); (3) Đấng Hòa giải duy nhất của chúng ta là Đức Chúa Giê-su Christ (1 Ti-mô-thê 2:5); và (4) sau đó là sự chết bởi sự phán xét cuối cùng, không có cơ hội thứ hai nào nữa để ăn năn khỏi những cạm bẫy của cuộc sống này (Hê-bơ-rơ 9:27).
Một hàm ý nghiêm trọng khác của Giáo lý Luyện Ngục phản Kinh Thánh là nó làm sai lệch đức tính của Đức Chúa Trời. Thật vậy, “Công việc của Sa-tan kể từ khi sa ngã là diễn tả sai về Cha trên trời của chúng ta. Hắn đề xướng lên sự bất tử của linh hồn . . . Ý tưởng về một địa ngục thiêu đốt vĩnh viễn là sản phẩm của Sa-tan; luyện ngục là phát minh của hắn. Sự dạy dỗ này làm chứng giả mạo về đức tính của Đức Chúa Trời, khiến Ngài sẽ bị coi là người nghiêm khắc, thích trả thù, độc đoán và không thực hiện sự tha thứ.” — Ellen G. White, Manuscript 51 (10/12), 1890. Thay vì người chết ngủ yên, chờ đợi Đấng Christ tái lâm, giáo lý này nói rằng họ đang ở trong luyện ngục, chịu đau đớn ở đó cho đến khi có một ai tìm cách đưa họ thoát ra.
Những hiểu lầm về sự luyện ngục hay cực hình đời đời dạy chúng ta điều gì về sự quan trọng của giáo lý? Ngoài việc chọn tin vào ai, tại sao những gì chúng ta tin cũng là quan trọng?
Mặc dù người theo đạo Tin lành không chấp nhận luyện ngục, nhưng vẫn có nhiều người tin rằng linh hồn của những người công bình chết đang được hưởng thiên đàng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Một số người cho rằng những “sanh linh” đó chỉ là những hồn không có thể xác; những người khác tin rằng họ là những linh hồn không xác nhưng được bao phủ bởi một cơ thể tâm linh vinh hiển.
Bất kể trạng thái siêu hình nào được gán cho người chết đang sống, những lý thuyết này làm suy yếu giáo lý Kinh Thánh về sự phục sinh cuối cùng và sự phán xét của người chết. Tại sao lại có sự phục sinh và sự phán xét (Khải huyền 20:12–14) nếu linh hồn của những người công chính đã được vui hưởng thiên đàng?
Đọc Công vụ 2:29, 34, 35 và 1 Cô-rinh-tô 15:16–18. Những đoạn Kinh Thánh này làm sáng tỏ trạng thái của người chết và những người đang chờ đợi sự sống lại ra sao?
Kinh Thánh dạy rằng tất cả những người đã ở trên trời đều được hoặc là mang về trời khi còn sống, như trường hợp của Ê-nóc (Sáng thế Ký 5:24) và Ê-li (2 Các Vua 2:9–11), hoặc sống lại từ cõi chết, như Môi-se (Giu-đe 9) và những người được sống lại với Đấng Christ (Ma-thi-ơ 27:51–53).
Như chúng ta đã thấy, việc ám chỉ các linh hồn “dưới bàn thờ” khóc lóc cầu xin Chúa báo thù (Khải huyền 6:9–11) chỉ là một lối nói ẩn dụ về công lý và không chứng minh lý thuyết về sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Nếu không, những người này xem ra như chẳng vui hưởng tí nào phần thưởng đời đời của họ. Trên thực tế, ngôi mộ là nơi an nghỉ của người chết, những người vô thức chờ đợi sự sống lại cuối cùng, khi ý thức của họ sẽ được phục hồi. Những người chết, ngay cả những người chết công bình, không phải là những linh hồn không xác trôi dạt loanh quanh thiên đàng, kiên nhẫn đợi chờ ngày được đoàn tụ với thể xác của mình vào lần phục sinh cuối cùng.
Ngoài ra, điều mà Phao-lô có thể đang nói đến trong 1 Cô-rinh-tô 15:18, khi ông nói rằng nếu không có sự sống lại của kẻ chết, thì “những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời.” Làm thế nào họ có thể hư mất nếu họ đã ở trong cực lạc của thiên đàng và đã ở đó bất kể bao lâu từ khi họ chết? Sự sống lại của kẻ chết khi Đức Chúa Giê-su Christ trở lại là một giáo lý quan trọng của Tân Ước sẽ trở nên vô hiệu bởi sự dạy dỗ sai lầm rằng những người chết công bình sẽ bay lên nhận được phần thưởng đời đời ngay sau khi họ chết. Tiếc thay, chúng ta nghe hoài ý ấy, đặc biệt là tại các đám tang.
Có cách nào bạn có thể giúp người ta hiểu rằng người chết đang ngủ trong lòng đất thực sự là “tin tốt”, theo nghĩa là họ thực sự đang yên nghỉ và không con phải đớn đau và chịu đựng nữa?
Đọc 1 Giăng 5:3–12. Tại sao sứ đồ Giăng giới hạn “sự sống đời đời” chỉ cho những người ở trong Đấng Christ?
Lý thuyết dựa theo Kinh Thánh về sự bất tử có điều kiện của con người — ngược với lý thuyết ngoài Kinh Thánh về sự bất tử tự nhiên của linh hồn — được trình bày rõ ràng trong 1 Giăng 5:11, 12. Để hiểu được ý nghĩa của đoạn Kinh Thánh quan trọng này, chúng ta phải nhớ rằng chỉ có Đức Chúa Trời “có sự không hề chết” (1 Ti-mô-thê 6:15, 16) và là Nguồn sự sống duy nhất (Thi thiên 36:9, Cô-lô-se 1:15–17, Hê-bơ-rơ 1:2).
Khi tội lỗi xâm nhập vào thế gian qua sự sa ngã của A-đam và Ê-va (Sáng thế Ký 3), họ và tất cả con cháu của họ (kể cả chúng ta) phải chịu lời nguyền rủa của cái chết thể xác và mất đi món quà sự sống vĩnh cửu. Nhưng Đức Chúa Trời yêu thương của chúng ta đã thực hiện kế hoạch cứu rỗi loài người để giành lại sự sống bất diệt, sự sống mà ngay từ đầu đã là của họ. Như Phao-lô đã viết: “Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 1:4).
Sứ đồ Phao-lô giải thích rằng “cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết,” vì vậy “bởi một người là Đức Chúa Jêsus Christ” món quà ưu ái của sự sống vĩnh cửu đã trở nên có sẵn cho tất cả mọi người (Rô-ma 5:12–21). Ở đây, Phao-lô nói rõ ràng đến một A-đam theo nghĩa đen, người đã mang tội lỗi và sự chết vào thế gian này. Người ta không thể hiểu bất cứ điều gì trong Kinh Thánh nếu không có A-đam theo nghĩa đen, người vì sự vi phạm của mình, đã mang tội lỗi và sự chết vào thế giới của chúng ta.
Vì vậy, sứ đồ Giăng nói thêm: “Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống”(1 Giăng 5:11, 12).
Tất cả trở nên rõ ràng hơn với những lời tuyên bố của Đức Chúa Giê-su: “phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt” (Giăng 6:40), và “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).
Điều này có nghĩa là sự sống vĩnh cửu là một món quà của Đức Chúa Trời qua Đấng Christ, được bảo đảm ở hiện tại nhưng chỉ được hưởng trọn vẹn sau sự sống lại cuối cùng của người công bình. Kết luận thật đơn giản: nếu sự sống đời đời chỉ được ban cho những ai ở trong Đấng Christ, thì những người không ở trong Ngài sẽ không có sự sống đời đời (1 Giăng 5:11, 12). Ngược lại, lý thuyết về sự bất tử tự nhiên của linh hồn ban sự sống đời đời — ở thiên đường hay địa ngục — cho tất cả mọi người, ngay cả những người không ở trong Đấng Christ. Sự dạy dỗ này rất là phổ biến, nhưng nó không đến từ Kinh Thánh.
“Sự tin tưởng sai lầm về linh hồn bất tử đã đặt nền cho giáo lý dạy về người chết vẫn còn hiểu biết — cũng như giáo lý về sự đau đớn đời đời, là trái ngược với Kinh Thánh, với lý trí, và tình cảm của con người. Theo sự tin tưởng phổ thông, những người được chuộc ở trên trời biết hết những việc xảy ra dưới đất, đặc biệt là đời sống của các bạn hữu họ. Nhưng thế nào kẻ chết lấy làm sung sướng nếu họ biết những sự rắc rối của kẻ sống, chứng kiến tội lỗi của những người yêu dấu, và thấy họ chịu đựng tất cả những sự buồn rầu, thất vọng, và đau khổ của đời? Những nhân vật bay liệng không ngừng chung quanh bạn hữu họ trong thế gian có thể hưởng được phước hạnh nào trên trời? Thật ghê tởm thay giáo lý dạy rằng kẻ ác khi hơi thở lìa khỏi xác thì linh hồn họ sa vào lửa địa ngục! Thật đau đớn thay cho những người trông thấy bạn hữu mình không hối cải phải xuống mồ mả, vào cõi khốn khổ đời đời!” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 481, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
CÂU GỐC: “Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về Ta vậy” (Giăng 5:39).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Lu-ca 16:19–31, 23:43; Giăng 20:17, Phi-lip 1:21–24, 1Phi-e-rơ 3:13–20, Khải huyền 6:9–11.
Phi-e-rơ cảnh báo chúng ta: “Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em” (1 Phi-e-rơ 3:15). Phao-lô nói thêm, “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi. Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành” (2 Ti-mô-thê 4:2, 3). Thế nên, chúng ta không chỉ nên xem xét những đoạn Kinh Thánh có thể được giải thích dễ dàng để phù hợp với niềm tin của chúng ta, mà chúng ta cũng nên xem xét những đoạn Kinh Thánh thường được dùng để dạy những điều khác với những gì chúng ta tin tưởng.
Chúng ta nên theo ví dụ của Đức Chúa Giê-su. “Đấng Christ đã không chèn ép một chữ nào của lẽ thật, nhưng Ngài luôn phán lời lẽ ấy trong tình yêu thương . . . Ngài không bao giờ thô lỗ, không bao giờ nặng lời vô cớ, không bao giờ gieo rắc nỗi đau vô cớ cho một tâm hồn nhạy cảm. Ngài không chê bai sự yếu đuối của con người.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 353.
Tuần này, chúng ta sẽ nghiên cứu một số đoạn Kinh Thánh đáng chú ý mà nhiều người hay dùng để biện minh cho sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Những suy gẫm này sẽ củng cố niềm tin của chúng ta và giúp chúng ta trả lời một cách hòa nhã những ai thắc mắc về sự dạy dỗ quan trọng này.
Đọc Lu-ca 16:19–31. Tại sao câu chuyện này không phải là một mô tả theo nghĩa đen về thế giới bên kia (kiếp sau)?
Một số học giả gợi ý rằng Lu-ca 16:19–31 nên được giải thích theo nghĩa đen, nghĩa là mô tả tình trạng của người chết. Nhưng quan điểm này sẽ dẫn đến một số kết luận phi Kinh Thánh và sẽ mâu thuẫn với nhiều đoạn Kinh Thánh mà chúng ta đã xem qua.
Đầu tiên, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng thiên đàng và địa ngục cận kề nhau đủ để cho phép cuộc trò chuyện giữa cư dân của cả hai nơi diễn ra (Lu-ca 16:23–31). Chúng ta cũng phải giả sử rằng, sau khi chết, khi cơ thể nằm trong nấm mồ, vẫn còn một dạng linh hồn có tri giác với “mắt”, “ngón tay”, “lưỡi”, và thậm chí cảm thấy khát (Lu-ca 16:23, 24).
Nếu đoạn Kinh Thánh này mô tả tình trạng con người khi chết, thì thiên đàng chắc chắn sẽ không phải là nơi vui vẻ và hạnh phúc vì những người được cứu có thể theo dõi chặt chẽ những đau khổ vô tận của những người thân yêu lạc lối đã qua đời của họ, và thậm chí đối thoại với họ (Lu-ca 16:23–31). Làm sao một người mẹ có thể hạnh phúc trên thiên đường trong khi chứng kiến những đau đớn không ngừng của đứa con thân yêu của mình dưới địa ngục? Trong bối cảnh như vậy, thì làm sao thực hiện được lời hứa của Đức Chúa Trời về việc không còn buồn phiền, than khóc và đau đớn trên thiên đàng (Khải huyền 21:4).
Vì những lý do thiếu mạch lạc như vậy, nhiều học giả Kinh Thánh hiện đại coi câu chuyện về người đàn ông giàu có và La-xa-rơ như một chuyện ngụ ngôn mà không phải chi tiết nào cũng có thể giải thích được theo nghĩa đen. George E. Ladd (không thuộc Cơ Đốc Phục Lâm) nói rằng câu chuyện này hẳn là “một câu chuyện ngụ ngôn sử dụng lối suy nghĩ của người Do Thái thời ấy và không nhằm mục đích dạy bất cứ điều gì về tình trạng của người chết.” — G. E. Ladd, “Eschatology,” trong The New Bible Dictionary, do J. D. Douglas hiệu đính, 1962, trang 388.
Câu chuyện ngụ ngôn về người giàu và La-xa-rơ thể hiện sự tương phản rõ rệt giữa “một người giàu” ăn mặc sang trọng và “Một người ăn xin tên là La-xa-rơ, mình đầy những ghẻ” (Lu-ca 16:19, 20). Câu chuyện dạy rằng (1) địa vị và danh phận trong xã hội hiện tại không phải là tiêu chuẩn cho phần thưởng trong tương lai, và (2) số phận vĩnh viễn của mỗi người được quyết định ở đời này và không thể đảo ngược sau khi chết (Lu-ca 16:25, 26).
“Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy” (Lu-ca 16:31). Qua những lời mạnh mẽ này của Đức Chúa Giê-su chúng ta học được gì về thẩm quyền của Kinh Thánh, và nên có phản ứng ra sao?
Một trong những đoạn Kinh Thánh được sử dụng rộng rãi nhất để cố gắng chứng minh sự bất tử của linh hồn là Lu-ca 23:43, “Đức Chúa Giê-su đáp rằng: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.” Hầu như tất cả các phiên bản Kinh Thánh (với một số ngoại lệ) đều dịch bản văn này theo cách tương tự, tạo cảm giác rằng vào chính ngày Đức Chúa Giê-su chết, Chúa Giê-su Christ và kẻ trộm sẽ cùng nhau ở trong Thiên Đàng. Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên vì những bản dịch đó được thực hiện bởi những học giả Kinh Thánh tin vào giáo lý về sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Nhưng đó có phải là bản dịch tốt nhất của bản văn này không?
So sánh Lu-ca 23:43 với Giăng 20:17 và Giăng 14:1–3. Lời hứa với tên cướp ăn năn trên thập tự giá phải được hiểu như thế nào theo lời Đức Chúa Giê-su nói với Ma-ri Ma-đơ-len và lời hứa của Ngài với các môn đồ?
Giả định rằng Đức Chúa Giê-su Christ và tên trộm đã đi vào Ba-ra-đi (hay thiên đàng) vào cùng ngày đó mâu thuẫn với những lời của Đức Chúa Giê-su nói với Ma-ri Ma-đơ-len sau khi Ngài phục sinh, những lời khẳng định rằng Ngài vẫn chưa đi đến sự hiện diện của Cha Ngài ở trên trời (Giăng 20:17). Sự ngộ nhận rằng Đức Chúa Giê-su và kẻ trộm ăn năn được lên thiên đàng vào ngày hôm đó, cũng mâu thuẫn với lời hứa của Đức Chúa Giê-su với các môn đồ rằng họ sẽ được lên thiên đàng chỉ khi Ngài tái lâm (Giăng 14:1–3).
Vấn đề trong Lu-ca 23:43 là trạng từ “hôm nay” (tiếng Hy Lạp sēmeron) nên được liên kết với động từ theo sau nó (“sẽ được”) hay với động từ đứng trước nó (“nói”). Wilson Paroschi công nhận rằng “từ quan điểm văn phạm”, hầu như không thể xác định được cách đổi chữ chính xác. Tuy nhiên, Lu-ca có khuynh hướng sử dụng trạng từ này với động từ đứng trước. Điều này xảy ra 14 lần trong số 20 lần xuất hiện của từ ‘sēmeron’ trong Lu-ca và Công vụ.” — “The Significance of a Comma: An Analysis of Luke 23:43,” in Ministry, tháng 6 năm 2013, trang 7.
Vì vậy, cách đọc tự nhiên nhất của Lu-ca 23:43 sẽ là “Quả thật Ta nói cùng ngươi hôm nay, ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.” Trong trường hợp này, thành ngữ “Ta nói cùng ngươi hôm nay” nhấn mạnh sự liên quan và trang trọng của câu nói “ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.” Tóm lại, Đức Chúa Giê-su đã hứa với anh ta, ngay đó và lúc đó, rằng anh ta sẽ được cứu.
Đọc lại Lu-ca 23:39–43, câu chuyện về một tên trộm cắp ăn năn, một người mặc dù phạm tội và không có gì để dâng cho Đức Chúa Trời, nhưng đã được Đấng Christ hứa ban sự sống đời đời. Câu chuyện này bày tỏ một cách hùng hồn thế nào về lẽ thật vĩ đại rằng sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin? Chúng ta giống như tên trộm ấy ra sao? Và khác nhau ra sao?
Đọc Phi-líp 1:21–24 và 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13–18. Phao-lô mong đợi khi nào được “ở với Đấng Christ” (Phi-líp 1:23) và “ở cùng Chúa” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:17)?
Phao-lô được thúc đẩy với niềm đam mê sống “trong Đấng Christ” lúc hiện tại (2 Cô-rinh-tô 5:17) và “với Đấng Christ” sau khi Ngài tái lâm (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:17). Đối với sứ đồ Phao-lô, ngay cả cái chết cũng không thể phá vỡ sự cam kết rằng ông đã thuộc về Đấng Cứu Rỗi và Chúa của mình. Như ông đã nói trong thư gửi người La Mã, “sự chết, sự sống, . . . chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus-Christ, là Chúa chúng ta” (Rô-ma 8:38, 39). “Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả” (Rô-ma 14:8).
Với sự cả quyết này trong tâm trí, Phao-lô nói về những tín đồ đã chết là “những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14) và những người sẽ được sống lại khi Đấng Christ tái lâm để nhận được sự sống đời đời (1 Cô-rinh-tô 15:16–18, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13–18).
Khi Phao-lô đề cập đến “muốn đi ở với Đấng Christ” (Phi-líp 1:23), có phải người ngụ ý rằng sau khi chết, linh hồn ông sẽ ra đi để sống có tri thức với Đấng Christ không? Không phải vậy. Trong văn bản này, “Phao-lô nói lên lòng mong muốn rời khỏi cuộc sống khó khăn hiện tại này và được ở với Đấng Christ, mà không ám chỉ đến bất kỳ khoảng thời gian nào có thể xảy ra giữa hai sự kiện. Câu này không dạy rằng Phao-lô mong đợi được lên thiên đàng vào lúc chết. Ông rất rõ ràng rằng ông sẽ không nhận được phần thưởng của mình cho đến khi Chúa đến lần thứ hai (2 Ti-mô-thê 4:8).
Tóm lại, Phao-lô “đang nói rằng sau khi ông ra đi [chết] thì điều tiếp theo là Đấng Christ sẽ đến từ những đám mây ở trên trời để phục sinh kẻ chết, là lúc mà ông sẽ được ‘ở với Chúa’ (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:17). Cũng cần lưu ý rằng những người viết Kinh Thánh đôi khi đề cập đến hai sự kiện một lúc nhưng là hai sự kiện riêng biệt cách nhau một khoảng thời gian dài.” — Andrews Study Bible, trang 1555, giải thích Phi-líp 1:23.
Nhưng tại sao Phao-lô thích chết hơn là sống? Bởi vì có vậy ông mới cuối cùng được nghỉ ngơi khỏi mọi khó khăn của mình, và không cần phải chịu đựng đau đớn trong cơ thể nữa (1 Cô-rinh-tô 9:27). Và ông sẽ đươc nghỉ ngơi trong sự chắc chắn hoàn toàn, rằng ông sẽ nhận được “vương miện của sự công bình” khi Chúa trở lại (2 Ti-mô-thê 4:6–8). Mặc dù Phao-lô chắc chắn không muốn chết, nhưng ông biết điều gì sẽ xảy ra khi ông chết.
Trong những thời điểm tận cùng khó khăn, ai đã chẳng có lúc nghĩ rằng ước gì mình nhắm mắt vào cõi chết và điều kế tiếp mình biết là “được ở với Chúa”? Ý tưởng này giúp chúng ta hiểu thế nào về điều Phao-lô muốn nói trong Phi-líp?
Đọc 1 Phi-e-rơ 3:13–20. Làm thế nào mà Đấng Christ đã “giảng cho các linh hồn bị tù . . . thời kỳ Nô-ê”? (Xem thêm Sáng thế Ký 4:10).
Những nhà bình luận tin vào sự bất tử tự nhiên của linh hồn thường nêu ra rằng Đấng Christ đã rao giảng “cho các linh hồn bị tù” (1 Phi-e-rơ 3:19) khi Ngài vẫn còn đang yên nghỉ trong mộ. Đối với họ, linh hồn tự do của Ngài đã đi vào địa ngục và thuyết giảng cho những linh hồn không xác của những người trước trận đại hồng thủy (thời Nô-ê).
Tuy nhiên, quan niệm viễn vông này không được chấp nhận theo Kinh Thánh vì sẽ không có cơ hội cứu rỗi thứ hai cho người chết (Hê-bơ-rơ 9:27, 28). Vậy, tại sao Đức Chúa Giê-su lại rao giảng cho những người không còn cơ hội cứu rỗi?
Trong khi đó, và quan trọng nhất, lý thuyết này mâu thuẫn với lời dạy trong Kinh Thánh rằng người chết vẫn vô tri trong mộ cho đến khi có sự sống lại cuối cùng (Gióp 14:10–12; Thi thiên 146:4; Truyền đạo 9:5, 10; 1 Cô-rinh-tô 15:16–18; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13–15).
Ngoài ra, nếu câu này thực sự nói rằng Đức Chúa Giê-su, khi thể xác còn đang trong mộ, đã xuống địa ngục và rao giảng cho những kẻ gian ác thuở trước, tại sao chỉ có họ được nghe thông điệp của Ngài? Bộ không có những kẻ lạc lối khác đang cháy trong địa ngục với họ sao? Tại sao chỉ có những người thời xa xưa mới được nghe Ngài giảng?
Nếu gợi ý rằng Đấng Christ đã rao giảng cho các thiên sứ sa ngã, những thiên sứ đã không vâng lời vào thời Nô-ê thì đó cũng là điều vô nghĩa. Trong khi “các linh hồn bị tù” được mô tả là “bội nghịch thuở trước” (1 Phi-e-rơ 3:19, 20), Kinh Thánh nói đến các quỷ sứ vẫn không vâng lời cho đến ngày nay (Ê-phê-sô 6:12, 1 Phi-e-rơ 5:8). Hơn nữa, các thiên sứ sa ngã thì bị “dùng dây xích họ trong nơi tối tăm đời đời, cầm giữ lại để chờ sự phán xét ngày lớn” (Giu-đe 6), mà không có bất kỳ cơ hội cứu rỗi nào.
Chúng ta nên lưu ý rằng trong 1 Phi-e-rơ 3, “các linh hồn bị tù” của câu 19 được xác định trong câu 20 là những người “bội nghịch” trước trận lụt “thời kỳ Nô-ê”. Chữ linh hồn (tiếng Hy Lạp pneuma, tâm thần) được sử dụng trong văn bản này cũng được dùng trong những câu Kinh Thánh khác trong Tân Ước (1 Cô-rinh-tô 16:18, Ga-la-ti 6:18), để nói về những người đang sống có thể nghe và chấp nhận lời mời cứu rỗi. Cụm từ “bị tù” (hay “trong tù”) rõ ràng không nói về nhà tù theo nghĩa đen, mà là trong nhà tù của tội lỗi, nơi mà bản chất người của những ai chưa sinh lại được tìm thấy (Rô-ma 6:1–23, Rô-ma 7:7–25).
Sự rao giảng của Đấng Christ cho những người không ăn năn trước thời kỳ Đại Hồng Thủy đã được hoàn thành qua Nô-ê, là người đã được Đức Chúa Trời hướng dẫn một cách thiêng liêng (Hê-bơ-rơ 11:7) và trở thành “người rao giảng về sự công bình” cho những người ở thời đó (2 Phi-e-rơ 2:5). Những lời của Phi-e-rơ được viết trong bối cảnh về sự trung thành thực sự có nghĩa là gì; chúng không phải là những lời bình luận về tình trạng của người chết.
Đọc Khải huyền 6:9–11. Làm sao mà “linh hồn” của những người tử vì đạo có thể khóc “dưới bàn thờ”?
Việc mở ấn thứ năm trong Khải huyền cho thấy một cảnh tượng lạ thường. Tả theo cách ẩn dụ, linh hồn của các vị tử đạo “dưới bàn thờ” khóc lóc cầu xin Đức Chúa Trời báo thù (Khải huyền 6:9–11). Một số nhà bình luận có khuynh hướng xác định rằng “bàn thờ” này là bàn thờ xông hương được đề cập trong ấn thứ bảy (Khải huyền 8:1–6). Nhưng việc đề cập đến “huyết” (chứ không phải “hương”). Trong Khải huyền 6:9–11 cho chúng ta thấy ở đây ám chỉ đến bàn thờ của lễ thiêu, nơi đổ máu của các con sinh tế (Lê-vi Ký 4:18, 30, 34). Cũng như huyết của những con sinh tế đã từng được rưới xung quanh bàn thờ, thì huyết của các vị tử vì đạo cũng được tượng trưng như đổ trên bàn thờ của Đức Chúa Trời, vì họ trung tín với lời Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Giê-su (Khải huyền 6:9; xem thêm Khải huyền 12:17; 14:12). Chúa Giê-su đã đổ huyết để hy sinh cho chúng ta, cũng như thế, các kẻ tử vì đạo cũng đổ huyết để hy sinh cho hội thánh.
Các “linh hồn” dưới bàn thờ cũng có tính cách biểu tượng. Nếu hiểu chúng theo nghĩa đen, người ta sẽ phải kết luận rằng các vị tử đạo không được hạnh phúc trọn vẹn trên thiên đàng, vì họ vẫn đang kêu khóc xin báo thù. Làm sao lại thế khi họ đang tận hưởng phần thưởng của sự cứu rỗi. Mong muốn trả thù khi còn sống có thể khiến đời bạn trở nên khốn khổ. Và trong cái chết, bạn cũng còn vậy sao?
Ngoài ra, điều quan trọng cần nhớ là Giăng không được nhìn thấy thiên đàng như thực tế. “Ở đó không có những con ngựa trắng, đỏ, đen hay lợt màu với những người cưỡi thiện chiến. Đức Chúa Giê-su không xuất hiện ở đó dưới hình dạng một con chiên con với vết thương dao đâm chảy máu. Bốn con thú không đại diện cho các sinh vật thực sự có cánh của các động vật được kể ra . . . Tương tự như vậy, không có ‘linh hồn’ nào nằm dưới chân bàn thờ trên thiên đàng. Toàn bộ khung cảnh là một sự mô tả bằng hình ảnh và tượng trưng.” — The SDA Bible Commentary, tập 7, trang 778.
George E. Ladd, (một người không phải Cơ Đốc Phục Lâm) đã viết: “Trong trường hợp hiện tại [Khải huyền 6:9–11], bàn thờ rõ ràng là bàn thờ tế lễ nơi máu con sinh tế đã đổ ra. Việc Giăng nhìn thấy linh hồn các vị tử đạo dưới bàn thờ không liên can gì đến trạng thái của người chết hay hoàn cảnh của họ ở trạng thái trung gian; nó chỉ là một cách diễn tả sống động về sự việc họ đã tử đạo vì danh Đức Chúa Trời mình.” — A Commentary on the Revelation of John (Grand Rapids, MI: Eerdmans, 1972), trang 103.
Ai (đặc biệt là những người đã từng là nạn nhân của sự bất công) đã chẳng từng kêu đòi công lý, nhưng công lý vẫn chưa đến? Tại sao chúng ta, bởi đức tin, tin tưởng rằng cuối cùng công lý quá thiếu sót trong thế giới này rồi sẽ đến? Bạn tìm được sự an ủi nào qua lời hứa diệu kỳ này?
“Trong câu chuyện ngụ ngôn về người giàu có và La-xa-rơ, Đấng Christ cho thấy rằng trong đời này, con người quyết định số phận tương lai vĩnh cửu của mình. Trong hiện tại, ân điển của Đức Chúa Trời được ban cho mọi linh hồn. Nhưng nếu con người chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn bản thân và lãng phí cơ hội mình có, chính họ sẽ tự cắt đứt cuộc sống vĩnh cửu. Không có cơ hội nào khác sau đời này sẽ được cấp cho họ. Bằng sự lựa chọn của chính mình, họ đã đặt ra một vịnh sâu không thể vượt qua giữa họ và Chúa của họ.” — Ellen G. White, Christ’s Object Lessons, trang 260.
“Khi những Cơ Đốc nhân tiền phong ấy bị đày lên núi và sa mạc, hoặc bị bỏ trong ngục tối để chết vì đói, rét và tra tấn, khi sự tử đạo dường như là cách duy nhất để thoát ra nỗi hoạn nạn, họ vui mừng vì họ được coi là xứng đáng để chịu đau khổ vì Đấng Christ, Đấng đã bị đóng đinh vì họ. Tấm gương xứng đáng của họ sẽ là niềm an ủi và khích lệ cho dân sự Chúa, những người sẽ bị đưa vào thời kỳ khó khăn như chưa từng xảy ra.” — Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 5, trang 213.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
CÂU GỐC: “Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có con Đức Chúa Trời thì không có sự sống” (1 Giăng 5:11, 12).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Cô-rinh-tô 15:12–19, Giăng 14:1–3, Giăng 6:26–51, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13–18, 1 Cô-rinh-tô 15:51–55.
Mặc dù Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp, tất cả các tác giả Tân Ước (ngoại trừ Lu-ca) là người Do Thái, và tất nhiên họ tiếp cận bản chất con người từ quan điểm toàn vẹn của người Do Thái, chứ không phải từ quan điểm của người ngoại giáo Hy Lạp.
Vì vậy, đối với Đấng Christ và các sứ đồ, niềm hy vọng của người Cơ Đốc không phải là một niềm hy vọng mới, mà đúng hơn, là sự tiến triển của niềm hy vọng cổ xưa đã được các tổ phụ và các nhà tiên tri nuôi dưỡng. Ví dụ, Đấng Christ đã đề cập đến việc Áp-ra-ham thấy trước và mừng rỡ khi thấy ngày của Ngài (Giăng 8:56). Giu-đe nói rằng Hê-nóc đã tiên tri về Chúa tái lâm (Giu-đe 14, 15). Và sách Hê-bơ-rơ nói về những anh hùng đức tin đã mong đợi một phần thưởng trên trời mà họ chưa nhận được cho đến khi chúng ta nhận được phần thưởng (Hê-bơ-rơ 11:39, 40). Câu nói này sẽ trở nên vô nghĩa nếu linh hồn của họ đã ở với Chúa trên thiên đàng.
Bằng cách nhấn mạnh rằng chỉ những ai ở trong Đấng Christ mới có sự sống đời đời (1 Giăng 5:11, 12), Giăng bác bỏ lý thuyết về sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Quả thật, không có sự sống đời đời nào riêng rẽ ngoài vòng mối liên hệ cứu rỗi với Đấng Christ. Vì vậy, hy vọng trong Tân Ước là hy vọng có trọng tâm nơi Đấng Christ, và hy vọng duy nhất rằng một ngày nào đó sự hiện sinh ngắn ngủi phàm trần này sẽ trở thành sự sống bất tử.
Nhà sử học Hy Lạp cổ đại Herodotus (thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên) đã viết về một bộ lạc có tập tục là mỗi khi có một ai sinh ra thì họ bắt đầu một giai đoạn than khóc vì họ đoán trước được những đau khổ mà đứa trẻ sẽ phải đối mặt nếu nó sống đến tuổi trưởng thành. Cho dầu nghi lễ này có vẻ lạ lùng với chúng ta, xem ra nó cũng có lý.
Hàng ngàn năm sau, vào đầu thế kỷ 20, một quảng cáo ở Mỹ đã viết như vầy: “Tại sao lại sống, nếu bạn có thể được chôn với mười đô la?”
Chúng ta biết đời sống có thể khá khó khăn, ngay cả khi chúng ta tin vào Chúa và vào hy vọng của đời vĩnh cửu. Nên hãy tưởng tượng, đời còn khó khăn đến đâu cho những người không có hy vọng gì ngoài một đời ngắn ngủi và lắm gian nan trên cõi trần. Nhiều nhà văn thế tục đã bình luận về sự vô nghĩa của mạng sống con người, vì tất cả chúng ta không chỉ chết, mà tất cả đều sống với nhận thức rằng chúng ta rồi sẽ chết. Và nhận thức này là điều khiến cho toàn bộ chương trình của cuộc đời con người, vốn dĩ tự nó đã vất vả và buồn bã, nay dường như vô nghĩa vô năng. Một tư tưởng gia đã cho rằng con người không gì là khác hơn “đống thịt hư thối trên bộ xương đang rã rời”. Khá rùng rợn, nhưng, một lần nữa, thật khó để tranh luận với lý lẽ này.
Trái ngược với tất cả những điều ấy, chúng ta dĩ nhiên có lời hứa trong Kinh Thánh về sự sống vĩnh cửu trong Đức Chúa Giê-su. Và đó là chìa khóa: chúng ta có hy vọng này trong Đức Chúa Giê-su và những gì mà sự chết và sự phục sinh của Ngài ban hiến cho chúng ta. Nếu không, chúng ta có hy vọng gì?
Đọc 1 Cô-rinh-tô 15:12–19. Phao-lô nói gì ở đây về mối liên hệ mật thiết giữa sự phục sinh của Đấng Christ và niềm hy vọng về sự phục sinh của chính chúng ta?
Phao-lô nói rất rõ ràng: sự phục sinh của chúng ta không thể tách rời với sự phục sinh của Đấng Christ. Và nếu chúng ta không sống lại, thì điều đó có nghĩa là Đấng Christ đã không sống lại, và nếu Đấng Christ đã không sống lại, thì sao? “Thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình” (1 Cô-rinh-tô 15:17). Nói cách khác, khi chúng ta chết, chúng ta chết vĩnh viễn, và như vậy, tất cả đều vô nghĩa. Phao-lô đã chẳng nói điều đó sao, trong 1 Cô-rinh-tô 15:32 “Nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì hãy ăn, hãy uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”
Nếu sự tồn tại của chúng ta chỉ như là những tế bào dựa trên carbon, và “bảy mươi năm” (nếu chúng ta may mắn, không hút thuốc, không ăn junk food quá nhiều, không uống rượu) là tất cả những gì chúng ta nhận được, thì quả thật chúng ta đang ở trong tình trạng khó khăn. Không có gì ngạc nhiên khi Ellen G. White nói thêm, “Thiên đàng đáng giá đối với tất cả chúng ta, và nếu chúng ta mất thiên đàng, chúng ta sẽ mất tất cả.” — Son and Daughters of God, trang 349.
Hy vọng và đức tin chúng ta quý giá biết bao. Tại sao chúng ta phải làm tất cả những gì chúng ta có thể, nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, để bảo tồn điều đó?
Đọc Giăng 14:1–3. Đã gần 2.000 năm kể từ khi Đức Chúa Giê-su hứa sẽ trở lại. Làm sao chúng ta có thể giúp người khác thấy rằng, mặc dù thời gian lâu dài (điều đó thực sự không quan trọng), nhưng lời hứa này vẫn còn xác đáng ngay cả với thế hệ của chúng ta, một thế hệ quá xa với lúc Chúa Giê-su phán điều đó?
Bốn lần trong sách Khải huyền, Đức Chúa Giê-su đã nói rằng, “Ta đến mau chóng!” (Khải huyền 3:11; 22:7, 12, 20). Sự mong đợi ngày Ngài sớm đến đã thúc đẩy sứ mạng của hội thánh các sứ đồ, và thêm đầy hy vọng vào đời sống của vô số Cơ Đốc nhân trong suốt bao thế kỷ. Nhưng thế hệ này qua thế hệ khác đã tử vong mà biến cố được hứa này vẫn chưa xảy ra. Và do đó, nhiều người đã hỏi: Chúng ta sẽ còn phải rao giảng rằng “Đức Chúa Giê-su sắp trở lại nhanh chóng” cho đến bao giờ? Hay những lời báo trước này đã tạo ra một kỳ vọng không thực tế? (Đọc 2 Phi-e-rơ 3:4).
Nhiều Cơ Đốc nhân đã phàn nàn về sự “trì hoãn” kéo dài (so sánh với Ma-thi-ơ 25:5). Nhưng trên thực tế, làm thế nào chúng ta biết rằng đó là một “trì hoãn” dài? Lúc nào là thời điểm “thích hợp” để Đấng Christ trở lại? Liệu nó có phải là 50 năm trước, hay 150, 500? Điều thực sự quan trọng là lời hứa trong Kinh thánh rằng “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn”(2 Phi-e-rơ 3:9).
Mặc dù đã trải qua nhiều thế kỷ kể từ khi Đức Chúa Giê-su thăng thiên, nhưng lời hứa về sự tái lâm của Ngài vẫn còn chính đáng cho đến ngày hôm nay. Tại sao? Tại vì tất cả những gì chúng ta có chỉ là cuộc đời ngắn ngủi của chính mình (Thi thiên 90:10), tiếp theo là sự yên nghỉ vô thức trong mồ (Truyền đạo 9:5, 10), và sau đó là sự phục sinh cuối cùng, mà không có bất kỳ cơ hội nào sau đó để thay đổi số phận của chúng ta (Hê-bơ-rơ 9:27). Đối với một người đã chết (như đã nêu trong bài học thứ ba), tất cả những người chết đều là đang ngủ và vô thức, nên sự tái lâm của Đấng Christ không bao giờ quá một, hai giây sau khi họ chết. Đối với bạn, trong kinh nghiệm cá nhân của bạn (cũng như đối với tất cả dân sự của Đức Chúa Trời ở mọi thời đại), sự trở lại của Đấng Christ cũng không lâu hơn một giây phút sau khi bạn nhắm mắt qua đời. Vậy đó là rất mau chóng, phải không?
Mỗi ngày trôi qua đưa chúng ta đến gần hơn với sự xuất hiện vinh quang của Chúa Giê-su Christ trên những đám mây trên trời. Mặc dù chúng ta không biết khi nào Ngài sẽ đến, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng Ngài sẽ đến, và đó là điều thực sự quan trọng.
Có một mục sư trong một bài giảng lập luận rằng ông không quan tâm lắm lúc nào Đấng Christ trở lại. Tất cả những gì ông quan tâm là Đấng Christ sẽ trở lại. Bạn nghĩ sao về lập luận ấy, và nó có giúp ích gì cho bạn nếu bạn đang thất vọng về việc Đấng Christ vẫn chưa trở lại?
Một trong những phép lạ của Đức Chúa Giê-su, với chỉ một ít ổ bánh và cá, Ngài đã cho năm nghìn người ăn thỏa thuê (Giăng 6:1–14). Cảm thấy rằng đoàn dân lúc đó có ý định xưng Ngài là vua (Giăng 6:15), Đức Chúa Giê-su cùng các môn đồ đi thuyền sang bờ bên kia của Biển Ga-li-lê. Nhưng ngày hôm sau, đoàn dân đông theo Ngài đến đó, và Ngài đã giảng một bài giảng đầy quyền năng về Bánh Sự Sống, đặc biệt nhấn mạnh đến món quà sự sống đời đời (Giăng 6:22–59).
Đọc Giăng 6:26–51. Đức Chúa Giê-su liên kết ân tứ sự sống đời đời với sự phục sinh cuối cùng của người công bình ra sao?
Trong bài giảng của Ngài, Đức Chúa Giê-su nêu lên ba khái niệm căn bản liên quan đến sự sống đời đời. Thứ nhất, Ngài tự nhận Ngài là “bánh từ trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian” (Giăng 6:33, 58). Qua lời tuyên bố “Ta Là [tiếng Hy Lạp egō eimi] bánh của sự sống” (Giăng 6:35, 48), Đức Chúa Giê-su đã tự giới thiệu Ngài “TA LÀ Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” Vĩ Đại của Cựu Ước (Xuất Ê-díp-tô 3:14). Thứ hai, Đức Chúa Giê-su giải thích rằng sự sống đời đời có thể đạt được trong Ngài: “Ai đến cùng Ta” và “Ai tin Ta” sẽ có phước lành này (Giăng 6:35). Và sau cùng, Đức Chúa Giê-su nối liền món quà bất tử với sự phục sinh cuối cùng, cam đoan ba lần với đám đông đến nghe Ngài, “Ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt” (Giăng 6:40, 44, 54).
Đức Chúa Giê-su cũng đã đưa ra lời hứa diệu kỳ này: “Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin thì được sự sống đời đời” (Giăng 6:47). Vì vậy, món quà của sự sống vĩnh cửu đã là một thực tế hiện tại. Điều này không có nghĩa là người tin Chúa sẽ không bao giờ chết, vì chính cụm từ “Ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại” (Giăng 6:40) có nghĩa rằng người đó sẽ sống lại sau khi đã chết.
Hình ảnh này khá rõ ràng. Không có Đấng Christ, con người không có sự sống đời đời. Nhưng, ngay cả khi đã tin nhận Đấng Christ và được bảo đảm sự sống đời đời, chúng ta vẫn tiếp tục là người phàm tục và do đó, phải chịu cái chết tự nhiên. Khi tái lâm, Đức Chúa Giê-su sẽ phục sinh chúng ta, và sau đó, Ngài sẽ ban cho chúng ta món quà đã thuộc về chúng ta, đó là sự bất tử. Món quà được đảm bảo, không phải vì sự bất tử tự nhiên của linh hồn, mà là vì sự công bình của Đức Chúa Giê-su mà chúng ta nhận được bởi đức tin nơi Ngài.
Hãy suy gẫm về lời phán của Đức Chúa Giê-su rằng, nếu chúng ta tin Ngài, chúng ta có (ngay lúc này) sự sống đời đời! Làm thế nào lời hứa tuyệt vời này có thể giúp chúng ta đối phó với thực tế đau đớn của hiện tại rằng cuộc đời chúng ta thật ngắn ngủi (dầu chỉ là tạm thời)?
Người Tê-sa-lô-ni-ca tin chắc rằng một đời vĩnh cửu sẽ chỉ dành riêng cho những ai vẫn còn sống khi Chúa tái lâm. “Họ đã cẩn thận bảo vệ mạng sống của bạn bè và người thân, kẻo những người này phải chết và mất đi phước lành mà họ hằng trông mong nhận được khi Chúa đến. Nhưng lần lượt những người thân yêu của họ ra đi, và trong nỗi đớn đau, người Tê-sa-lô-ni-ca đã nhìn mặt người thân yêu đã chết một lần cuối; không dám hy vọng gặp lại nhau trong một đời tương lai.” — Ellen G. White, The Acts of the Apostles, trang 258.
Đọc 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13–18. Phao-lô đã sửa chữa quan niệm sai lầm này ra sao?
Qua lịch sử, câu “Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Giê-su cùng đến với Ngài” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14) đã được nhiều người diễn dịch quá ý của câu ấy. Những người chấp nhận lý thuyết về sự bất tử tự nhiên của linh hồn cho rằng Đấng Christ, khi Ngài tái lâm, sẽ mang theo với Ngài từ thiên đàng linh hồn của những người chết công bình đang ở trên trời với Đức Chúa Trời. Và những linh hồn đó sẽ được tái hợp với thân thể phục sinh tương ứng của họ. Nhưng cách giải thích này không hòa hợp với ý tưởng tổng quát của Phao-lô dạy về chủ đề này.
Hãy đọc lời bình luận của một giáo sư thần học (không phải Cơ Đốc Phục Lâm) về ý nghĩa thực sự của câu trên: “Lý do tại sao các Cơ Đốc nhân Tê-sa-lô-ni-ca khi họ thương khóc cho những thành viên trong hội thánh đã qua đời, họ vẫn nuôi hy vọng là Đức Chúa Trời ‘sẽ đem’ những người đã chết ấy đến, tức là Ngài sẽ làm cho những tín đồ ấy sống lại và khiến họ hiện diện khi Đức Chúa Giê-su Christ trở lại, để họ được ‘ở với Ngài.’ Điều đó có hàm ý là những tín đồ đã qua đời này sẽ không gặp bất lợi nào cả trong sự tái lâm của Đấng Christ mà sẽ ‘ở với Ngài’ qua cách chia sẻ bình đẳng với những tín đồ còn sống sự vinh hiển vào lúc tái lâm của Ngài.” Jeffrey AD Weima, 1–2 Thessalonians, Baker Exegetical Commentary on the New Testament (Grand Rapids, MI: Baker Academic, 2014) , P. 319.
Nếu linh hồn của những người chết công bình đã ở với Chúa trên thiên đàng, thì Phao-lô không cần phải đề cập đến sự sống lại cuối cùng như niềm hy vọng của Cơ Đốc nhân; Phao-lô có thể chỉ cần đề cập rằng những người công bình đã ở với Chúa. Nhưng thay vào đó, ông viết “những kẻ ngủ trong Đức Chúa Giê-su” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14) sẽ được sống lại từ kẻ chết vào thời kỳ cuối cùng.
Niềm hy vọng vào sự phục sinh cuối cùng đã mang lại nhiều an ủi cho những người Tê-sa-lô-ni-ca đau buồn. Cũng niềm hy vọng ấy có thể giúp chúng ta tự tin khi phải đối diện với những giờ phút đau đớn lúc bàn tay lạnh lẽo của cái chết cướp đi những người thân yêu của chúng ta.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 15:51–55. Phao-lô giải thích sự “mầu nhiệm” nào?
Một số nhà thuyết giáo nổi tiếng cho rằng “sự mầu nhiệm” (1 Cô-rinh-tô 15:51) này là “sự cất lên trời bí mật” của hội thánh, xảy ra bảy năm trước khi Đấng Christ tái lâm trong vinh quang. Trong “sự cất lên trời bí mật” này, các Cơ Đốc nhân trung tín đột nhiên, lặng lẽ và bí mật, được bốc lên thiên đàng trong khi những người khác vẫn ở lại và thắc mắc không hiểu điều gì đã xảy ra. Nhiều người có thể đột nhiên thấy mình đang ở trong một chiếc xe không người lái, bởi vì người lái xe đã được cất lên trời, và tất cả những gì “còn lại là quần áo của họ”. Bộ truyện Left Behind bán rất chạy, gồm 16 tập, được chuyển thành bốn cuốn phim, đã quảng bá cho sự dạy dỗ sai lầm này, và thu hút hàng triệu người đọc hay xem.
Dĩ nhiên là không có đoạn Kinh Thánh nào chứng thực sự khác biệt giả tạo nầy giữa việc “cất lên trời” và Sự tái lâm. “Sự mầu nhiệm” mà Phao-lô nói đến chỉ đơn giản là sự biến hóa của người công bình còn sống để cùng tham gia với người công bình được phục sinh vào lúc Đức Chúa Giê-su tái lâm. Đây chính là “sự cất lên trời.” Không có “sự cất lên trời bí mật” nào khác bởi vì sự tái lâm sẽ được chứng kiến bởi tất cả mọi người còn sống (Khải huyền 1:7), và cả hai, sự sống lại của người chết lẫn sự biến hoá của người sống, sẽ xảy ra khi tiếng kèn của Đấng Christ phục lâm vang lên (1 Cô-rinh-tô 15:51, 52).
Sự tái lâm của Đấng Christ sẽ mang đến cuộc gặp gỡ diệu kỳ nhất từ trước đến nay. Những người công chính đang sống được biến hoá “trong giây phút, trong nháy mắt” (1 Cô-rinh-tô 15:52). Với tiếng phán của Đức Chúa Trời, họ được sự vinh hiển; họ trở nên bất tử , và cùng với các thánh phục sinh, họ được cất lên để gặp Chúa của họ trên không trung. Các thiên sứ “nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời này cho đến tận phương kia” (Ma-thi-ơ 24:31).
“Các thiên sứ thánh bồng những em nhỏ đặt vào tay các bà mẹ của chúng. Các bạn hữu mà sự chết đã chia rẽ nay được sum họp lại để chẳng bao giờ phân ly nữa, và với những bài ca hoan hỉ, tất cả đều lên Thành của Đức Chúa Trời.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 570, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Đây quả là một lời hứa tuyệt vời, một điều mà chúng ta khó tưởng tượng nổi. Nhưng hãy nghĩ đến sự bao la của vũ trụ, cũng như sự phức tạp đáng kinh ngạc của sự sống nơi địa cầu. Chính sự sáng tạo đã làm chứng cho quyền năng diệu kỳ của Đức Chúa Trời. Tất cả những điều này dạy chúng ta điều gì về quyền năng của Đức Chúa Trời có thể biến hoá người sống và làm cho kẻ chết sống lại khi Đức Chúa Giê-su tái lâm?
Stephen Cave viết: “Người La Mã biết rõ về niềm tin của các Cơ Đốc nhân rằng một ngày nào đó họ sẽ sống lại từ mồ mã nên đã làm mọi cách để chế nhạo và cản trở những hy vọng đó. Trong một bản tường trình về cuộc đàn áp ở Gaul năm 177 CN, có ghi lại rằng các vị tử đạo bị hành quyết trước hết, rồi sau đó xác họ để cho thối rữa không chôn trong sáu ngày trước khi bị đốt cháy và tro ném xuống sông Rhône — Người La-mã nói: ‘Chúng ta hãy xem liệu chúng nó có sống lại hay không’ ” — Stephen Cave, Immortality: The Quest to Live Forever and How It Drives Civilization (New York: Crown Publishers, 2012), trang 104, 105.
Tuy nhiên, dẫn chứng trên của thuyết hoài nghi tôn giáo tuy là bi đát nhưng nó ở ngoài vấn đề; nó không chứng minh được gì về lời hứa Phục sinh trong Kinh Thánh. Quyền năng làm Đức Chúa Giê-su sống lại từ kẻ chết cũng có thể làm chúng ta sống lại, bất kể tình trạng cơ thể của chúng ta ra sao. Bởi vì Đấng có quyền năng sáng tạo và duy trì toàn bộ vũ trụ, thì Đấng ấy chắc chắn có thể biến hóa người sống và làm người chết sống lại.
“Phao-lô viết, ‘Thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài’ (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14). Nhiều người giải thích câu này là những người đang ngủ sẽ được mang theo từ trời với Đấng Christ; nhưng Phao-lô có ý rằng như Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết, nên Chúa sẽ gọi các thánh đồ đang ngủ ra khỏi mồ của họ và đưa họ lên trời với Ngài. Niềm an ủi quý giá! Một hy vọng vẻ vang! không chỉ đối với hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca, mà còn đối với tất cả Cơ đốc nhân ở bất cứ nơi đâu.” — Ellen G. White, The Acts of the Apostles, trang 259.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
CÂU GỐC: ”Vừa thấy người, tôi ngã xuống chân người như chết; nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Đừng sợ chi, ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời! Ta cầm chìa khoá của sự chết và âm phủ” (Khải huyền 1:17-18).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Ma-thi-ơ 27:62–66; Giăng 10:17, 18; Ma-thi-ơ 27:51–53; Giăng 20:11–29; 1 Cô-rinh-tô 15:5–8.
Trọng tâm của đức tin Cơ Đốc là sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su. Phao-lô đã nhấn mạnh điểm này khi ông viết: “Vì nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì Đấng Christ cũng đã chẳng sống lại nữa. Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời” (1 Cô-rinh-tô 15:16–18).
Vì vậy, dầu cho Phao-lô nhấn mạnh cái chết của Đấng Christ đến mực nào, hay điều đó quan trọng đến đâu – “Vì tôi đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” (1 Cô-rinh-tô 2:2) — điều ấy thật ra chẳng giúp gì được cho chúng ta nếu không có sự phục sinh của Ngài. Đó cho thấy mức độ quan trọng của sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su đối với toàn bộ đức tin Cơ Đốc và chương trình cứu rỗi.
Tuy nhiên, thật là khó hiểu tại sao sự phục sinh của Đấng Christ và cùng với đó là sự phục sinh của chúng ta lại quan trọng đến vậy, nếu như nhiều người vẫn tin rằng người chết trong Đấng Christ, sau khi chết hay “đi về nhà Chúa” thì được vào thiên đàng hưởng hạnh phúc ngay.
Bỏ tất cả những điều đó sang một bên, tuần này chúng ta sẽ xem xét sự phục sinh của Đấng Christ và tất cả những bằng chứng vững chắc mà Ngài đã cho chúng ta để chúng ta tin vào điều đó.
Sứ mệnh của Đấng Christ dường như đã kết thúc (và thậm chí thất bại) với cái chết của Ngài trên thập tự giá. Sa-tan đã thành công trong việc xúi giục Giu-đa phản bội Đấng Cứu Thế (Lu-ca 22:3, 4; Giăng 13:26, 27) và khiến các thầy tế lễ cả và trưởng lão đòi hỏi cái chết của Ngài (Ma-thi-ơ 26:59, Ma-thi-ơ 27:20). Sau khi Đức Chúa Giê-su bị bắt, “hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi” (Ma-thi-ơ 26:56), và Phi-e-rơ chối Ngài ba lần (Ma-thi-ơ 26:69–75). Bây giờ Đức Chúa Giê-su đang nằm trong một ngôi mộ được đẽo từ một tảng đá lớn, cửa vào được đóng kín và niêm phong bằng một tảng đá lớn khác, với vệ binh La Mã canh gác bảo vệ (Ma-thi-ơ 27:57–66), và theo dõi bởi các quyền năng ma quỷ vô hình. “Nếu có thể được, Sa-tan sẽ giam giữ Đấng Christ trong ngôi mộ.” — Ellen G. White, Manuscript Releases, tập 12, trang 412.
Trong suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ trên thế gian, Đấng Christ đã báo trước không chỉ về sự chết của mình trên thập giá mà còn về sự phục sinh nữa. Ngài dùng lối nói bao gồm của Đông phương — trong đó một phần của ngày có nghĩa như cả ngày — Đức Chúa Giê-su phán rằng, “Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm” (Ma-thi-ơ 12:39, 40). Trong những dịp khác, Đức Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng Ngài sẽ bị giết nhưng vào ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại (Ma-thi-ơ 16:21; Ma-thi-ơ 17:22, 23; Ma-thi-ơ 20:17–19). Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si biết về những lời tuyên bố này và chắc chắn họ đã thực hiện nhiều biện pháp với hy vọng chúng sẽ ngăn cản sự phục sinh của Ngài.
Đọc Ma-thi-ơ 27:62–66. Những hành động này đã cung cấp cho các thế hệ sau thêm bằng chứng về sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su như thế nào?
Tất cả các biện pháp an ninh được thi hành để giữ Đức Chúa Giê-su bị khoá trong ngôi mộ chỉ làm cho chiến thắng của Ngài trên sự chết và trên các tà thần hung ác càng đáng chú ý hơn vì tất cả các biện pháp phòng ngừa mà họ đã cố gắng thực hiện để bảo đảm việc Ngài không ra khỏi mộ đã chắng nghĩa lý gì.
Những người này cũng chắc chắn đã nghe nói về các phép lạ của Đức Chúa Giê-su hay chính họ cũng đã từng chứng kiến một vài phép lạ. Vậy mà họ lại nghĩ rằng một người lính canh ngôi mộ có thể ngăn cản Đấng đã làm nhiều phép lạ phục sinh?
Ngoài ra, đặt một người lính canh mộ để làm chi? Để trong trường hợp các môn đồ có thể đánh cắp xác và quay lại tuyên bố rằng Đức Chúa Giê-su đã sống lại từ kẻ chết? Nếu dân chúng hỏi, Chúa Giê-su Phục sinh đâu? Họ có thể nói: Chỉ cần tin lời của chúng tôi.
Hành động của họ cho thấy các thầy tế lễ cả sợ Chúa Giê-su như thế nào, ngay cả sau khi Ngài chết. Có lẽ, tận trong đáy lòng, họ sợ rằng biết đâu Ngài có thể sẽ phục sinh.
Sự chiến thắng của Đấng Christ trước Sa-tan và những thế lực xấu xa của hắn đã được bảo đảm tại thập tự giá và được xác nhận bởi ngôi mộ trống. “Khi Chúa Giê-su nằm trong mộ, Sa-tan đã chiến thắng. Hắn dám hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ không thể nào sống lại được. Hắn lấy xác Chúa, cho lính gác ngôi mộ, tìm cách giam giữ Đấng Christ như một tù nhân. Hắn vô cùng tức giận khi các sứ của hắn lại bỏ chạy khi tiếp cận với những sứ giả của thiên đàng. Khi nhìn thấy Đấng Christ khải hoàn xuất hiện, hắn biết rằng vương quốc của hắn sẽ kết thúc, và cuối cùng hắn phải chết.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 782. Mặc dù Đấng Christ đã chết về mặt nhân tính, nhưng thần tính của Ngài không hề chết. Trong thần tính của Ngài, Đấng Christ có quyền năng để phá vỡ mọi sự ràng buộc của sự chết.
Đọc Ma-thi-ơ 28:1–6; Giăng 10:17, 18; và Rô-ma 8:11. Ai là người trực tiếp tham gia vào sự phục sinh của Chúa Giê-su?
Trong sứ vụ của Ngài tại Sa-ma-ri/Pê-ra-ê, Đức Chúa Giê-su đã tuyên bố rằng chính Ngài có quyền phó và lấy lại sự sống mình (Giăng 10:17, 18). Với Ma-thê, Ngài nói: “Ta là sự sống lại và sự sống” (Giăng 11:25). Có những đoạn khác nói về sự phục sinh của Ngài như một hành động của Đức Chúa Trời (Công vụ 2:24, Rô-ma 8:11, Ga-la-ti 1:1, Hê-bơ-rơ 13:20). Ngay cả một thiên sứ quyền năng của Chúa cũng tham gia vào sự kiện vinh quang nầy (Ma-thi-ơ 28:1, 2).
Trong khi đó, Ma-thi-ơ 28:11–15 tiết lộ những nỗ lực vô ích và ngu xuẩn của những người lãnh đạo cứ muốn chống lại Đức Chúa Giê-su. Người lính canh La Mã thuật lại với những người lãnh đạo “biết mọi việc đã xảy đến” (Ma-thi-ơ 28:11). Điều này có ngụ ý rằng những người lính canh đã thấy sự sống lại. Nếu không, lời kể của họ có nghĩa gì? Một thiên sứ từ trời xuống, di chuyển hòn đá, ngồi trên đó, và các lính canh ngất xỉu? Điều kế tiếp mà họ biết là ngôi mộ trống không? Chắc là trong lúc lính La Mã bất tỉnh, thiên sứ đã mang xác Đức Chúa Giê-su đi chăng? Hay các môn đệ đã làm chuyện ấy? Hoặc ai đó đã lấy trộm xác? Bất kể điều gì đã xảy ra, xác của Đức Chúa Giê-su hiển nhiên đã biến mất.
Một thiên sứ từ trời hiện xuống, những người canh mộ ngất xỉu vì khiếp hãi, và ngôi mộ trống rỗng có lẽ đã đủ làm các nhà lãnh đạo tôn giáo hoang mang. Nhưng việc họ “cho những lính đó nhiều tiền bạc” (Ma-thi-ơ 28:12) để những người này giữ yên lặng ngụ ý rằng những gì mà các người lính thuật lại đã làm họ vô cùng bức xúc. Và dĩ nhiên là các người lính báo cáo về sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su.
Một số người chế giễu ý tưởng rằng những người đầu tiên nhìn thấy Đấng Christ phục sinh là người La Mã. Tại sao? Sự thật này tượng trưng gì cho việc sắp xảy ra: phúc âm cũng đến với dân ngoại?
“Và nầy, cái màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên chí dưới, đất thì rúng động, đá lớn bể ra, mồ mả mở ra, và nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại. Sau khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy”(Ma-thi-ơ 27:51–53).
Lời tường thuật đáng kinh ngạc này dạy chúng ta điều gì về sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su và những gì biến cố ấy đã hoàn tất?
Một trận động đất đánh dấu cái chết của Đức Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 27:50, 51), và một trận động đất khác đánh dấu sự phục sinh của Ngài (Ma-thi-ơ 28:2). Vào lúc Chúa Giê-su chết, “đất thì rúng động, đá lớn bể ra, mồ mả mở ra, và nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại. Sau khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy” (Ma-thi 27:51–53). Những vị thánh này đã được sống lại vinh quang để làm nhân chứng về sự phục sinh của chính Đấng Christ và cũng là nguyên mẫu của những người sẽ được sống lại trong sự phục sinh cuối cùng. Vì vậy, ngay sau khi Chúa Giê-su sống lại, nhiều người dân Giu-đa đã có được bằng chứng hùng hồn để tin vào sự phục sinh của Ngài và do đó chấp nhận Ngài là Đấng Cứu Rỗi của họ, điều mà nhiều người đã làm, trong đó có nhiều thầy tế lễ (xem Công vụ 6:7).
“Trong chức vụ của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã làm cho kẻ chết sống lại. Ngài đã khiến con trai của góa phụ Na-in, con gái của Giai-ru và La-xa-rơ sống lại. Nhưng những người này không được mặc cái áo bất tử. Sau khi sống lại, họ vẫn phải chịu cái chết. Nhưng những người ra khỏi mồ khi Đấng Christ phục sinh đã được sống lại đời đời. Họ cùng Ngài thăng thiên như những chiến tích của sự chiến thắng trên sự chết và mồ mả của Ngài. . . Những người này đi vào thành, và hiện ra với nhiều người, tuyên bố rằng: Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, và chúng tôi được sống lại với Ngài. Do đó, chân lý thiêng liêng của sự phục sinh đã được bất tử hóa.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 786.
Nói theo cách người đời, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão có nhiều lợi thế lớn. Họ nắm giữ quyền lực tôn giáo của quốc gia và thậm chí có thể thuyết phục chính quyền La Mã và đám đông giúp họ thực hiện các kế hoạch của họ. Nhưng họ quên rằng “Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người và Ngài muốn ban cho ai tùy ý” (Đa-ni-ên 4:32). Những lời dối trá của họ mâu thuẫn và trở nên vô hiệu bởi sự hiện diện của những vị thánh đã phục sinh đó.
Cho dầu thế gian có trở nên hỗn loạn tệ bại đến đâu, tại sao chúng ta có thể tin tưởng vào chiến thắng của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta khi chúng ta vẫn đang vật lộn trong thế giới sa ngã này?
Đọc Giăng 20:11–29 và 1 Cô-rinh-tô 15:5–8. Các môn đồ phản ứng thế nào khi lần đầu tiên họ gặp Đấng Christ phục sinh?
Hai thiên sứ tại ngôi mộ trống nói với Ma-ri Ma-đờ-len và một số phụ nữ khác rằng Đức Chúa Giê-su đã sống lại (Ma-thi-ơ 28:1, 5–7; Mác 16:1–7; Lu-ca 24:1–11). Nhưng sau đó chính Đức Chúa Giê-su hiện ra cùng họ, và họ thờ phượng Ngài (Ma-thi-ơ 28:1, 9, 10; Giăng 20:14–18). Ngài cũng hiện ra cho Phi-e-rơ (Lu-ca 24:34, 1 Cô-rinh-tô 15:5), và với hai môn đồ trên đường đến Em-ma-út, những người cảm thấy trong lòng nóng nảy khi Ngài nói chuyện với họ (Mác 16:12, Lu-ca 24:13–35). Khi Đức Chúa Giê-su bước vào Phòng Cao, lúc đầu các môn đồ vô cùng kinh hãi và sợ sệt nhưng sau đó tràn đầy niềm vui và ngạc nhiên về những gì đã xảy ra (Lu-ca 24:33–49, Giăng 20:19–23). Một tuần sau, Đức Chúa Giê-su lại vào phòng ấy mà không cần cửa mở, và sau đó cả Thô-ma cũng tin vào sự phục sinh của Ngài (Giăng 20:24–29).
Trong suốt bốn mươi ngày từ khi Ngài phục sinh cho đến lúc thăng thiên, Đức Chúa Giê-su hiện ra “cho hơn năm trăm anh em xem thấy”(1 Cô-rinh-tô 15:6) và cho Gia-cơ (1 Cô-rinh-tô 15:7). Đức Chúa Giê-su cùng ăn sáng với một số môn đồ tại bờ Biển Ga-li-lê, tiếp theo là cuộc đàm thoại với Phi-e-rơ (Giăng 21:1–23). Có thể Đức Chúa Giê-su đã có những lần xuất hiện khác (Công vụ 1:3) trước khi Ngài thăng thiên (Lu-ca 24:50–53, Công vụ 1:1–11). Phao-lô coi mình cũng là chứng nhân của Đấng Christ Phục sinh, Ngài đã hiện ra với ông trên đường đến Đa-mách (1 Cô-rinh-tô 15:8; so sánh với Công vụ 9:1–9).
Khi các môn đồ nói với Thô-ma (người vắng mặt khi Đức Chúa Giê-su hiện ra lần đầu với họ, rằng họ đã thấy Chúa Phục sinh, Thô-ma phản ứng: “Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin” (Giăng 20:25). Một tuần sau, Đức Chúa Giê-su tái xuất hiện với các môn đồ, với sự hiện diện của Thô-ma, Đức Chúa Giê-su phán cùng người rằng: “Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta; chớ cứng lòng, song hãy tin!” (Giăng 20:27). Sau đó, Thô-ma thú nhận, “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời của tôi!” Và Đức Chúa Giê-su phán, “Thô-ma, vì ngươi đã thấy Ta, nên ngươi tin. Phước cho kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!” (Giăng 20:29).
“Phước cho kẻ chẳng từng thấy mà đã tin.” Tuy chính mắt chúng ta không được thấy Đấng Christ phục sinh, nhưng chúng ta có lý do nào khác cho đức tin của mình?
Đọc 1 Cô-rinh-tô 15:20 và Phục truyền 26:1–11. Phao-lô gọi Đấng Christ Phục sinh là “trái đầu mùa của những kẻ ngủ” có nghĩa gì?
Việc dâng “hoa quả đầu mùa” là một tập quán nông nghiệp của người Y-sơ-ra-ên cổ đại với ý nghĩa tôn giáo sâu sắc. Đó là sự công nhận thiêng liêng đối với Đức Chúa Trời là Đấng Cung Cấp nhân từ, Đấng đã giao phó cho những người quản lý của Ngài những vùng đất để trồng trọt và gặt hái (đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 23:19; 34:26, Lê-vi Ký 2:11–16, Phục truyền 26:1–11). Hoa quả đầu mùa cho thấy rằng mùa gặt hái đã bất đầu và cả chất lượng của sản phẩm nữa.
Theo Wayne Grudem, “khi gọi Đấng Christ là ‘trái đầu mùa’ (Gr. Aparchē), Phao-lô sử dụng một phép ẩn dụ của nông nghiệp để chỉ rằng chúng ta sẽ giống như Đấng Christ. Cũng giống như ‘trái đầu mùa’ hoặc hương vị đầu tiên của mùa vụ chín sẽ cho thấy phần còn lại của mùa gặt sẽ như thế nào đối với mùa vụ đó, vì vậy Đấng Christ với tư cách là ‘trái đầu mùa’ cho thấy thân thể phục sinh của chúng ta sẽ như thế nào khi, trong mùa gặt cuối của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ khiến chúng ta sống lại từ cõi chết và đưa chúng ta đến sự hiện diện của Ngài.” — Wayne Grudem, Systematic Theology, 1994, trang 615.
Điều đáng nhớ là Đức Chúa Giê-su ra khỏi mồ mả với một thân thể đã được vinh hiển, nhưng Ngài vẫn mang dấu vết của sự đóng đinh của mình (Giăng 20:20, 27). Vậy có nghĩa là con cái Đức Chúa Trời sống lại cũng sẽ mang trên thân thể những dấu vết của những khổ đau họ đã trải qua? Trong trường hợp của sứ đồ Phao-lô, liệu ông có còn mang trong thân thể vinh hiển mới “cái giằm xóc vào thịt” (2 Cô-rinh-tô 12:7) và những “dấu vết của Đức Chúa Giê-su” (Ga-la-ti 6:17)?
Cho đến khi qua đời, Phao-lô “vẫn luôn mang theo trong thân thể những dấu hiệu vinh hiển của Đấng Christ, trong đôi mắt của ông, vốn đã bị mù bởi ánh sáng trên trời (xin xem Công vụ 9:1–9).” — Ellen G. White, The Story of Redemption, trang 275. Nhưng điều này không có nghĩa là Phao-lô hoặc bất kỳ ai khác trong số những người được cứu chuộc sẽ được sống lại nhưng còn mang những dấu vết của những đau khổ của chính họ (so sánh với 1 Cô-rinh-tô 15:50–54). Trong trường hợp của Đấng Christ, “Ngài sẽ mang lấy dấu đinh của sự tàn ác đó mãi mãi. Mỗi một vết đinh trên tay của Ngài sẽ nói lên sự cứu chuộc vĩ đại mà Ngài đã dành cho nhân loại, và cái giá rất cao mà Ngài đã phải trả.” — Ellen G. White, Early Writings, trang 179. Dấu đinh trên thân thể Chúa chính là sự bảo đảm rằng tất cả những vết sẹo của chúng ta sẽ được hoàn toàn chữa lành.
Đấng Christ sẽ mãi mãi mang những vết sẹo của sự đóng đinh. Điều đó cho thấy gì về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta và Ngài đã trả giá cao thế nào để cứu chuộc chúng ta? Và qua dấu đinh đó, chúng ta hiểu thế nào về sự hy sinh của Ba Ngôi Đức Chúa Trời để cứu chuộc chúng ta?
Quan điểm thời hiện đại không tin vào những điều như sự phục sinh của Đấng Christ. Tuy nhiên, những bằng chứng lịch sử lại quá rõ ràng đến nỗi những người vốn không tin vào sự phục sinh cũng bắt buộc phải chấp nhận rằng nhiều người đã tin rằng họ đã chứng kiến sự phục sinh của Chúa Giê-su. Do đó, nhóm người chống đối sự phục sinh cố gắng để giải thích điều gì đã làm cho nhiều người khác nhau này tin rằng họ đã chứng kiến sự phục sinh của Đấng Christ.
Có người cho rằng tất cả các môn đồ đều có ảo tưởng về Đức Chúa Giê-su phục sinh; người khác thì cãi rằng Đức Chúa Giê-su thực sự chưa chết mà chỉ ngất đi rồi sống lại sau khi Ngài được mang xuống khỏi thập tự, và khi Ngài xuất hiện trở lại, những người theo Ngài nghĩ rằng Ngài đã sống lại từ cõi chết. Một số người khác (tin nổi hay không) đã tranh luận rằng Đức Chúa Giê-su có một người anh em song sinh mà các môn đồ nhầm là Đấng Christ Phục sinh. Nói cách khác, bằng chứng lịch sử về sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su Christ vững chắc đến nỗi người ta phải đặt ra những loại lý lẽ như vậy để cố gắng bác bỏ sự phục sinh.
“Tiếng kêu từ thập giá, ‘Mọi việc đã được trọn’ đã được vang lên giữa vòng người chết. Nó xuyên qua các bức tường của mộ, và triệu hồi những kẻ ngủ yên thức dậy. Cũng một thể ấy, tiếng nói của Đấng Christ sẽ được nghe từ trời. Tiếng nói đó sẽ xuyên qua và mở tung các ngôi mộ, và những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại. Vào thời điểm phục sinh của Đấng Cứu Rỗi, một số ngôi mộ đã được mở ra, nhưng vào lúc Ngài tái lâm, tất cả những kẻ chết trong Ngài sẽ nghe tiếng Ngài và sẽ được sống lại vinh hiển, bất tử. Quyền năng đã làm cho Đấng Christ từ kẻ chết sống lại, cũng sẽ làm cho Hội thánh của Ngài sống lại, và cùng với Ngài làm hiển vinh Hội thánh, trên mọi chức quyền, trên mọi quyền lực, trên mọi danh xưng, không chỉ trong thế gian này, mà còn trong thế gian mai sau.” — Ellen G. White, The Desires of Ages, trang 787.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời” (Giăng 3:14, 15).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Khải huyền 13:8; Ma-thi-ơ 17:22, 23; Mác 9:30–32; Giăng 19:1–30; Rô-ma 6:23; 1 Cô-rinh-tô 1:18–24.
Người ta thường nói rằng có hai thứ chúng ta không thể tránh được: sự chết và thuế. Điều đó không hoàn toàn đúng. Thuế người ta có thể trốn được, nhưng không ai trốn được sự chết. Họ có thể trì hoãn cái chết vài ba năm, nhưng sớm muộn gì cái chết cũng ập đến. Và bởi vì chúng ta biết rằng những người chết, cả người công bình và kẻ gian ác, lúc đầu đều ở cùng một nơi, nên hy vọng về sự phục sinh của chúng ta là điều quan trọng nhất. Như Phao-lô đã nói, nếu không có hy vọng này, thì ngay cả “những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời” (1 Cô-rinh-tô 15:18), một câu nghe hơi lạ “những kẻ ngủ trong Đấng Christ” lại đang xôn xao về thiên đàng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Thế nên, sự phục sinh của Đấng Christ là trọng tâm đức tin của chúng ta, bởi vì trong sự phục sinh của Ngài, chúng ta có sự đảm bảo về sự phục sinh của chính chúng ta. Nhưng trước khi Đấng Christ từ kẻ chết sống lại, thì tất nhiên Ngài phải chết. Đây là lý do tại sao, giữa cơn đau đớn của Ghết-sê-ma-nê, lúc chờ đợi cái chết sắp đến, Ngài đã cầu nguyện: “Hiện nay tâm thần ta bối rối; ta sẽ nói gì?… Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ nầy! Nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ nầy!” (Giăng 12:27). Và mục đích đó là để chết.
Tuần này, chúng ta sẽ tập trung vào cái chết của Đấng Christ và ý nghĩa của lời hứa về sự sống đời đời.
Đọc Khải huyền 13:8, Công vụ 2:23 và 1 Phi-e-rơ 1:19, 20. Làm sao Đấng Christ được xem như là “Chiên Con bị giết từ buổi sáng thế”?
“Hết thảy những dân sự trên đất đều thờ lạy nó, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế” (Khải huyền 13:8). Hiểu được ý tưởng về việc Đấng Christ “bị giết từ buổi sáng thế” là điều quan trọng. Chúng ta phải hiểu ý này theo nghĩa tượng hình (sách Khải huyền chứa đầy các biểu tượng), vì Đấng Christ đã không bị đóng đinh cho đến hàng ngàn năm sau khi Trái đất được tạo dựng. Điều mà câu Kinh Thánh này muốn nói là kế hoạch cứu rỗi đã được chuẩn bị trước khi thế gian được tạo ra. Và trọng tâm của kế hoạch đó sẽ là sự chết của Đức Chúa Giê-su, Chiên Con của Đức Chúa Trời, trên thập tự giá.
Đọc Tít 1:2. Câu này dạy chúng ta điều gì về kế hoạch cứu rỗi, với trọng tâm là sự chết của Đấng Christ, đã được tiên liệu từ muôn thuở trước?
“Kế hoạch cứu chuộc chúng ta không phải là một sự suy nghĩ lại, hay là một kế hoạch được thành hình sau sự sa ngã của A-đam. . . Đó là sự hé lộ những nguyên tắc mà từ muôn thuở đã là nền tảng của ngai Đức Chúa Trời.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 22.
Kế hoạch đó được tiết lộ trước tiên cho A-đam và Ê-va trong Vườn Ê-đen (Sáng thế Ký 3:15, 21), và nó được điển hình qua mỗi sự hy sinh đổ máu trong suốt Cựu Ước. Ví dụ, trong khi thử thách đức tin của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời đã cung cấp một con chiên đực để hiến tế thay vì Y-sác (Sáng thế Ký 22:11–13). Bản chất thay thế này được thấy rõ ràng hơn qua sự hy sinh chuộc tội của Đấng Christ trên thập tự giá.
Thế nên, trọng tâm của toàn bộ kế hoạch cứu rỗi là sự chết thay của Đức Chúa Giê-su, được biểu tượng trong nhiều thế kỷ qua các cuộc tế lễ dâng con sinh tế, mỗi con vật là biểu tượng cho sự chết của Chúa Giê-su trên thập giá với tư cách là “Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).
Dâng con sinh tế là một nghi lễ ghê sợ và đẫm máu – đó là sự thật. Nhưng tại sao sự ghê rợn và đẫm máu này lại phải chính là như vậy, để dạy chúng ta về việc Đấng Christ chết thay cho chúng ta và cái giá khủng khiếp của tội lỗi là gì?
Các môn đồ phản ứng ra sao trước những lời tiên đoán của Đức Chúa Giê-su về những đau đớn và cái chết của chính Ngài, và các phản ứng ấy dạy chúng ta điều gì về nguy cơ hiểu sai Kinh Thánh?
Ma-thi-ơ 16:21–23
Ma-thi-ơ 17:22, 23; Mác 9:30–32; Lu-ca 9:44, 45
Lu-ca 18:31–34
Đức Chúa Giê-su được sinh ra để chết, và Ngài đã sống để chết. Mỗi bước Ngài bước đều đưa Ngài đến gần sự hy sinh chuộc tội vĩ đại trên thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha hơn. Hoàn toàn ý thức về sứ mệnh của mình, Ngài không cho phép bất cứ ai hoặc bất cứ điều gì có thể khiến Ngài sao lãng mục đích. Thật vậy, “Toàn bộ cuộc đời của Ngài là lời tựa cho sự chết của mình trên thập tự giá.” — Ellen G. White, Fundamentals of Christian Education, trang 382.
Trong năm cuối của sứ vụ Ngài trên trần thế, Đức Chúa Giê-su càng nói rõ ràng hơn với các môn đồ về sự chết sắp đến của mình. Nhưng họ dường như không thể và không muốn chấp nhận thực tế của những lời chia sẻ ấy. Với những quan niệm sai lầm về vai trò của Đấng Mê-si, điều mà họ không muốn nghĩ đến là Đức Chúa Giê-su, Đấng Mê-si, phải chết. Nói tóm lại, thần học sai lầm của họ đã đưa họ vào những đau đớn và khổ sở không cần thiết.
Ngay với Ni-cô-đem, Đức Chúa Giê-su đã tuyên bố, “Xưa Môi-se treo con rắn trong đồng vắng thể nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời” (Giăng 3:14, 15). Khi ở Sê-sa-rê Phi-líp, Đức Chúa Giê-su nói với các môn đồ rằng Ngài “phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại” (Ma-thi-ơ 16:21). Trong lần đi qua Ga-li-lê (Mác 9:30–32) và trong chuyến hành trình cuối đến Giê-ru-sa-lem (Lu-ca 18:31–34), Đức Chúa Giê-su lại nói với các môn đồ về sự chết và sự phục sinh của mình. Vì đó không phải là những gì họ muốn nghe, nên họ đã không lắng nghe. Thật dễ dàng cho chúng ta làm điều tương tự.
Mọi người, đặc biệt là những người được Đức Chúa Trời chọn, đã có những quan niệm sai lầm về sự xuất hiện đầu tiên của Đấng Mê-si. Ngày nay, một số quan niệm sai lầm về sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su là gì?
Đọc Giăng 19:1–30. Lời tuyên bố của Đức Chúa Giê-su, “Mọi việc đã được trọn” cho chúng ta thông điệp trọng yếu nào?
Cuối cùng, giây phút trọng yếu cho Đấng Christ, cho nhân loại, và cho toàn vũ trụ đã đến. Trong nỗi thống khổ sâu đậm, Ngài chiến đấu chống lại quyền lực của bóng tối. Ngài dần bước đến vườn Ghết-sê-ma-nê, trải qua những phiên án bất công, và bước lên đồi Gô-gô-tha. Các ác thần đang cố gắng đánh bại Ngài. Trong khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, các trưởng lão chế nhạo Ngài rằng: “Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì chúng ta mới tin” (Ma-thi-ơ 27:42).
Đấng Christ có khả năng tự cứu mình và xuống khỏi thập giá chăng? Đúng, Ngài có thể, nhưng không muốn làm như vậy. Tình yêu vô điều kiện của Ngài cho toàn thể nhân loại, kể cả những kẻ nhạo báng đó, đã không cho phép Ngài bỏ cuộc. Thực ra, “những kẻ nhạo báng cũng nằm trong số những người mà Ngài đang chết để cứu; và Ngài không thể xuống khỏi thập tự giá để tự cứu mình, bởi vì Ngài bị níu giữ, không phải bởi mấy cây đinh, mà bởi ý muốn của Ngài để cứu họ.” — Alfred Plummer, An Exegetical Commentary on the Gospel According to S. Matthew (London 1910), trang 397.
Tại đây, trong sự đau khổ của Đấng Christ, Đức Chúa Giê-su đã đánh bại vương quốc của Sa-tan, mặc dù chính Sa-tan đã mưu toan các biến cố dẫn đến thập tự giá, kể cả sự phản bội của Giu-đa (Giăng 6:70; Giăng 13:2, 27). “Bằng cách nào đó, tuy Giăng không cố gắng mô tả, cái chết của Đức Chúa Giê-su vừa là một hành động của Sa-tan vừa là một hành động mà qua đó Đức Chúa Giê-su giành được chiến thắng trước Sa-tan.” — George E. Ladd, A Theology of the New Testament (Cambridge trang 192).
Từ thập tự giá Đấng Christ kêu lên, “Mọi việc đã được trọn!” (Giăng 19:30) không phải Ngài chỉ ngụ ý rằng sự thống khổ của Ngài đã đến hồi kết thúc, nhưng điều quan trọng hơn là Ngài đã chiến thắng trong cuộc tranh chấp vĩ đại của lịch sử và vũ trụ chống lại Sa-tan và các thế lực tà ác của hắn. “Cả thiên đàng đã đắc thắng trong chiến thắng của Đấng Cứu Thế. Sa-tan đã bị đánh bại, và biết rằng vương quốc của hắn đã bị mất.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 758.
Thật khó để hiểu được sự tương phản đáng kinh ngạc ở đây: trong sự sỉ nhục tột cùng của Con Đức Chúa Trời thì Ngài đã chiến thắng, cho chúng ta và cho vũ trụ, chiến thắng vĩ đại nhất và vinh quang nhất.
Hãy nghĩ về sự tệ hại của tội lỗi đến nỗi phải lấy cái chết của Đấng Christ để chuộc tội. Sự thật này dạy chúng ta điều gì về sự vô ích của việc chúng ta lấy công sức mình để kiếm điểm trước mặt Đức Chúa Trời? Nói cho cùng, chúng ta có thể làm được gì hơn để thêm vào những gì Đấng Christ đã làm cho chúng ta? Mang câu trả lời của bạn đến lớp vào ngày Sa-bát.
Đọc Giăng 3:14–18 và Rô-ma 6:23. Sự chết của Đấng Christ đã đạt được gì cho chúng ta?
Khi Chúa Giê-su đến sông Giô-đanh để chịu phép báp-têm, Giăng Báp-tít đã thốt lên: “Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29). Lời tuyên bố này thừa nhận rằng Đấng Christ chính là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng đã được tất cả các của lễ chân chính trong Cựu Ước ám chỉ đến.
Nhưng lễ chuộc tội bởi con sinh tế không thể tự nó cất bỏ tội lỗi (Hê-bơ-rơ 10:4). Chúng chỉ cung cấp một sự tha thứ có điều kiện tùy thuộc vào hiệu quả của sự hy sinh trong tương lai của Đấng Christ trên thập tự giá. “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín và công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (1 Giăng 1:9).
Đọc Giăng 3:16, 17. Chúng ta có được hy vọng lớn lao nào từ những câu này, nhất là khi chúng ta cảm thấy mình thật đáng bị lên án cho những điều mình đã làm?
Hãy nghĩ xem tất cả các điều này có nghĩa gì. Đức Chúa Giê-su, Đấng đã tạo ra vũ trụ (Giăng 1:1–3), đã hiến chính Ngài cho mỗi người chúng ta như một của lễ chuộc tội, để chúng ta không phải bị chịu án phạt cho những gì chúng ta đáng bị lên án. Đây là lời hứa tuyệt vời của phúc âm.
Đức Chúa Giê-su Christ đã tuyên bố rằng “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” để chết cho chúng ta (Giăng 3:16). Nhưng chúng ta đừng bao giờ quên rằng Đấng Christ đã tự nguyện dâng chính Ngài thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 9:14). Luther gọi thập tự giá là “bàn thờ trên đó Ngài [Đấng Christ], được thiêu đốt bởi ngọn lửa của tình yêu vô biên bừng cháy trong trái tim Ngài, đã dâng của lễ sống và thánh khiết của thân thể và huyết mình lên Cha với sự cầu thay nhiệt thành, những tiếng kêu thống thiết, và những giọt nước mắt nồng nàn, âu lo (Hê-bơ-rơ 5:7).” — Luther’s Works, tập 13, 1956, trang 319. Đấng Christ đã chết một lần đủ cả (Hê-bơ-rơ 10:10) và một lần mãi mãi (Hê-bơ-rơ 10:12), vì sự hy sinh của Ngài là trọn vẹn và chẳng bao giờ mất đi quyền năng.
Và còn hơn thế nữa: “Dầu chỉ một linh hồn chấp nhận phúc âm ân điển của Ngài, thì Đấng Christ cũng sẽ, để cứu người đó, chọn cuộc sống vất vả nhục nhằn và cái chết xấu hổ của Ngài.” — Ellen G. White, The Ministry of Healing, trang 135.
Đọc lại Giăng 3:16, thay thế các từ “thế gian” và “bất cứ ai” bằng tên riêng của bạn. Đây là một lời hừa tuyệt vời. Làm thế nào bạn có thể học được, qua từng giây phút, nhất là khi bị cám dỗ phạm tội, cách chiếm lấy lời hứa tuyệt vời này cho mình?
Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:18–24. Phao-lô nói gì về thập tự giá, và người đối chiếu nó với “sự khôn ngoan của thế gian” ra sao? Tại sao, ngay cả ngày nay, khi “chủ nghĩa duy vật” (ý tưởng rằng tất cả thực tế chỉ là vật chất, nghĩa là không có Đức Chúa Trời) thống trị “sự khôn ngoan của thế gian”, thì thông điệp về thập tự giá lại quan trọng đến vậy?
Thập giá của Đấng Christ là trung tâm của lịch sử cứu rỗi. “Muôn đời cũng không bao giờ có thể hiểu được chiều sâu của tình yêu được bày tỏ nơi thập tự giá trên đồi Gô-gô-tha. Ở đó, tình yêu thương vô bờ bến của Đấng Christ và lòng ích kỷ vô hạn của Sa-tan đã đối mặt với nhau.” — Stephen N. Haskell, The Cross and Its Shadow (South Lancaster, MA: Bible Training School, 1914).
Trong khi Đấng Christ khiêm nhường hiến dâng chính Ngài làm giá chuộc nhân loại, thì Sa-tan ích kỷ nhấn chìm Ngài trong thống khổ và đau đớn. Sự chết mà Đấng Christ đã gánh thay cho chúng ta không chỉ là sự chết tạm thời mà cả nhân loại đang phải đối mặt. Sự chết mà Ngài đã chết thay cho chúng ta là sự chết đời đời, nhờ vậy bất kỳ ai nếu tin nhận Ngài thì bản thân sẽ không bao giờ trải qua sự chết đời đời đó.
Về ý nghĩa của Thập tự giá, có một số khía cạnh quan trọng mà chúng ta nên nhớ. Thứ nhất, Thập tự giá là sự mặc khải tối cao về công lý của Đức Chúa Trời chống lại tội lỗi (Rô-ma 3:21–26). Thứ hai, Thập tự giá là sự mặc khải tối cao về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho tội nhân (Rô-ma 5:8). Thứ ba, Thập tự giá là nguồn năng lượng sung túc để phá bỏ xiềng xích tội lỗi (Rô-ma 6:22, 23; 1 Cô-rinh-tô 1:17–24). Thứ tư, Thập tự giá là hy vọng duy nhất của chúng ta về sự sống vĩnh cửu (Phi-líp 3:9–11; Giăng 3:14–16; 1 Giăng 5:11, 12). Và thứ năm, Thập tự giá là liều thuốc giải độc duy nhất chống lại một cuộc nổi loạn trong tương lai trong vũ trụ (Khải huyền 7:13–17, Khải huyền 22:3).
Những sự thật quan trọng về Thập tự giá này không thể nào được khám phá bởi “sự khôn ngoan của thế gian”. Ngược lại, từ thời đó cho đến bây giờ, việc rao giảng về thập tự giá được xem là “sự ngu xuẩn” đối với sự khôn ngoan của thế gian, một khôn ngoan thậm chí thường không thừa nhận sự thật minh bạch nhất là: có một Đấng Tạo Hóa hiện hữu (xem Rô-ma 1:18–20).
Chữ “ngu xuẩn” trong tiếng Hy Lạp hay chữ “ngu ngốc” trong tiếng Anh liên kết với nhau và có nghĩa là lời rao giảng về thập tự giá là “rồ dại” theo “sự khôn ngoan của thế gian”. Sự khôn ngoan thế gian không thể biết Đức Chúa Giê-su hoặc sự cứu rỗi mà Ngài ban cho chúng ta qua sự chết thay của Ngài trên thập tự giá.
Cho dầu có bất cứ giá trị nào mà “sự khôn ngoan của thế gian” có thể mang lại, tại sao chúng ta phải nhất quyết không bao giờ để nó can thiệp vào những gì chúng ta tin về Đức Chúa Giê-su, và niềm hy vọng mà chúng ta nhận được qua “sự giảng rồ dại”(1 Cô-rinh-tô 1:21)?
“Tôi thấy rằng cả thiên đàng đều quan tâm đến sự cứu rỗi của chúng ta; lẽ nào chúng ta lại sẽ thờ ơ? Hay chúng ta sẽ bất cẩn, xem như đó là một chuyện không quan trọng việc chúng ta được cứu hay bị mất? Chúng ta có nên xem nhẹ sự hy sinh đã dành cho chúng ta không? Một số đã làm vậy. Họ đã giỡn cợt với sự thương xót ban bố cho họ. Và cái cau mày của Đức Chúa Trời đang ở trên họ. Thần của Đức Chúa Trời sẽ không phải lúc nào cũng chịu đau buồn. Ngài sẽ bỏ đi nếu bị đau buồn một chút lâu hơn. Sau tất cả những gì Đức Chúa Trời có thể làm để cứu loài người, nếu qua đời sống mình, họ biểu hiện rằng họ coi thường sự thương xót đã ban cho của Đức Chúa Giê-su, thì cái chết sẽ là phần của họ, và sẽ phải trả giá đắt. Đó sẽ là một cái chết đáng sợ; vì họ sẽ phải cảm thấy sự thống khổ mà Đấng Christ đã cảm thấy trên thập tự giá để mua cho họ sự cứu chuộc mà họ đã từ chối. Và sau đó họ sẽ nhận ra những gì họ đã mất — cuộc sống vĩnh cửu và tài sản thừa kế không bao giờ hư mất. Sự hy sinh cao cả đã được thực hiện để cứu các linh hồn cho chúng ta thấy giá trị của chúng. Một khi linh hồn quý giá bị mất đi, nó sẽ mất đi mãi mãi.” — Ellen G. White, Testimonies for the Church, quyển 1, trang 124.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” (Giăng 11:25, 26).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giu-đe 9, Lu-ca 9:28–36, 1 Các Vua 17:8–24, Lu-ca 7:11–17, Mác 5:35–43, Giăng 11:1–44.
Cựu Ước đề cập đến sự phục sinh mà chúng ta đã nghiên cứu phần lớn dựa trên kỳ vọng của các cá nhân (Gióp 19:25–27, Hê-bơ-rơ 11:17–19, Thi thiên 49:15, Thi thiên 71:20) và vào những lời hứa cho tương lai (Đa-ni-ên 12:1, 2, 13). Tuy nhiên, chúng ta cũng có những câu chuyện đầy cảm hứng về những trường hợp mà những người thực sự được sống lại từ cõi chết.
Sự phục sinh đầu tiên là của Môi-se (Giu-đe 9, Lu-ca 9:28–36). Trong thời kỳ các vua của Y-sơ-ra-ên, con trai của bà góa làng Gia-rê-pha (1 Các Vua 17:8–24) và con trai của người nữ Su-nem (2 Các Vua 4:18–37) cũng được sống lại. Khi Đức Chúa Giê-su còn ở trần gian trong thân xác con người, Ngài cũng đã làm sống lại đứa con trai của bà góa làng Na-in (Lu-ca 7:11–17), con gái của Giai-ru (Lu-ca 8:40–56), và sau đó là La-xa-rơ, bạn Ngài (Giăng 11). Ngoại trừ Môi-se, tất cả những người này đều được sống lại như những người phàm trần, những người cuối cùng sẽ chết một lần nữa. Những trường hợp này cũng xác nhận lời dạy trong Kinh Thánh về sự bất tỉnh của người chết (Gióp 3:11–13; Thi thiên 115:17; Thi thiên 146:4; Truyền đạo 9:5, 10). Không có câu chuyện nào trong số này, cũng như trong bất kỳ câu chuyện nào khác về sự sống lại trong Kinh Thánh, có bất kỳ đề cập nào về trải nghiệm được cho là ở thế giới bên kia.
Tuần này, chúng ta sẽ suy gẫm kỹ hơn về những sự sống lại xảy ra trước khi Đức Chúa Giê-su chết và sống lại.
Đọc Giu-đe 9 và Lu-ca 9:28–36. Bạn tìm thấy bằng chứng nào trong các bản văn này về sự phục sinh thân thể của Môi-se?
Một số các Tu sĩ tiền phong của Giáo hội Hy Lạp từ Alexandria lập luận rằng, khi Môi-se chết, người ta thấy có hai Môi-se: một người còn sống trong tinh thần, một người khác chết trong thể xác; một Môi-se lên trời cùng với các thiên sứ, một được chôn trong đất. (Xem Origen, Homilies on Joshua 2.1; Clement of Alexandria, Stromata 6.15). Sự phân biệt giữa hai phần, linh hồn và thi thể chôn cất có thể có ý nghĩa đối với những người tin vào khái niệm linh hồn bất tử của người Hy Lạp, nhưng ý tưởng này không có trong Kinh Thánh. Giu-đe 9 xác nhận lời dạy trong Kinh Thánh về sự phục sinh của thân thể Môi-se, bởi vì tranh chấp là “về thân thể của Môi-se” chứ không phải về bất kỳ linh hồn nào được cho là còn sống.
Phục truyền luật lệ Ký 34:5–7 cho chúng ta biết rằng Môi-se chết lúc 120 tuổi, và Chúa đã chôn cất ông tại một nơi ẩn giấu trong một thung lũng ở xứ Mô-áp. Nhưng Môi-se không ở lâu trong mồ. “Chính Đức Chúa Giê-su Christ, cùng với các vì thiên sứ đã chôn cất Môi-se, từ trời xuống để gọi vị thánh đang ngủ. . . Lần đầu tiên Đấng Christ sắp ban sự sống cho kẻ chết. Khi Hoàng tử của sự sống và các thiên sứ sáng chói đến gần mộ phần, Sa-tan lo lắng cho quyền tối cao của hắn. . . Đấng Christ đã không hạ thấp để tham gia vào cuộc tranh cãi với Sa-tan. . . Nhưng Đức Chúa Giê-su Christ bảo tất cả mọi người về với Cha Ngài, rằng: ‘Cầu Chúa phạt ngươi!’ (Giu-đe 9). . . Sự phục sinh vĩnh viễn là chắc chắn. Sa-tan đã bị giựt mất con mồi của mình; người chết công chính sẽ sống lại.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 478, 479.
Bằng chứng rõ ràng về sự phục sinh của Môi-se được tìm thấy trên núi hóa hình. Ở đó, Môi-se xuất hiện cùng với nhà tiên tri Ê-li, người đã được biến thể về trời mà không hề thấy sự chết (2 Các Vua 2:1–11). Môi-se và Ê-li thậm chí còn trò chuyện với Đức Chúa Giê-su (xin xem Lu-ca 9:28–36). “Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem” (Lu-ca 9:30, 31). Sự xuất hiện của Môi-se, bằng chứng về sự chiến thắng sắp tới của Đấng Christ đối với tội lỗi và sự chết, được mô tả ở đây bằng những từ ngữ không thể nhầm lẫn. Đó là Môi-se và Ê-li, không phải “linh hồn” của họ (vì nói cho cùng, Ê-li chưa hề chết) đã hiện ra với Đức Chúa Giê-su ở đó.
Môi-se không được phép vào xứ Ca-na-an (Phục truyền 34:1–4) nhưng được đưa vào xứ Ca-na-an trên trời. Điều này dạy gì về cách Đức Chúa Trời là Đấng “bởi quyền lực cảm động trong chúng ta, có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng” (Ê-phê-sô 3:20)?
Đọc 1 Các Vua 17:8–24 và 2 Các Vua 4:18–37. Bạn thấy điểm giống và khác nhau ở hai lần phục sinh này là gì?
Trong Hê-bơ-rơ 11, chúng ta thấy rằng bởi đức tin “có người đàn bà đã được người nhà mình chết sống lại” (Hê-bơ-rơ 11:35). Đây là trường hợp của hai lần phục sinh mà chúng ta sẽ học qua hôm nay.
Trường hợp thứ nhất (1 Các Vua 17:8–24) xảy ra trong thời kỳ bội đạo lớn ở Y-sơ-ra-ên, dưới ảnh hưởng của vua A-háp và người vợ ngoại giáo Giê-sa-bên. Khi một cơn hạn hán trầm trọng đang tàn phá đất đai, Đức Chúa Trời truyền lệnh cho tiên tri Ê-li đi đến Sa-rép-ta, một thị trấn bên ngoài Y-sơ-ra-ên. Ở đó, ông gặp một góa phụ người Phô-ni-xi-a nghèo, bà đang chuẩn bị nấu một bữa ăn đạm bạc cuối cùng cho mình và con trai, rồi cùng chết. Nhưng sự sống của họ đã được cứu nhờ phép mầu của bột mì và dầu, hai thứ không hề cạn kiệt cho đến khi hạn hán kết thúc. Một thời gian sau con trai bà bị bệnh và chết. Trong tuyệt vọng, bà mẹ năn nỉ với Ê-li, và người đã kêu cầu Chúa. “Đức Giê-hô-va nhậm lời của Ê-li; linh hồn của đứa trẻ trở lại trong mình nó, và nó sống lại” (1 Các Vua 17:22).
Sự phục sinh thứ hai (2 Các Vua 4:18–37) diễn ra tại Su-nem, một ngôi làng nhỏ phía nam Núi Gi-bô-a. Ê-li-sê đã giúp một góa phụ nghèo trả nợ nhờ phép lạ đổ đầy dầu vào nhiều bình (2 Các Vua 4:1–7). Sau đó, tại Su-nem, ông gặp một người đàn bà giàu có, đã có chồng nhưng không có con. Nhà tiên tri nói với nàng ấy rằng nàng sẽ có một đứa con trai, và chuyện đó đã xảy ra như báo trước. Đứa trẻ lớn lên và khỏe mạnh, nhưng rồi một ngày nó bị bệnh và chết. Người đàn bà Su-nem này đến núi Ca-mên và yêu cầu Ê-li-sê đi cùng để gặp con trai nàng. Ê-li-sê kiên trì cầu nguyện với Chúa, và cuối cùng đứa trẻ đã sống lại.
Những người đàn bà này tuy xuất thân khác nhau nhưng có cùng đức tin cứu rỗi. Bà góa người Phô-ni-xi-a đã tiếp đón nhà tiên tri Ê-li trong một thời điểm cực kỳ khó khăn khi không có nơi nào ở Y-sơ-ra-ên là an toàn cho ông. Người đàn bà Su-ma và chồng đã xây một căn phòng đặc biệt để tiên tri Ê-li-sê có thể ở đó khi ông đi qua vùng của họ. Khi hai đứa trẻ qua đời, hai người mẹ tín trung đã khẩn nài cầu xin những tiên tri của Đức Chúa Trời và họ có được nỗi vui mừng khi thấy con mình sống lại.
Đây là những câu chuyện rất tuyệt vời, nhưng ngoài hai trường hợp đặc biệt này thì còn có biết bao nhiêu chuyện đầy mầu nhiệm chưa được kể ra? Sự thật đáng buồn là ai cũng phải trải qua sự chết dạy chúng ta điều gì về tầm quan trọng của đức tin của mỗi người nơi lời hứa về sự phục sinh khi Chúa trở lại?
Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Giê-su “làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài” (Công vụ 10:38). Thật vậy, tất cả các sách Phúc âm đều kể nhiều về việc Đức Chúa Giê-su phục vụ nhiều linh hồn nghèo khó và bị tổn thương, và đó là lý do tại sao sau này nhiều người Do Thái tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si đã hứa.
“Lúc bấy giờ có những làng mạc mà người ta không hề nghe một tiếng rên siết bởi bệnh tật, vì Chúa đã đi qua và chữa lành mọi tật bệnh rồi. Việc làm của Chúa là chứng cớ cho thiên chức của Ngài. Lòng bác ái, mối từ tâm và sự cảm thương đều được bộc lộ trong mỗi hành vi của Ngài và lòng Chúa chứa chan mối cảm thông ưu ái đối với con cái loài người. Ngài mặc lấy hình hài của người cốt để hiểu thấu mọi nhu cầu của con người. Những kẻ nghèo khó đơn sơ nhất cũng không hề thấy sợ hãi Ngài. Ngay đến trẻ thơ cũng bị thu hút lại với Chúa.” — Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, trang 9, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Đọc Lu-ca 7:11–17. Có sự khác biệt quan trọng nào giữa sự sống lại này và những gì chúng ta đã học ngày hôm qua?
Trong thời gian Ngài thi hành chức vụ tại Ga-li-lê, Đức Chúa Giê-su đã chữa lành nhiều người bệnh tật và trục xuất ma quỷ. Một lần nọ, Ngài và những người theo Ngài đến gần cổng Na-in khi một đám tang đang diễn hành qua cổng. Trong chiếc quan tài không đóng lại là xác của đứa con trai duy nhất của một góa phụ, người đang khóc thảm thiết. Động lòng trắc ẩn đối với người mẹ đau buồn, Đức Chúa Giê-su nói với bà: “Đừng khóc.” Sau đó, Ngài quay sang người con trai đã chết trong quan tài và ra lệnh cho anh ta: “Hỡi người trẻ kia, ta biểu ngươi chờ dậy. Người chết vùng ngồi dậy và khởi sự nói. Đức Chúa Jêsus giao người lại cho mẹ” (Lu-ca 7:13–15). Sự hiện diện của Đức Chúa Giê-su đã hoàn toàn thay đổi câu chuyện; và những người được chứng kiến phép lạ biết rằng không những chỉ một sự kiện lạ lùng đã xảy ra, mà còn có một người rất diệu kỳ (họ gọi Ngài là “một nhà tiên tri vĩ đại”) hiện diện trong vòng họ.
Góa phụ người Phô-ni-xi-a (1 Các Vua 17:8–24) và người phụ nữ Shu-nam (2 Các Vua 4:18–37) đều đã yêu cầu sự giúp đỡ của tiên tri Ê-li và Ê-li-sê. Nhưng góa phụ của Na-in đã được giúp đỡ mà không phải cầu xin. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời quan tâm đến chúng ta ngay cả khi chúng ta không thể, hoặc cảm thấy không xứng đáng để cầu xin Ngài giúp đỡ. Đức Chúa Giê-su đã nhìn thấy vấn đề và giải quyết vấn đề — rất điển hình về Chúa Giê-su qua tất cả các chức vụ của Ngài.
Một tôn giáo chân chính phải can dự vào việc chăm sóc trẻ mồ côi và người góa bụa xung quanh (Gia-cơ 1:27). Mặc dù chúng ta sẽ không thể làm được những phép lạ mà Đức Chúa Giê-su đã làm, nhưng chúng ta có thể làm được gì để giúp đỡ những người đang bị tổn thương chung quanh mình?
Sự sống lại xảy ra trước khi Đức Chúa Giê-su chết và phục sinh không giới hạn cho bất kỳ nhóm dân hay tầng lớp xã hội cụ thể nào. Môi-se có lẽ là người lãnh đạo vĩ đại nhất trong lịch sử của dân sự Đức Chúa Trời (Phục truyền 34:10–12). Ngược lại, bà góa nghèo người Phô-ni-xi-a không phải là người Y-sơ-ra-ên (1 Các Vua 17:9). Người phụ nữ Shu-nam tuy giàu có sang trọng trong cộng đồng của cô ấy (2 Các Vua 4:8) nhưng cũng không phải là người Do Thái. Bà góa Na-in chỉ có một con trai duy nhất mà bà nương tợ vào (Lu-ca 7:12). Ngược lại, Giai-ru là người lãnh đạo nhà hội, có thể là ở Ca-bê-na-um (Mác 5:22). Dầu nền tảng văn hóa hay địa vị xã hội khác nhau, tất cả họ đều được ban phước bởi quyền năng ban sự sống của Đức Chúa Trời.
Đọc Mác 5:21–24, 35–43. Chúng ta học được gì về sự chết qua lời phán của Đấng Christ, “Đứa trẻ chẳng phải chết, song nó ngủ”? (Mác 5:39).
Cô con gái 12 tuổi của Giai-ru đang nằm nhà, bị bịnh gần chết. Vì vậy, Giai-ru đã hối hả đi gặp Đức Chúa Giê-su để cầu xin Ngài đến nhà mình và đặt bàn tay chữa lành của Ngài trên con gái. Nhưng chưa kịp gặp thì đã có người mang đến tin buồn, “Con gái ông đã chết rồi; còn phiền Thầy làm chi?” (Mác 5:35). Sau đó, Đức Chúa Giê-su nói với người cha đau khổ: “Đừng sợ, chỉ tin mà thôi” (Mác 5:36). Thật vậy, tất cả những gì người cha có thể làm lúc này là tin tưởng hoàn toàn vào sự can thiệp của Đức Chúa Trời.
Vào đến nhà, Đức Chúa Giê-su nói với những người đang tụ tập ở đó: “Sao các ngươi làm ồn ào và khóc lóc vậy? Đứa trẻ chẳng phải chết, song nó ngủ”(Mác 5:39). Họ chế nhạo Ngài vì (1) họ biết rằng cô ấy đã chết, và (2) họ không hiểu ý nghĩa của lời Ngài. “Dùng ẩn dụ với chữ ‘ngủ’ hiền hòa thay thế cho chữ ‘chết’ dường như là một cách Đấng Christ thích sử dụng khi Ngài đề cập đến trải nghiệm này (Ma-thi-ơ 9:24; Lu-ca 8:52; Giăng 11:11–15). Cái chết là một giấc ngủ, nhưng nó là một giấc ngủ mê sâu mà chỉ có Đấng ban Sự sống vĩ đại mới có thể đánh thức dậy, vì chỉ mình Ngài có chìa khóa dẫn đến ngôi mộ (xem Khải huyền 1:18; Giăng 3:16; Rô-ma 6:23).” — The SDA Commentary, tập 5, trang 609.
Sau khi cô gái này sống lại, những người nhìn thấy sự kiện ấy đã “rất lấy làm lạ” (Mác 5:42). Quả là vậy! Lúc bấy giờ cái chết là cuối cùng, tuyệt đối và dường như không thể đổi ngược. Được chứng kiến tận mắt một chuyện lạ lùng như vậy chắc chắn phải là một trải nghiệm tuyệt vời, thay đổi cuộc đời.
Lời Đức Chúa Giê-su phán, “Đừng sợ, chỉ tin mà thôi” (Mác 5:36) vẫn còn đầy ý nghĩa cho chúng ta hôm nay. Làm sao chúng ta có thể tập ứng dụng điều ấy, dầu khi đang ở giữa những hoàn cảnh hãi hùng — là lúc hơn bao giờ hết chúng ta cần tiếp tục giữ vững đức tin?
Đọc Giăng 11:1–44. Đức Chúa Giê-su “được sáng danh” bởi bệnh tật và cái chết của La-xa-rơ theo nghĩa nào (Giăng 11:4)?
Ở đây, Đức Chúa Giê-su cũng sử dụng phép ẩn dụ về giấc ngủ để nói về cái chết. “La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ, nhưng ta đi đánh thức người” (Giăng 11:11). Khi một số người nghĩ rằng Ngài đang nói về giấc ngủ theo nghĩa đen (Giăng 11:11–13), Chúa Giê-su đã nói rõ ý của Ngài: “La-xa-rơ đã chết” (Giăng 11:12–14). Thật ra, khi Đức Chúa Giê-su đến Bê-tha-ni, La-xa-rơ đã chết được bốn ngày; xác của người đã hôi thối (Giăng 11:17, 39). Khi mà một thi thể bắt đầu tan rữa nặng đến bốc mùi hôi, thì không còn nghi ngờ gì nữa: người đó đã chết.
Trong bối cảnh này, khi Đức Chúa Giê-su nói với Ma-thê, “Anh ngươi sẽ sống lại” (Giăng 11:23), nàng đã khẳng định lại niềm tin của mình vào sự phục sinh cuối cùng. Nhưng Đức Chúa Giê-su tuyên bố, “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” (Giăng 11:23–26). Và Ngài phán thêm: “nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Giăng 11:40). Ma-thê đã tin, và cô đã nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong sự phục sinh của anh trai cô.
Kinh Thánh nói rằng sự sống được tạo ra bởi lời của Đức Chúa Trời (Thi thiên 33:6), và sự sống bằng lời của Ngài có thể được tái tạo, như trường hợp của La-xa-rơ. Sau một lời cầu nguyện ngắn, Đức Chúa Giê-su ra lệnh, “Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!” (Giăng 11:43). Ngay chính lúc đó những người này đã nhìn thấy quyền năng ban sự sống của Đức Chúa Trời, cũng là quyền năng đã tạo nên thế gian hiện hữu bởi lời Ngài, và cùng một quyền năng ấy sẽ gọi người chết phục sinh vào thời cuối cùng.
Bởi làm cho La-xa-rơ sống lại, Đức Chúa Giê-su đã chứng minh rằng Ngài có quyền năng chiến thắng sự chết, điều mà đối với những người như chúng ta, những người chắc chắn phải chết — còn có bằng chứng nào lớn hơn về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời?
Đọc Giăng 11:25, 26. Đức Chúa Giê-su nói về những người tin Chúa sẽ sống dầu đã chết, và tiếp theo, Ngài nói về những người tin Ngài thì không bao giờ chết. Đức Chúa Giê-su dạy chúng ta điều gì ở đây, và tại sao sự hiểu biết rằng chết là một giấc ngủ vô thức lại rất quan trọng trong việc hiểu những lời của Đấng Christ? Và tại sao những lời của Ngài lại mang đến cho chúng ta, những sinh mạng mà địa điểm định sẵn là mồ mã, rất nhiều hy vọng?
“Trong Đấng Christ là sự sống, nguyên thuỷ, không vay mượn. ‘Ai có Đức Chúa Con, thì có sự sống’ (1 Giăng 5:12). Thiên chất của Đấng Christ là sự bảo đảm sự sống đời đời cho những kẻ tin. Đức Chúa Giê-su nói: ‘kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?’ Đấng Christ ở đây [trong Giăng 11:25, 26] trông đợi thời điểm Ngài tái lâm. Bấy giờ, kẻ chết công bình sẽ được sống lại trong sạch, và kẻ sống công bình sẽ được lên thiên đàng mà không thấy sự chết. Phép lạ mà Đấng Christ sắp thực hiện, khi làm cho La-xa-rơ sống lại từ kẻ chết, sẽ tượng trưng cho sự sống lại của tất cả những người chết công bình. Bằng lời phán và các công việc của Ngài, Đấng Christ tuyên bố chính Ngài là Tác giả của sự sống lại. Chính Đấng chẳng bao lâu nữa sẽ chết trên thập tự giá, lại cầm chìa khóa của sự chết, chinh phục nấm mồ, và xác định quyền hạn và quyền năng của Ngài để ban sự sống vĩnh cửu.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 530.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
CÂU GỐC: “Bởi đức tin, Áp-ra-ham dâng Y-sác trong khi bị thử thách: người là kẻ đã nhận lãnh lời hứa, dâng con một mình . . . Người tự nghĩ rằng Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại; cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình” (Hê-bơ-rơ 11:17, 19).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Gióp 19:25–27; 1 Ti-mô-thê 6:16; Thi thiên 49; Thi thiên 71; Ê-sai 26:14, 19; Đa-ni-ên 12.
Niềm hy vọng trong Cựu Uớc đặt nền mống trên sự dạy dỗ trong Kinh Thánh về sự phục sinh sau cùng của những người đã chết. Niềm hy vọng trong Cựu Ước không dựa trên những tư tưởng của văn hóa Hy Lạp về sự bất tử của linh hồn.
Nhưng làm thế nào một cơ thể người không còn sống và hiện hữu nữa, đã được hỏa táng thành tro hoặc bị tiêu hủy bằng các phương cách khác, lại có thể phục sinh? Làm thế nào một người đã qua đời, có lẽ trong nhiều thế kỷ hoặc thậm chí hàng thiên niên kỷ, có thể khôi phục lại danh tính của mình?
Những câu hỏi này khiến chúng ta suy gẫm về bí ẩn của sự sống. Chúng ta đang sống và đang tận hưởng sự sống mà Đức Chúa Trời ban tặng cho chúng ta mỗi ngày. Ngay cả khi chưa bắt đầu hiểu nguồn gốc siêu nhiên của sự sống, chúng ta cũng biết rằng ngay từ đầu, Đức Chúa Trời đã mang sự sống thành hiện hữu đến từ vật không có sự sống (bụi đất) do quyền năng của Lời Ngài (Sáng thế Ký 1; Thi thiên 33:6, 9). Vì vậy, nếu lần đầu tiên Đức Chúa Trời có thể tạo ra sự sống trên trái đất từ con số không (tiếng Latinh ex nihilo), thì tại sao chúng ta phải nghi ngờ khả năng của Ngài trong việc tái tạo cuộc sống con người và khôi phục lại danh tính ban đầu của nó?
Tuần này, chúng ta sẽ suy gẫm thế nào khái niệm về sự phục sinh sau cùng được bày tỏ trong thời Cựu Ước, đặc biệt tập trung vào những lời tuyên bố của Gióp, một số tác giả Thi thiên, các nhà tiên tri Ê-sai và Đa-ni-ên.
Đọc Gióp 19:25–27 và so sánh với Giăng 1:18 và 1 Ti-mô-thê 6:16. Khi nào và trong hoàn cảnh nào ông ta đã mong được “gặp Chúa”?
Đời là bất công. Chúng ta thấy điều này nhất là khi chúng ta thấy có những người “tốt” phải gánh chịu khổ đau, và kẻ “không công bình” thì thịnh vượng (xin xem Thi thiên 73:12–17, Ma-la-chi 3:14–18). Chẳng hạn, Gióp là người “trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác” (Gióp 1:1). Vậy mà Đức Chúa Trời đã cho phép Sa-tan làm hại ông ta qua nhiều cách tai hại. Về thể chất, cơ thể ông bị hành hạ bởi bệnh tật đau đớn (Gióp 2:1–8). Về mặt vật chất, ông đã mất phần lớn gia súc và tài sản của mình (Gióp 1:13–17). Trong gia đình, ông mất các tôi tớ và cả con cái của mình (Gióp 1:16, 18). Và về mặt tình cảm, xung quanh ông ta là những người bạn cáo buộc ông rằng hẳn vì ông là một tội nhân không biết ăn năn, và là con người tội lỗi đáng phải đối mặt với những gì ông đang gánh chịu (Gióp 4:1–5:27, Gióp 8:1–22, Gióp 11:1–20, v.v.). Ngay cả vợ của ông cũng tuyên bố, “Uả? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? … Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi!” (Gióp 2:9).
Gióp không nhận ra rằng ông đã trở thành tâm điểm của cuộc chiến dữ dội trong vũ trụ giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan. Bị đánh phá bởi những sự khó khăn và khổ nạn đến trên đời mình, Gióp hối tiếc về sự ra đời của chính mình và ước rằng mình chưa bao giờ được sinh ra (Gióp 3:1–26). Tuy nhiên, sự trung thành vô điều kiện của ông đối với Đức Chúa Trời được thể hiện rất rõ qua những lời, “Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài” (Gióp 13:15). Ngay cả khi tưởng tượng rằng cuộc sống của mình sẽ sớm kết thúc, ông vẫn giữ sự đoan chắc rằng cái chết sẽ không phải là điều tối hậu.Với niềm tin chắc chắn, ông tuyên bố rằng mặc dù ông sẽ chết, một ngày nào đó, Đấng Cứu Chuộc của ông sẽ đứng lên và chính ông, Gióp, sẽ nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng xương bằng thịt của mình (Gióp 19:25–27). “Đây là một cái nhìn thoáng qua không thể nhầm lẫn về sự phục sinh.” — The SDA Bible Commentary, tập 3, trang 549.
Thật là một niềm hy vọng hiển hách giữa một thảm cảnh như vậy! Bị bao vây bởi bệnh tật và đau đớn, tài chánh suy sụp, xã hội chê trách và đổ vỡ tình cảm, Gióp vẫn có thể đoán trước được ngày mình sẽ sống lại từ cõi chết và nhìn thấy Đấng Cứu Chuộc yêu dấu của mình. Thực ra, lời tuyên bố của Gióp về sự phục sinh cũng chứa đựng cùng một sự bảo đảm mà nhiều thế kỷ sau, Ma-thê đã nói với Đức Chúa Giê-su: “Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại” (Giăng 11:24), Gióp, như Ma-thê, phải dành bằng được lời hứa này bằng đức tin, tuy, không giống như Gióp, Ma-thê sẽ sớm nhận được bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ cho niềm tin của mình.
Làm thế nào chúng ta học được lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời dầu khi đang ở giữa những sự bất công của cuộc sống?
Đọc Thi thiên 49. Điều gì khiến tác gia đoạn này chắc chắn về sự phục sinh sau cùng của mình (Thi thiên 49:15) chứ không phải là như những người đã chết mà không có sự bảo đảm đó (Thi thiên 49:6–14)?
Thi thiên 49 nói về sự tự tin sai lầm của những kẻ ngu muội “Chúng nó nhờ cậy nơi tài sản mình, Phô trương của cải dư dật mình…” (câu 6), những kẻ “lấy chính tên mình đặt cho đất ruộng mình” (câu 11), và những người sống chỉ để ban phước cho bản thân (câu 18). Họ hành động như thể nhà cửa và vinh quang của chính họ sẽ tồn tại mãi mãi (câu 11, 17).
Nhưng kẻ ngu muội quên rằng danh giá của họ biến mất và họ cũng bị diệt vong giống như loài thú (câu 12). “Chúng nó bị định xuống Âm phủ như một bầy chiên; Sự chết sẽ chăn giữ chúng nó: Sáng ngày người ngay thẳng sẽ quản hạt chúng nó: Sự đẹp đẽ chúng nó bị tiêu diệt trong Âm phủ, Hầu cho chúng nó chẳng còn nơi ở nào nữa.” (câu 14).
Như Gióp đã tuyên bố từ nhiều thế kỷ trước, “Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng trần truồng mà về” (Gióp 1:21; 1 Ti-mô-thê 6:7). Tác giả Thi thiên chỉ ra rằng cả người ngu và người khôn đều chết, “để lại tài sản mình cho kẻ khác” (câu 10).
Nhưng có một sự tương phản triệt để giữa chúng. Một bên là kẻ dại rồi sẽ chết dù cố gắng tìm kiếm sự bảo đảm bằng những tài sản và thành quả nhất thời của chính mình. Trái lại, những người khôn ngoan, xa hơn cuộc sống trần thế và ngục tù của mồ mả, là phần thưởng vinh quang mà Đức Chúa Trời đã dành cho người ấy (1 Phi-e-rơ 1:4). Với nhận thức này, tác giả Thi thiên có thể tự tin nói: “Nhưng Đức Chúa Trời sẽ chuộc linh hồn tôi khỏi quyền Âm phủ, Vì Ngài sẽ tiếp rước tôi” (câu 15).
Phù hợp với niềm hy vọng của Cựu Ước, lời Thi thiên này không cho thấy rằng vào lúc tác giả qua đời, linh hồn ông sẽ bay ngay lên trời. Người viết chỉ đơn giản nói rằng mình sẽ không ở mãi trong mồ mả. Sẽ đến lúc Đức Chúa Trời cứu chuộc ông khỏi sự chết và đưa ông đến tòa án ở trên trời.
Một lần nữa, sự chắc chắn về sự phục sinh trong tương lai được mô tả ở đây, mang lại niềm hy vọng, bảo đảm và ý nghĩa cho sự hiện hữu hôm nay. Vì vậy, người khôn ngoan sẽ nhận được phần thưởng vinh quang và vĩnh cửu hơn nhiều so với những gì kẻ ngu muội có thể thu thập cho mình trong cuộc đời ngắn ngủi này.
Có những cách nào mà bạn có thể thấy được sự ngu dại của những người tin tưởng vào sự giàu có và công trạng của chính họ? Làm thế nào xây đôi mắt vào thập tự giá có thể bảo vệ bạn không rơi vào lỗi tương tự?
Đọc Thi thiên 71. Tác giả của đoạn này ngụ ý điều gì khi ông cầu xin Đức Chúa Trời mang mình “lên khỏi vực sâu của đất” (Thi thiên 71:20)?
Trong Thi thiên 49, chúng ta tìm thấy một biểu hiện cảm động về niềm hy vọng vào sự sống lại, trái ngược với sự đoan chắc sai lầm của kẻ ngu muội tin cậy vào sự giàu có của mình. Trong Thi thiên 71, tác giả đoạn này tìm kiếm sự an toàn và hy vọng từ Đức Chúa Trời trong khi bị bao vây bởi những kẻ thù và những kẻ cáo gian, là những kẻ nói rằng Đức Chúa Trời đã bỏ rơi người (câu 10, 11).
Giữa những thử thách của mình, người viết Thi thiên tìm thấy sự an ủi và bảo đảm khi nhớ lại cách Đức Chúa Trời đã chăm sóc mình trong quá khứ. Thứ nhất, anh nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã nâng đỡ anh từ khi mới sinh ra và thậm chí còn mang anh ra khỏi lòng mẹ (câu 6). Sau đó, anh thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã dạy anh từ khi anh còn ấu thơ (câu 17).
Với sự chắc chắn rằng Đức Chúa Trời là vầng đá và là đồn lũy của mình, tác giả cầu xin Ngài, “Xin Chúa làm hòn đá dùng làm chỗ ở cho tôi, Hầu cho tôi được vào đó luôn luôn; Chúa đã ra lịnh cứu tôi, Vì Chúa là hòn đá và là đồn lũy tôi” (câu 3). “Xin Chúa chớ từ bỏ tôi trong thì già cả; Cũng đừng lìa khỏi tôi khi sức tôi hao mòn” (câu 9). “Đức Chúa Trời ôi! xin chớ đứng xa tôi; Đức Chúa Trời tôi ôi xin mau mau đến giúp đỡ tôi” (câu 12). Và sau đó tác giả nói thêm, “Chúa là Đấng đã cho chúng tôi thấy vô số gian truân đắng cay, Sẽ làm cho chúng tôi được sống lại. Và đem chúng tôi lên khỏi vực sâu của đất” (câu 20).
Cụm từ “khỏi vực sâu của đất” có thể được hiểu theo nghĩa đen là sự ám chỉ đến sự phục sinh thể xác trong tương lai của tác giả Thi thiên. Nhưng bối cảnh dường như thiên về mô tả ẩn dụ về tình trạng buồn thương đau đớn của tác giả như thể đất đang nuốt chửng anh ta (so sánh với Thi thiên 88:6 và Thi thiên 130:1). Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng câu này “chủ yếu là lời nói theo nghĩa bóng, nhưng cũng gợi ý về sự phục sinh về mặt thể chất.” — Andrews Study Bible ghi chú về Thi thiên 71:20.
Cuối cùng, điều quan trọng cần hiểu là, bất kể hoàn cảnh của chúng ta là gì, Đức Chúa Trời ở đó với chúng ta trong mọi cảnh ngộ, Ngài quan tâm, và chung cuộc, niềm hy vọng của chúng ta không phải là để tìm thấy trong sự sống này mà là trong sự sống mai sau — sự sống vĩnh cửu mà chúng ta sẽ có trong Đức Chúa Giê-su sau khi chúng ta phục sinh khi Ngài trở lại.
Chúng ta ai cũng đã có những lúc nào đó mà mình cảm thấy chán nản khủng khiếp. Tuy nhiên, làm thế nào, việc tập trung vào những cách Chúa đã ở với bạn trong quá khứ có thể giúp bạn tiếp tục tiến bước trong đức tin và sự tin cậy trong những khoảnh khắc mà Ngài dường như ở quá xa ta?
Đọc Ê-sai 26:14 và 19. Cho biết sự tương phản giữa những kẻ sẽ bị hư mất đời đời (Ê-sai 26:14; xin xem thêm Ma-la-chi 4:1) và những người sẽ nhận được sự sống đời đời (Ê-sai 26:19)?
Sách Ê-sai trình bày một sự tương phản lớn giữa sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời và sự mong manh của con người chúng ta (xin xem Ê-sai 40). Dù chúng ta giống như cỏ khô và hoa héo, lời của Đức Chúa Trời vẫn còn mãi (Ê-sai 40:6–8). Nhưng, cho dầu sự tội lỗi của con người chúng ta, ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời vẫn dành cho tất cả loài người và trở nên hữu hiệu ngay cả đối với những dân ngoại (không phải Do Thái) nào chấp nhận giao ước của Ngài và tuân giữ ngày Sa-bát (Ê-sai 56).
Trong sách Ê-sai, niềm hy vọng về sự sống lại được bày tỏ một cách đáng kể. Trong khi những lời ám chỉ trong Kinh Thánh trước đây về sự phục sinh được thể hiện nhiều hơn từ quan điểm cá nhân (Gióp 19:25–27, Thi thiên 49:15, Thi thiên 71:20), thì nhà tiên tri Ê-sai nói về điều đó bao gồm cả bản thân ông và cộng đồng tín đồ theo giao ước (Ê-sai 26:19).
Ê-sai 26 nói rõ sự khác biệt của số phận của kẻ ác và người công bình. Một mặt, kẻ ác sẽ vẫn ở trong sự chết mà không bao giờ được sống lại, ít nhất là sau “sự chết thứ hai” (Khải huyền 21:8). Họ sẽ bị hủy diệt hoàn toàn, và tất cả kỷ niệm về họ sẽ mất vĩnh viễn (Ê-sai 26:14). Đoạn văn này nhấn mạnh lời dạy rằng không có linh hồn hay linh hồn nào còn sống sót sau khi chết. Nói về sự hủy diệt cuối cùng của kẻ ác, điều xảy ra sau này, Chúa đã tuyên bố ở nơi khác rằng kẻ ác sẽ bị thiêu rụi hoàn toàn, “chẳng để lại cho chúng nó hoặc rễ hoặc nhành” (Ma-la-chi 4:1).
Mặt khác, những người chết công bình sẽ được sống lại từ sự chết để nhận phần thưởng phước hạnh của họ. Ê-sai 25 nhấn mạnh rằng Chúa là Đức Chúa Trời “đã nuốt sự chết đến đời đời” và “sẽ lau nước mắt khỏi mọi mặt” (Ê-sai 25:8). Trong Ê-sai 26, chúng ta tìm thấy những lời sau đây: “Những kẻ chết của Ngài sẽ sống; những xác chết của tôi đều chỗi dậy! Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi” (Ê-sai 26:19). Tất cả những người công bình được phục sinh sẽ tham dự vào bữa tiệc vui vẻ mà Chúa sẽ chuẩn bị cho mọi người (Ê-sai 25:6). Sự phục sinh cuối cùng sẽ quy tụ tất cả những người công bình từ mọi thời đại, kể cả những người thân yêu của bạn đã chết trong Đấng Christ.
Hãy tưởng tượng nếu chúng ta không có bất kỳ hy vọng, bất kỳ sự đảm bảo nào, bất kỳ lý do nào để nghĩ rằng cái chết của mình chỉ là kết thúc của mọi điều cho mình. Rồi sau đó, thậm chí còn tệ hơn, tất cả những ai từng biết chúng ta rồi cũng sẽ ra đi, và chẳng bao lâu, sẽ như thể chúng ta chưa từng hiện hữu và cuộc sống của chúng ta không bao giờ có ý nghĩa gì cả. Làm thế nào số kiếp này lại tương phản với niềm hy vọng mà chúng ta có?
Như chúng ta sẽ thấy, Tân Ước nói rất nhiều về sự sống lại của kẻ chết; và, như chúng ta đã thấy, ý tưởng về sự sống lại của người chết cũng xuất hiện trong Cựu Ước. Những người này, vào thời Cựu Ước, có hy vọng về sự phục sinh cuối cùng như chúng ta. Ma-thê, sống vào thời Chúa Giê-su, đã có hy vọng này (Giăng 11:24). Không nghi ngờ gì nữa, ngay cả khi đó, người Do Thái đã biết một số về sự sống lại trong những ngày cuối cùng, ngay cả khi không phải tất cả mọi người đều tin vào điều đó. (Xem Công vụ 23:8).
Đọc Đa-ni-ên 12. Niềm hy vọng phục sinh nào được tìm thấy ở đây, trong các bài viết của nhà tiên tri vĩ đại này?
Đa-ni-ên 12:1 đề cập đến Mi-ca-ên, “quan trưởng lớn”, người mà danh tính đã có nhiều tranh cãi. Bởi vì mỗi sự hiện thấy lớn trong sách Đa-ni-ên cuối cùng lên đến đỉnh điểm với sự biểu hiện rõ ràng của Đấng Christ và vương quốc Ngài, nên trong phân đoạn này, cũng phải là một trường hợp tương tự. Trong sách Đa-ni-ên, chúng ta cũng thấy có những sự ám chỉ đến cùng một Đấng Thiêng Liêng như “Tướng cơ binh” (Đa-ni-ên 8:11), “vua của các vua” (Đa-ni-ên 8:25), “Đấng chịu xức dầu, tức là vua” (Đa-ni-ên 9:25), và cuối cùng là “Mi-ca-ên, quan trưởng lớn” (Đa-ni-ên 12:1). Vì vậy, chúng ta cũng có thể xác định Mi-ca-ên là Đấng Christ.
Các đoạn Kinh Thánh Cựu Ước (Gióp 19:25–27, Thi thiên 49:15, Thi thiên 71:20, Ê-sai 26:19) được xem là đều nói về sự sống lại của những người công bình. Nhưng Đa-ni-ên 12 nói về sự sống lại của cả người công bình và người không công bình. Khi Mi-ca-ên đứng lên, “nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời” (Đa-ni-ên 12:2).
Nhiều người cho rằng câu này đang nói về sự phục sinh đặc biệt của một số người, cả những người trung thành và bất trung, khi Chúa Giê-su tái lâm.
“Mồ mả mở ra, và “nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ, nhơ nhuốc đời đời” (Đa-ni-ên 12:2). Những người đã chết trong niềm tin của sứ điệp thiên sứ thứ ba, bước ra khỏi mồ mả cách vinh hiển, để nghe giao ước hòa bình của Đức Chúa Trời cho những người đã tuân giữ luật pháp Ngài. “Cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy” (Khải huyền 1:7). Những kẻ đã chế diễu và cười nhạo nỗi thống khổ của Đấng Christ trên thập tự giá, cũng như những kẻ tử thù của lẽ thật và dân sự Ngài, đều được sống lại để thấy Ngài hiện ra trong vinh hiển, và cũng để thấy danh dự dành riêng cho những người có lòng ngay thẳng và vâng phục.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 563, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Khoa học hiện đại dạy rằng mọi vật chất đều được cấu tạo từ các nguyên tử, tự chúng cũng được tạo thành từ hai hạt nhỏ hơn, quark và lepton, được cho là những viên gạch căn bản cấu tạo nên mọi thực tại vật chất. Vậy thì, nếu cốt lõi của thế giới vật chất là quark và lepton, thì chẳng lẽ Đức Chúa Trời, Đấng không chỉ tạo ra và duy trì thế giới vật chất ấy, chẳng lẽ không tái thiết kế lại các quark và lepton khi đến thời điểm phục sinh chúng ta được sao? Nhà vô thần Bertrand Russell đã chế giễu sự phục sinh bằng câu hỏi, thế thì điều gì sẽ xảy ra với những người ăn thịt người, bởi vì cơ thể của họ bây giờ là một phần của những kẻ ăn thịt người, và vậy ai sẽ nhận được gì trong sự phục sinh? Nhưng giả sử Chúa chỉ đơn giản lấy quark và lepton, những viên gạch chính yếu và căn bản của sự hiện hữu, từ bất cứ đâu, và dựa trên dữ kiện thông tin mà Ngài sở hữu về mỗi người chúng ta, tái tạo lại chúng ta từ những quark và lepton đó? Ngài không cần những viên gạch nguyên thủy của chúng ta; mà bất kỳ quark và lepton nào Ngài cũng làm được. Và thật vậy, Ngài sẽ phán để những “viên gạch” mới và trở nên hiện hữu và thực hiện hoạt động tái tạo từ đó. Bất kể bởi phương pháp nào, Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo ra vũ trụ có thể tái tạo chúng ta, điều mà Ngài hứa sẽ làm khi kẻ chết được phục sinh.
“Đấng Ban Sự Sống sẽ gọi kẻ thuộc về Ngài mà Ngài đã phải trả giá chuộc họ, trong lần phục sinh thứ nhất, và cho đến giờ khải hoàn đó, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên và đội quân đông đảo sẽ chiến thắng vĩnh viễn, mọi vị thánh đang ngủ yên sẽ được giữ an toàn và sẽ được bảo vệ như một viên ngọc quý, là những người mà Chúa biết đến bằng tên họ. Nhờ quyền năng của Đấng Cứu Rỗi ngự trong họ khi họ còn sống và bởi vì họ là những người dự phần vào bản chất thiêng liêng, được làm sống lại từ cõi chết.” — Ellen G. White, The SDA Bible Commentary, quyển 4, trang 1143.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng thế Ký 2:7).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 1:24–27; Sáng thế Ký 2:7, 19; Ma-thi-ơ 10:28; Truyền đạo 12:1–7; 1 Các Vua 2:10; 1 Các Vua 22:40.
Sự căng thẳng giữa lời của Đức Chúa Trời, “Ngươi chắc sẽ chết” (Sáng thế Ký 2:16, 17) và lời hứa giả mạo của Sa-tan, “Ngươi chẳng chết đâu” (Sáng thế Ký 3:4) không chỉ giới hạn trong Vườn Ê-đen. Nó đã vang vọng trong suốt lịch sử.
Nhiều người cố gắng hòa hợp lời của Sa-tan với lời của Đức Chúa Trời. Đối với họ, lời cảnh báo “Ngươi chắc sẽ chết” chỉ ám chỉ về thể xác dễ bị hư nát, trong khi lời hứa “Ngươi chẳng chết đâu” là ám chỉ về linh hồn hoặc linh hồn bất tử.
Nhưng không thể lý luận cách này được. Chẳng hạn, làm sao những lời trái ngược nhau của Đức Chúa Trời và của Sa-tan có thể hòa hợp được không? Có linh hồn hay tinh thần vô thể chất nào tồn tại một cách có ý thức khi thể xác đã chết không? Có rất nhiều nỗ lực triết học và thậm chí khoa học để trả lời những câu hỏi này. Nhưng, là Cơ Đốc nhân tin vào Kinh Thánh, chúng ta phải công nhận rằng chỉ có Đức Chúa Trời toàn năng, Đấng đã tạo ra chúng ta, và cũng biết chúng ta một cách trọn vẹn (xem Thi thiên 139). Vì vậy, chỉ trong Lời Ngài nói với chúng ta, Kinh Thánh, chúng ta mới có thể tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi quan trọng này.
Tuần này, chúng ta sẽ xem xét cách Cựu Ước xác định bản chất con người và tình trạng của con người khi chết.
Đọc Sáng thế Ký 1:24–27 và 2:7, 19. Bạn có thể thấy những điểm tương đồng và khác biệt nào giữa cách Đức Chúa Trời tạo ra loài vật và loài người? Sáng thế Ký 2:7 cho chúng ta biết gì về bản chất con người?
Lời tường thuật của Sáng thế Ký tuyên bố rằng vào ngày thứ sáu của tuần lễ Sáng Tạo, Chúa là Đức Chúa Trời đã mang sự sống đến cho các loài động vật trên cạn và hai con người đầu tiên, một đôi vợ chồng (Sáng thế Ký 1:24–27). Chúng ta được cho biết rằng Ngài “lấy đất nắn nên các loài thú đồng, các loài chim trời” (Sáng thế Ký 2:19). Ngài cũng “lấy bụi đất nắn nên hình người” (Sáng thế Ký 2:7).
Mặc dù cả động vật và con người đều giống nhau được tạo ra từ “bụi đất”, sự hình thành của con người khác với động vật theo hai cách chính. Thứ nhất, Đức Chúa Trời nắn con người về mặt thể chất, và sau đó “hà sanh khí vào vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng thế Ký 2:7). Con người đầu tiên là một thực thể vật lý trước khi trở thành một thực thể sống. Thứ hai, “Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ” (Sáng thế Ký 1:26, 27).
Sáng thế Ký 2:7 giải thích rằng việc “hà sanh khí” vào cơ thể vật lý của A-đam đã biến đổi ông ta thành “một loài sanh linh” (chữ Hê-bơ-rơ Nephesh chayyah) hay nghĩa đen là “một linh hồn sống”. Nó có nghĩa là mỗi chúng ta không có một linh hồn có thể tồn tại ngoài thể xác. Đúng hơn, mỗi chúng ta là một sinh thể sống hay một linh hồn sống. Tuyên bố rằng “linh hồn” này là một thực thể có ý thức có thể tồn tại khi tách biệt với cơ thể con người là một ý tưởng ngoại giáo, không phải trong Kinh Thánh. Hiểu được bản chất thực sự của con người ngăn cản không cho chúng ta chấp nhận quan niệm phổ biến về một linh hồn vô thể chất và tất cả những sai lầm nguy hiểm đã được xây dựng dựa trên niềm tin đó.
Không có sự hiện hữu có ý thức của bất kỳ bộ phận biệt lập nào của con người được tách ra khỏi toàn bộ một con người. Đức Chúa Trời đã tạo ra chúng ta một cách đáng sợ và tuyệt vời, và chúng ta không nên suy đoán xa hơn những gì Kinh Thánh thực sự nói về vấn đề cụ thể này. Trên thực tế, không chỉ bản chất của sự sống là một bí ẩn (các nhà khoa học vẫn chưa thể thống nhất chính xác ý nghĩa của một thứ gì đó tồn tại), mà còn bí ẩn hơn là bản chất của ý thức. Làm thế nào để vài kí lô thể chất hay vật chất (tế bào và hóa chất) trong đầu, não của chúng ta, lại chứa và tạo ra những thứ vô thể chất như suy nghĩ và cảm xúc? Những người nghiên cứu ý tưởng này thừa nhận rằng chúng ta thực sự không biết.
Sự sống thật là kỳ diệu! Tại sao chúng ta nên vui mừng trong món quà không chỉ là sự sống, mà còn về sự sống vĩnh cửu, một phép lạ thậm chí còn vĩ đại hơn?
Đọc Ê-xê-chi-ên 18:4, 20 và Ma-thi-ơ 10:28. Làm thế nào các câu này có thể giúp chúng ta hiểu bản chất của tâm hồn con người?
Sự sống con người trong thế giới tội lỗi này mong manh và tạm thời (Ê-sai 40:1–8). Bất cứ điều gì đã bị nhiễm tội lỗi thì không thể tồn tại vĩnh viễn được. “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội…” (Rô-ma 5:12). Sự chết là hậu quả tự nhiên của tội lỗi, nó ảnh hưởng đến tất cả mọi sự sống ở trần gian.
Về vấn đề này, có hai khái niệm quan trọng trong Kinh Thánh. Một là con người và động vật đều chết. Như lời của Vua Sa-lô-môn, “Vì việc xảy đến cho con loài người làm sao, thì xảy đến cho loài thú cũng vậy; sự xảy đến cho hai loài giống hẳn với nhau. Sự chết của loài nầy cũng như sự chết của loài kia; hai loài đều thở một thứ hơi, loài người chẳng hơn gì loài thú; . . . Cả thảy đều qui vào một chỗ; cả thảy do bụi đất mà ra, cả thảy sẽ trở về bụi đất” (Truyền đạo 3:19, 20).
Khái niệm thứ hai là cái chết thể xác của một người ngụ ý sự chấm dứt sự hiện hữu của người đó trong tư cách là một sanh linh (chữ Hê-bơ-rơ Nephesh). Trong Sáng thế Ký 2:16, 17, Đức Chúa Trời đã cảnh báo A-đam và Ê-va rằng nếu họ phạm tội, bằng cách ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, họ sẽ chết.
Nhắc lại lời cảnh báo này, Chúa củng cố điểm ấy trong Ê-xê-chi-ên 18:4, 20: “linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết.” Tuyên bố này có hai hàm ý chính. Một là vì tất cả loài người đều là tội nhân, nên tất cả chúng ta đều trải qua quá trình lão hóa và rồi chết không thể tránh khỏi (Rô-ma 3:9–18, 23). Một ngụ ý khác là khái niệm Kinh Thánh này làm vô hiệu hóa quan niệm phổ biến về sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Nếu linh hồn bất tử và tồn tại sống ở một cõi khác sau khi chết, thì rốt cuộc chúng ta không thực sự chết phải không?
Ngược lại, giải pháp trong Kinh Thánh cho tình huống tiến thoái lưỡng nan về cái chết không phải là một linh hồn không thân xác di cư vào thiên đàng hoặc vào luyện ngục, hoặc thậm chí là xuống địa ngục. Giải pháp thực sự là sự phục sinh cuối cùng của những người đã chết trong Đấng Christ. Như Đức Chúa Giê-su đã nói trong bài giảng của Ngài về Bánh Sự Sống, “Phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt” (Giăng 6:40).
Tại sao sự chắc chắn về Sự Tái lâm, được bảo đảm bởi sự giáng lâm lần đầu của Đấng Christ (và nói cho cùng, việc Đấng Christ đến lần thứ nhất mà không có Lần Thứ Hai thì có ích lợi gì?), lại rất quan trọng đối với tất cả những gì chúng ta tin? Chúng ta sẽ có hy vọng nào nếu không có lời hứa về sự trở lại của Ngài?
Đọc Sáng thế Ký 2:7 và Truyền đạo 12:1–7. Bạn có thể thấy sự tương phản nào giữa hai đoạn Kinh Thánh này? Làm thế nào chúng có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thân phận con người khi chết? Xem thêm Sáng thế Ký 7:22.
Như đã thấy, Kinh Thánh dạy rằng con người là một linh hồn (Sáng thế Ký 2:7), và linh hồn không còn tồn tại khi thể xác chết (Ê-xê-chi-ên 18:4, 20).
Nhưng còn “thần linh”? Không phải là nó còn ý thức ngay cả sau khi cơ thể đã chết? Nhiều Cơ Đốc nhân tin như vậy, và họ thậm chí còn cố gắng biện minh cho quan điểm của mình bằng cách trích dẫn Truyền đạo 12:7, trong đó nói: “bụi tro trở vào đất y như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban nó”. Nhưng lời tuyên bố này không gợi ý gì rằng linh hồn của người chết vẫn còn tỉnh táo trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Truyền đạo 12:1–7 với những từ ngữ bi tráng mô tả quá trình lão hóa, và đỉnh điểm là cái chết. Câu 7 đề cập đến cái chết là sự đảo ngược của quá trình sáng tạo được đề cập trong Sáng thế Ký 2:7. Như đã nói, vào ngày thứ sáu của tuần lễ Sáng Tạo “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng thế Ký 2:7). Nhưng bây giờ, Truyền đạo 12:7 nói với chúng ta rằng “bụi tro trở vào đất y như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban nó”. Vì vậy, hơi thở của sự sống mà Đức Chúa Trời đã thở vào lỗ mũi của A-đam, và Ngài cũng đã cung cấp cho tất cả loài người, trở về với Đức Chúa Trời, hay nói cách khác, chỉ đơn giản là dòng sinh khí ngừng chảy vào và đi qua họ.
Chúng ta nên nhớ rằng Truyền đạo 12:7 mô tả quá trình chết của tất cả loài người mà không phân biệt giữa người công bình và kẻ ác. Nếu những linh hồn được cho là của tất cả những người chết sống sót như những thực thể có ý thức trước sự hiện diện của Chúa, thì liệu những linh hồn của kẻ ác có ở cùng Chúa không? Ý tưởng này không phù hợp với sự dạy dỗ chung của Kinh Thánh. Bởi vì cùng một quá trình chết xảy ra cho cả con người và động vật (Truyền đạo 3:19, 20), cái chết không gì khác hơn là một sinh vật sống đã ngừng hiện hữu. Như tác giả Thi thiên đã nói: “Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối, Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết, và trở về bụi đất” (Thi thiên 104:29).
Chúng ta thường nói rằng sự chết chỉ là một phần của cuộc sống. Tại sao nói như vậy là sai? Sự chết là ngược lại với sự sống, là kẻ thù của sự sống. Vậy thì niềm hy vọng lớn lao nào được tìm thấy trong câu này: “Kẻ thù bị hủy diệt sau cùng, tức là sự chết” (1 Cô-rinh-tô 15:26)?
Đọc Gióp 3:11–13; Thi thiên 115:17; Thi thiên 146:4; và Truyền đạo 9:5, 10. Chúng ta có thể học được gì từ những phân đoạn này về tình trạng của con người khi chết?
Một số các nhà bình luận Kinh Thánh cho rằng những đoạn trên là những vần thơ, được viết trong ngôn ngữ của những bài thơ, nên không thể được dùng để định nghĩa tình trạng của con người chúng sinh lúc chết. Đúng là đôi khi thơ có thể mơ hồ và dễ bị hiểu lầm, nhưng điều này không đúng với những câu thơ này. Ngôn ngữ của chúng rõ ràng, và các khái niệm của chúng hoàn toàn hòa hợp với các giáo lý chung của Cựu Ước về chủ đề này.
Thứ nhất, trong Gióp 3, ông rủa sả sự ra đời của mình vì quá đau khổ. (Trong những khoảnh khắc thảm khốc hơn, ai lại không ước rằng mình chưa từng được sinh ra?) Ông nhận ra rằng nếu ông đã chết khi mới ra đời, thì ông đã sẽ vẫn ngủ và yên nghỉ (Gióp 3:11, 13).
Thi thiên 115 xác định vị trí nơi người chết được giữ là một nơi im lặng, bởi vì “Kẻ chết hoặc kẻ xuống cõi nín lặng chẳng ngợi khen Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 115:17). Điều này nghe không giống như người chết, những người trung thành (và biết ơn) đã chết, đang ở trên thiên đàng thờ phượng Chúa.
Theo Thi thiên 146, các hoạt động tinh thần của cá nhân chấm dứt cùng với sự chết: “Hơi thở tắt đi, loài người bèn trở về bụi đất mình; Trong chánh ngày đó các mưu mô nó liền mất đi” (Thi thiên 146:4). Đây là một mô tả hoàn hảo trong Kinh Thánh về những gì xảy ra khi chết.
Và Truyền đạo 9 cho biết thêm rằng “người chết không biết chi hết” và trong mộ “Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết, chẳng được phần thưởng gì hết;” và “vì dưới Âm phủ, là nơi ngươi đi đến, chẳng có việc làm, chẳng có mưu kế cũng chẳng có tri thức hay là sự khôn ngoan” (Truyền đạo 9:5, 10). Những tuyên bố này xác nhận lời dạy trong Kinh Thánh rằng người chết là không có ý thức gì nữa.
Sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự vô tri thức khi chết không nên là điều làm các tín đồ tin Đấng Christ phải hoảng sợ. Thứ nhất, không có địa ngục thiêu đốt vĩnh viễn hay lò luyện ngục tạm thời đang chờ đợi những người chết không được cứu. Thứ hai, có một phần thưởng xứng đáng diệu kỳ đang chờ đợi những ai chết trong Đấng Christ. Không có gì ngạc nhiên khi “đối với người tin Chúa, cái chết chỉ là chuyện nhỏ. . . Đối với Cơ Đốc nhân, cái chết chỉ là một giấc ngủ, một khoảnh khắc im lặng và tối đen. Sự sống được ẩn giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời, và ‘Khi nào Đấng Christ, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển’ (Giăng 8:51, 52; Cô-lô-se 3:4).” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 787.
Hãy nghĩ về những người đã chết trong Đấng Christ. Họ nhắm mắt chết và dù ở trong nấm mồ 1500 năm hay 5 tháng, đối với họ tất cả đều giống nhau. Điều kế đến mà họ biết là sự trở lại của Đấng Christ. Vậy thì, làm thế nào người ta có thể lập luận rằng, theo một nghĩa nào đó, người chết sung sướng hơn chúng ta, những kẻ đang còn sống?
Đọc Sáng thế Ký 25:8, 2 Sa-mu-ên 7:12; 1 Các Vua 2:10; và 1 Các Vua 22:40. Những văn bản này giúp bạn hiểu thêm điều gì về cái chết?
Cựu ước diễn đạt ý tưởng về cái chết và sự chôn cất theo những cách khác nhau. Một là khái niệm qui về, họp lại với những người thân của họ. Chẳng hạn, về Áp-ra-ham, chúng ta được biết rằng ông “tuổi cao tác lớn và đã thỏa về đời mình, tắt hơi, được qui về nơi tổ tông” (Sáng thế Ký 25:8). A-rôn và Môi-se cũng được tiếp về với dân tộc của họ (Phục truyền 32:50).
Việc cả hai vị vua tốt và xấu đi đến cùng một nơi khi chết dạy chúng ta điều gì về bản chất của cái chết? (2 Các Vua 24:6, 2 Sử Ký 32:33).
Một cách khác để mô tả cái chết là nói rằng ai đó đã yên nghỉ với những kẻ nhẫn nhục. Về cái chết của Vua Đa-vít, Kinh Thánh nói rằng ông “an giấc với các tổ phụ mình và được chôn trong Thành Đa-vít” (1 Các Vua 2:10). Cách diễn đạt tương tự cũng được dùng cho một số vị vua Hê-bơ-rơ khác, cả những vua trung thành cũng như những vua bất trung.
Chúng ta có thể xác định ít nhất ba khía cạnh có ý nghĩa của việc an nghỉ với tổ phụ. Một là ý kiến cho rằng sớm hay muộn sẽ đến lúc chúng ta cần yên nghỉ sau những lao động mệt mỏi và đau khổ của đời mình. Một ý kiến khác cho rằng chúng ta không phải là những người đầu tiên và duy nhất đi theo con đường không ai muốn đi đó, bởi vì các tổ phụ của chúng ta cũng đã đi qua đó trước chúng ta rồi. Ý tưởng thứ ba cho rằng, bằng cách được chôn cất gần họ, chúng ta không đơn độc mà vẫn ở bên nhau ngay cả trong lúc chết không còn ý thức. Điều này có thể không có nhiều ý nghĩa đối với một số nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân hiện đại, nhưng nó rất có ý nghĩa trong thời cổ đại.
Những người chết trong Đấng Christ có thể được chôn cất gần với những người thân yêu của họ, nhưng dù vậy không có sự liên lạc nào giữa họ. Họ sẽ bất tỉnh cho đến ngày vinh quang đó khi họ sẽ được đánh thức khỏi giấc ngủ say để đoàn tụ với những người thân yêu đã chết trong Đấng Christ.
Hãy tưởng tượng sẽ như thế nào nếu người chết thực sự tỉnh táo và có thể nhìn thấy cuộc sống ở dưới trần gian của người sống là như thế nào, nhất là với những người thân yêu của họ, những người thường đau khổ tột cùng sau cái chết của họ. Vậy thì tại sao sự thật rằng người chết ngủ lại là điều an ủi đối với người sống?
Nếu bạn đã từng qua một cuộc giải phẫu và được gây mê toàn thân, bạn có thể sẽ hiểu được chút gì là người chết như thế nào. Nhưng ngay cả vậy, khi được gây mê, não của bạn vẫn hoạt động. Hãy tưởng tượng người chết sẽ như thế nào, khi tất cả các chức năng của não, mọi thứ, đã hoàn toàn ngừng lại. Vì vậy, kinh nghiệm của họ trong cái chết là nhắm mắt lại và những gì thực sự đáng quan tâm cho những ai đã từng sống mà nay chết thì điều tiếp theo họ sẽ biết là sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su hoặc sự trở lại của Ngài sau thời gian một ngàn năm (xem Khải huyền 20:7–15). Cho đến lúc đó, tất cả những người chết, người công bình và kẻ ác, đều yên nghỉ, mà đối với họ dường như sẽ chỉ là một khoảnh khắc tích tắc. Nhưng đối với chúng ta, những người còn sống, thì cái chết (của người thân yêu) dường như kéo dài một thời gian dài. Đối với người sống thì đúng vậy; nhưng đối với người chết, nó dường như chỉ kéo dài trong chốc lát.
“Nếu quả thật khi người ta chết, linh hồn liền đi thẳng về trời, thì nên ước mong chết hơn là sống. Nhiều người đã tin như vậy nên kết liễu đời mình. Có gì dễ dàng hơn cho một người bị nhiều bối rối, phức tạp, thất vọng, là cắt đứt sợi dây mỏng manh của sự sống để bay bổng đến cõi phước hạnh đời đời.” — Elen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 476, Nhà In
Tiếng Nói Hy Vọng.
“Trong Kinh Thánh chẳng có chỗ nào dạy rằng người công bình được thưởng hay kẻ ác bị phạt lúc họ chết. Các tổ phụ và các tiên tri xác nhận điều đó. Đấng Christ và các sứ đồ cũng không nói gì về vấn đề đó. Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng kẻ chết không lên trời ngay. Họ ngủ cho đến ngày phục sinh (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14–16; Gióp 14:10–12).” — trang 485.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội. . .” (Rô-ma 5:12).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 2:16, 17; 3:1–7; Thi thiên 115:17; Giăng 5:28, 29; Rô-ma 5:12; 2 Cô-rinh-tô 5:21.
Đấng Christ là Tác Nhân Thiên Thượng mà qua đó Đức Chúa Trời đã mang sự hiện hữu đến cho vũ trụ và thế gian (Giăng 1:1–3, 10; Cô-lô-se 1:16; Hê-bơ-rơ 1:2). Nhưng khi Đức Chúa Cha dành sự tôn vinh đặc biệt cho Đấng Christ và tuyên bố rằng Họ sẽ cùng nhau tạo ra thế giới này, “Lu-xi-phe đã ganh ghét và ghen tị với Đức Chúa Giê-su Christ” (Ellen G. White, The Story of Redemption, trang 14) và âm mưu chống lại Ngài.
Bị đuổi khỏi thiên đàng, Sa-tan quyết định “phá hủy hạnh phúc của A-đam và Ê-va” trên đất và do đó “gây ra sự đau buồn cho thiên đàng”. Sa-tan tưởng tượng rằng “nếu hắn có thể bằng cách nào đó lừa để họ [A-đam và Ê-va] bất tuân, thì Đức Chúa Trời sẽ ban bố một điều khoản nào đó để họ có thể được ân xá, và sau đó chính hắn ta và tất cả các thiên thần sa ngã cũng sẽ được có cơ hội nhận được sự thương xót của Chúa.” — Ellen G. White, The Story of Redemption, trang 27. Nhận thức rõ ràng về chiến lược của Sa-tan, Đức Chúa Trời cảnh báo A-đam và Ê-va đừng để mình bị cám dỗ (Sáng thế Ký 2:16, 17). Điều này có nghĩa là ngay cả khi thế giới vẫn còn hoàn hảo và vô tội, thì con người đã có những giới hạn rõ ràng để tuân theo.
Tuần này, chúng ta sẽ suy ngẫm về sự sa ngã của A-đam và Ê-va, về cách tội lỗi và sự chết đã chiếm lấy thế giới của chúng ta, và về cách Đức Chúa Trời gieo mầm hy vọng cho nhân loại ngay trong Vườn Ê-đen.
Thế giới do Đức Chúa Trời tạo dựng thật hoàn hảo (Sáng thế Ký 1:31). Sự chết là một kinh nghiệm mà A-đam và Ê-va chưa hề biết đến. Trong bối cảnh đó, Đức Chúa Trời đến Vườn Ê-đen và phán với họ lời cảnh báo: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” (Sáng thế Ký 2:16, 17).
Làm thế nào Sáng thế Ký 2:16, 17 cho thấy thực tế của ý chí tự do trong sự hoàn hảo của vườn Ê-đen? Ấy là, tại sao Đức Chúa Trời cần phải cảnh báo họ thì khác nào họ không thể tự do lựa chọn?
Một thời gian sau lời cảnh báo này của Đức Chúa Trời, Sa-tan đã dưới dạng một con rắn và cũng đến trong vườn Ê-đen. Ellen White viết rằng Ê-va thấy con rắn ăn trái cấm một cách vui vẻ và nó không chết. “Chính nó đã ăn trái cấm” (Patriarchs and Prophets, trang 54), và chẳng có chuyện gì xảy ra với nó cả.
Đọc Sáng thế Ký 3:1–4. Đặt mình vào vị trí của Ê-va, tại sao những lời đó nghe dường như thuyết phục được nàng?
Từ quan điểm luận lý của con người, lập luận của con rắn nghe có vẻ đáng thuyết phục hơn nhiều so với lời của Đức Chúa Trời. Trước hết, cho đến nay, không có bằng chứng nào trong thế giới thiên nhiên về sự hiện hữu của tội lỗi và sự chết. Thứ hai, con rắn thực sự đã ăn trái cấm và rất thích nó. Vậy, tại sao Ê-va phải kiềm chế bản thân để không làm điều tương tự? Lệnh của Chúa dường như quá hạn chế và vô nghĩa.
Thật không may, khi quyết định giữa hai nhận định trái ngược nhau, Ê-va đã bỏ qua ba nguyên tắc nồng cốt: (1) lý trí của con người không phải lúc nào cũng là cách an toàn nhất để đánh giá các vấn đề thuộc linh; (2) đối với chúng ta, Lời Chúa có thể không hợp lý và vô nghĩa, nhưng luôn đúng và đáng tin cậy; và (3) có những điều tự chúng không phải là điều xấu hay sai, nhưng Đức Chúa Trời đã chọn dùng chúng để làm thử nghiệm về sự vâng lời.
Chúng ta nên ý thức rằng kinh nghiệm của Ê-va trong Vườn Ê-đen không phải là một trường hợp duy nhất trong một thời điểm. Mỗi ngày và trong mỗi phút giây, chúng ta luôn cần phải quyết định giữa Lời Chúa (đối với nhiều người có thể không được hợp lý lắm) và sự hấp dẫn quyến rũ của nền văn hóa xung quanh chúng ta. Bởi chưng sự lựa chọn của chúng ta sẽ có hậu quả vĩnh cửu.
Có những sự dạy dỗ rõ ràng nào của Kinh Thánh là mâu thuẫn với đường lối của thế gian?
Đọc Sáng thế Ký 3:1–7. Ê-va đã dùng tiêu chuẩn nào để lựa chọn giữa Lời Đức Chúa Trời và lời của con rắn?
Sáng thế Ký 3 là một trong những ví dụ rõ ràng nhất về tâm lý của sự cám dỗ. Đức Chúa Trời đã cảnh báo A-đam và Ê-va rằng nếu họ ăn trái cấm, họ chắc chắn sẽ chết (Sáng thế Ký 2:16, 17). Dùng hình dạng của một con rắn, Sa-tan đã sử dụng một số chiến lược ngụy biện để đánh lừa cho Ê-va phạm tội.
Trước hết, nó làm lời cảnh báo chi tiết của Đức Chúa Trời thành một lời cấm chung chung. Nó hỏi Ê-va, “Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?” (Sáng thế Ký 3:1). Ê-va liền cải lại rằng điều cấm chỉ dành cho một cái cây mà thôi, vì nếu họ ăn hoặc chạm vào nó, họ sẽ chết.
Sau đó, Sa-tan liền nói ngược lại với lời tuyên bố của Đức Chúa Trời. Nó khẳng định một cách rõ ràng, “Hai ngươi chẳng chết đâu!” (Sáng thế Ký 3:4).
Và cuối cùng, Sa-tan cáo buộc rằng Đức Chúa Trời cố tình ngăn chặn kiến thức thiết yếu cho vợ chồng họ. Kẻ lừa dối lập luận: “nhưng Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác” (Sáng thế Ký 3:5).
Sự tò mò của Ê-va đã dẫn nàng bước vào vùng mê hoặc của Sa-tan. Ở đó, nàng bị buộc phải quyết định có nên trung thành với mệnh lệnh kiềm chế của Đức Chúa Trời hoặc chấp nhận sự quyến rũ hấp dẫn của Sa-tan. Nghi ngờ lời Chúa, nàng dùng các giác quan của mình — phương pháp thực nghiệm, phương pháp quan sát cá nhân — để quyết định giữa hai nhận định mâu thuẫn.
Trước hết nàng nhìn sự kiện qua phương diện ăn uống, “cái cây rất tốt cho việc ăn”. Thứ hai, qua quan điểm thẩm mỹ, nàng thấy rằng “nó đẹp mắt.” Thứ ba, từ một phân tích lý trí, “cái cây thật hấp dẫn vì nó làm cho người ta khôn ngoan.” Do đó, trong suy nghĩ của mình, Ê-va chắc chắn có nhiều lý do chính đáng để chú ý đến những lời của con rắn và ăn trái của cây cấm. Thật đáng tiếc, đó đã là những gì nàng đã làm.
Một số người cho rằng tất cả các dạng kiến thức đều có giá trị, miễn là chúng ta giữ lại “điều tốt” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:21). Nhưng các kinh nghiệm bi thảm của A-đam và Ê-va trong Vườn Ê-đen chứng tỏ rằng kiến thức, tự nó, có thể rất bất lợi. Có một số điều, thực sự, tốt hơn là chúng ta không nên biết.
Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về việc rất dễ dàng cho chúng ta hợp lý hóa và biện minh cho những lựa chọn tội lỗi của mình?
Đọc Sáng thế Ký 3:4. Có bao nhiêu cách khác nhau mà lời nói dối này đã được lặp đi lặp lại qua các thời đại?
Một biểu hiện mạnh mẽ của lời nói dối này là niềm tin chung vào sự bất tử của linh hồn. Ý niệm này là nền tảng của nhiều tôn giáo và triết học thời cổ đại. Ở thời cổ đại Ai Cập, nó đã thúc đẩy việc ướp xác và các kiến trúc lăng tẩm, chẳng hạn như chúng ta đã thấy qua các kim tự tháp.
Lý thuyết này cũng trở thành một trong những trụ cột chính của triết học Hy Lạp. Ví dụ, trong quyển The Republic of Plato, triết gia Socrates hỏi học trò Glaucon: “Thế ngươi không biết rằng linh hồn của chúng ta là bất tử và không bao giờ bị diệt vong sao?” Trong quyển Phaedo của Plato, Socrates cũng lập luận với một giọng điệu tương tự, khi nói rằng “linh hồn là bất tử và không thể hư nát, và linh hồn của chúng ta thực sự sẽ tồn tại trong Âm phủ.” Các khái niệm triết học này đã hình thành phần lớn nền văn hóa phương Tây và thậm chí cả Cơ Đốc giáo hậu Sứ đồ. Nhưng chúng có nguồn gốc sớm hơn nhiều, đã có từ trong Vườn Ê-đen, với chính Sa-tan.
Ngay giữa sự cám dỗ ở Ê-đen, Sa-tan đã bảo đảm với Ê-va, “Hai ngươi chẳng chết đâu” (Sáng thế Ký 3:4). Với sự khẳng định đầy tự tin này, Sa-tan đã tự đặt Lời của mình lên trên Lời của Đức Chúa Trời.
Ngược lại với sự bất tử của linh hồn, những câu này dạy gì, và chúng có thể được dùng như thế nào để chống lại lời nói dối linh hồn bất tử này? (Thi thiên 115:17; Giăng 5:28, 29; Thi thiên 146:4; Ma-thi-ơ 10:28; 1 Cô-rinh-tô 15:51–58).
Thuyết của Sa-tan rằng linh hồn bất tử là luật tự nhiên vẫn tồn tại, ngay cả trong thế giới hiện đại của chúng ta. Sách vở, phim ảnh và các chương trình truyền hình đều tiếp tục thúc đẩy ý tưởng rằng, khi chúng ta chết, chúng ta chỉ đơn giản là chuyển sang một trạng thái ý thức khác. Thật đáng tiếc làm sao vì sự sai lầm này cũng được công bố trên nhiều bục giảng của những người tin Chúa. Rồi hôm nay, ngay cả khoa học cũng tham gia. Có một tổ chức ở Hoa Kỳ đang cố gắng tạo ra kỹ thuật, mà họ tuyên bố, sẽ cho phép chúng ta liên lạc với những người đã chết, người mà họ tin rằng vẫn còn sống nhưng tồn tại dưới dạng PMP, “dạng người hậu thể chất”. Với lỗi lầm quá phổ biến này, không có gì ngạc nhiên khi sự lừa dối này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong các sự kiện cuối cùng của lịch sử nhân loại.
Lời nói dối này được thể hiện qua những cách nào trong văn hóa của riêng bạn? Tại sao chúng ta phải dựa vào Lời Đức Chúa Trời hơn là những gì các giác quan nói với chúng ta?
Dựa trên Sáng thế Ký 3:7–19 và Rô-ma 5:12, hậu quả chính của tội lỗi là gì?
Bị thuyết phục bởi lời đường mật của con rắn, Ê-va không lường trước được hậu quả sâu xa của con đường mình đang đi. Hành vi ăn trái cấm tự nó không đáng kể so với những gì hành vi ấy thực sự thể hiện. Bằng một hành động không vâng lời như vậy, Ê-va đã phá vỡ lòng trung thành của mình với Đức Chúa Trời và bắt đầu một sự trung thành với Sa-tan.
Sáng thế Ký 3 mô tả sự sa ngã của A-đam và Ê-va và một số hậu quả bi thảm nhất của nó. Từ góc độ thần học, giờ đây cả hai đều bị sự sợ hãi thần linh (sợ Đức Chúa Trời) xâm chiếm mình và họ phải đi trốn khỏi Ngài (Sáng thế Ký 3: 8). Từ quan điểm tâm lý xã hội học, họ xấu hổ về bản thân và bắt đầu đổ lỗi cho nhau (Sáng thế Ký 3:7, 9–13). Từ quan điểm thể chất, họ sẽ đổ mồ hôi, cảm thấy đau đớn và cuối cùng chết (Sáng thế Ký 3:16–19). Và từ góc độ sinh thái học, thế giới thiên nhiên đã thoái hóa (Sáng thế Ký 3:17, 18).
Vườn Ê-đen thôi không còn là nơi đẹp đẽ và thỏa thích như xưa nữa. “Khi họ chứng kiến cánh hoa rũ và chiếc lá rơi, những dấu hiệu đầu tiên của sự tàn úa, A-đam và người bạn đời của ông thương tiếc sâu đậm hơn cả con người ngày nay than khóc về cái chết của mình. Cái chết của những bông hoa mỏng manh, yếu ớt quả thực là một nguyên nhân của nỗi buồn; nhưng khi những cây xanh tốt trút bỏ lá, cảnh tượng này làm ta nhớ lại một thực tế nghiêm khắc rằng cái chết là một phần của mọi sinh vật.” — Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, trang 62.
A-đam và Ê-va không chết ngay lập tức, theo nghĩa là không còn tiếp tục sống nữa, nhưng vào chính ngày hôm ấy, họ đã nhận bản án tử hình. Chúa nói với A-đam rằng: “Ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi’’ (Sáng thế Ký 3:19). Thật, Sự Sa Ngã đã mang lại những hậu quả bi thảm cho toàn thể nhân loại. Sứ đồ Phao-lô giải thích rằng “như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội…” (Rô-ma 5:12).
Sự thật đáng buồn và đau đớn là giống như nhân loại đã làm qua mọi thời đại, ngày nay chúng ta phải gánh chịu hậu quả của những gì đã xảy ra trong vườn địa đàng. Thật phước hạnh biết bao, chúng ta có thể cảm tạ rằng nhờ Đức Chúa Giê-su và thập tự giá, chúng ta có niềm hy vọng được sống vĩnh cửu trong một thế giới mà tội lỗi sẽ không bao giờ dấy lên nữa.
Khi suy gẫm về trải nghiệm bi thảm của Ê-va, chúng ta có thể học được bài học nào từ đó về hậu quả của những hành vi tội lỗi của chính mình?
Đọc Sáng thế Ký 3:15, 21. Niềm hy vọng nào cho nhân loại mà chúng ta có thể tìm thấy trong các câu này?
Sáng thế Ký 3 mô tả thảm kịch kinh khiếp đã diễn ra trên thế giới sau Sự Sa Ngã. Mọi thứ đã thay đổi, A-đam và Ê-va có thể thấy sự tương phản giữa thế giới đã từng là và thế giới đã trở thành.
Nhưng giữa nỗi bối rối và tuyệt vọng của họ, Đức Chúa Trời đã ban cho họ sự đảm bảo cho hiện tại và một niềm hy vọng cho tương lai. Trước hết, Ngài nguyền rủa con rắn bằng một lời hy vọng về Đấng Mê-si. Ngài tuyên bố, “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế Ký 3:15).
Danh từ “nghịch thù” (chữ Hê-bơ-rơ ‘eybah) không chỉ ngụ ý về một cuộc trường kỳ đấu tranh giữa thiện và ác trong vũ trụ, mà còn là sự cự tuyệt tội lỗi của cá nhân, là điều đã được ân sủng của Đức Chúa Trời gieo vào tâm trí con người. Tự bản chất, chúng ta hoàn toàn sa ngã (Ê-phê-sô 2:1, 5) và là “tôi mọi tội lỗi” (Rô-ma 6:20). Tuy nhiên, ân điển mà Đức Chúa Giê-su Christ cấy ghép trong cuộc sống của mỗi con người tạo ra trong chúng ta sự thù địch chống lại Sa-tan. Và chính “sự nghịch thù” này, một món quà thiêng liêng từ Ê-đen, cho phép chúng ta chấp nhận ân điển cứu rỗi của Ngài. Nếu không có ân sủng hoán cải và quyền lực đổi mới này, nhân loại sẽ tiếp tục là tù nhân của Sa-tan, và làm kẻ đầy tớ luôn sẵn sàng thực hiện sự trả giá của hắn.
Sau đó, Chúa đã dùng một con vật hy sinh để minh họa lời hứa về Đấng Mê-si này (xin xem Sáng thế Ký 3:21). “Theo sự chỉ dẫn đặc biệt của Đức Chúa Trời, khi A-đam dâng con sinh tế để chuộc tội, đó là nghi lễ đau đớn nhất đối với người. Tay người phải giơ lên để lấy đi sự sống (mà chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể ban cho) để làm của lễ đền tội. Đó là lần đầu tiên người chứng kiến cái chết. Khi nhìn nạn nhân đổ máu, quằn quại trong cơn đau đớn của cái chết, người đã đặt niềm tin vào Con của Đức Chúa Trời, là đấng mà nạn nhân là hình ảnh chỉ về, là đấng sẽ chết để hy sinh cho con người.” — Ellen G. White, The Story of Redemption, trang 50.
Đọc 2 Cô-rinh-tô 5:21 và Hê-bơ-rơ 9:28. Các câu này dạy gì về những điều đã được tiết lộ lần đầu tiên trong vườn Ê-đen?
Biết rằng cuối cùng họ sẽ chết (Sáng thế Ký 3:19, 22–24), A-đam và Ê-va rời khỏi Vườn Ê-đen. Nhưng họ không ra đi trần truồng hay dùng lá vả che thân (Sáng thế Ký 3:7). Chính Đức Chúa Trời đã “lấy da thú kết thành áo”, và Ngài thậm chí còn mặc cho họ (Sáng thế Ký 3:21), một biểu tượng về sự che phủ bởi công bình của Ngài (xin xem Xa-cha-ri 3:1–5, Lu-ca 15:22). Do đó, ngay cả lúc ấy, ngay từ khi bắt đầu, ngay trong vườn Ê-đen, phúc âm đã được tiết lộ cho nhân loại.
Trong những năm gần đây, có những cuộc nghiên cứu đã được thực hiện về cái được gọi là Trải nghiệm Cận Tử (sự gần như chết). Nghĩa là có người “chết”, tức là trái tim của họ ngừng đập, và họ ngừng thở. Tuy nhiên, sau đó họ sống lại, nhưng với những câu chuyện tuyệt vời về việc trôi vào một vùng hiện hữu khác và gặp một thực thể của ánh sáng. Một số thậm chí còn nói về việc gặp gỡ những người thân đã khuất từ lâu. Nhiều người, ngay cả những người là Cơ Đốc nhân, những người không hiểu sự thật về cái chết, tin rằng những câu chuyện này là bằng chứng rõ ràng hơn về sự bất tử của linh hồn. Tuy nhiên (và đây phải là lời cảnh báo rõ ràng nhất rằng có điều gì đó bất ổn), hầu hết những người có những trải nghiệm này đều khẳng định rằng những linh hồn mà họ đã gặp trong khi Trải nghiệm Cận Tử đã cho họ những lời an ủi, những câu nói hay về tình yêu, hòa bình và lòng tốt. Nhưng họ không nghe gì về sự cứu rỗi trong Đấng Christ, không biết gì về tội lỗi, và không biết gì về sự phán xét. Trong khi nếm được chút hương vị của đời sau của một Cơ Đốc nhân, không lẽ họ chẳng học được ít nhất một chút giáo lý Cơ Đốc giáo căn bản nhất trong lúc vào “đời sau’ ấy sao? Trong khi ấy, những gì họ được dạy hầu hết nghe giống như giáo điều Thời đại Mới, điều này có thể giải thích tại sao, trong nhiều trường hợp, “khi sống lại” họ ít nghiêng về chân lý Cơ Đốc giáo hơn so với trước khi “chết”. Ngoài ra, tại sao không một Cơ Đốc nhân nào trong số những người này, tin rằng kinh nghiệm cận tử của họ là bản xem trước về thiên đàng của Chúa, hay nhận thêm được bất kỳ thần học Cơ Đốc nào khi ở đó, trái lại, họ chỉ như nhận được một liều lượng lớn của chủ nghĩa Thời đại Mới? Câu trả lời là họ đã bị lừa dối bởi chính kẻ đã lừa dối Ê-va trong vườn Ê-đen, và với cùng một lời nói dối (Xem bài 11).
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
CÂU GỐC: “Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào!” (Ê-sai 14:12).
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Giăng 4:8, 16; 1 Giăng 4:7–16; Ê-xê-chi-ên 28:12–19; Ê-sai 14:12–15; Khải huyền 12.
Bao nhiêu tư tưởng gia đã cố gắng giải thích nguồn gốc của của sự gian ác. Một số tư tưởng cho rằng cái ác luôn hiện hữu bởi vì, theo quan điểm của họ, cái thiện chỉ có thể được đánh giá cao là vì so sánh với cái ác. Một số khác thì tin rằng thế giới được tạo ra là hoàn hảo nhưng bằng cách nào đó, cái ác lại xuất hiện. Thí dụ, trong thần thoại Hy Lạp, cái ác bắt đầu khi Pandora tò mò mở một chiếc hộp khóa kỹ, khi bật nắp, trong đó bay ra tất cả những điều xấu xa trên thế gian (tuy nhiên, câu chuyện thần thoại này không giải thích nguồn gốc của những điều xấu xa được cho là ẩn trong chiếc hộp đó).
Ngược lại, Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời yêu thương của chúng ta là toàn năng (1 Sử Ký 29:10, 11) và hoàn hảo (Ma-thi-ơ 5:48). Tất cả những gì Ngài làm cũng phải hoàn hảo (Phục truyền Luật lệ Ký 32:4), kể cả cách Ngài tạo dựng nên thế giới của chúng ta. Vậy thì làm thế nào mà cái ác và tội lỗi lại có thể xuất hiện trong một thế giới hoàn hảo? Theo Sáng thế Ký 3, sự sa ngã của A-đam và Ê-va đã kéo theo tội lỗi, sự dữ và sự chết ở đây.
Nhưng câu trả lời đó lại nảy sinh thêm một một vấn đề khác. Ngay cả trước Sự Sa Ngã, điều ác đã hiện hữu, được biểu hiện bởi “con rắn”, kẻ đã lừa dối Ê-va (Sáng thế Ký 3:1–5). Do đó, chúng ta cần phải quay trở lại, ngay cả trước Sự Sa Ngã, để tìm ra nguồn gốc và cội gốc của cái ác đang thống trị sự hiện hữu của chúng ta ngày nay và đôi khi có thể làm sự tồn tại của chúng ta trở nên khốn khổ.
Thiên nhiên trong điều kiện hiện tại của nó mang một thông điệp mơ hồ hòa trộn cả thiện và ác. Những bụi hoa hồng có thể tạo ra những đóa hoa hồng xinh xắn và thơm ngạt ngào nhưng nó cũng có những chiếc gai độc hại và đau đớn. Một con chim bìm bịp có làm lòng chúng ta ngất ngây vì màu sắc rực rỡ của nó và sau đó lại làm chúng ta khiếp đảm khi nó tấn công tổ của những con chim khác và ăn thịt những con chim non yếu ớt của chúng. Ngay cả con người, những người có khả năng tốt bụng trong một khoảnh khắc, có thể trở nên hung ác, thù hận, thậm chí là bạo lực trong những lần khác. Không lạ gì khi trong dụ ngôn về lúa mì và cỏ lùng, các đầy tớ hỏi chủ ruộng: “Thưa chủ, chủ không gieo giống tốt trong ruộng chủ sao? Vậy thì cỏ lùng bởi đâu mà ra?” (Ma-thi-ơ 13:27) Và người chủ trả lời: “Ấy là một kẻ thù đã làm điều đó” (câu 28). Tương tự như vậy, Đức Chúa Trời đã tạo ra vũ trụ hoàn hảo, nhưng kẻ thù đã làm ô uế nó bằng những hạt giống bí ẩn của tội lỗi.
Đọc 1 Giăng 4:8, 16. Sự chắc chắn rằng “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” có thể cho chúng ta biết điều gì về bản chất của các hoạt động sáng tạo của Ngài?
Sự thật rằng “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (1 Giăng 4:8, 16) truyền đạt ít nhất ba hàm ý căn bản. Thứ nhất, tình yêu tự bản chất của nó không thể tồn tại khép kín mà phải thể hiện ra bên ngoài. (Có loại tình yêu nào không được bày tỏ?) Tình yêu thương của Đức Chúa Trời được chia sẻ bên trong giữa Ba Ngôi của Đức Chúa Trời, và ra ngoài trong mối quan hệ của Ngài với tất cả các tạo vật của Ngài. Thứ hai, tất cả những gì Đức Chúa Trời làm là biểu lộ tình yêu thương vô điều kiện và không hề thay đổi của Ngài. Điều này bao gồm các công trình sáng tạo của Ngài, các hành động cứu chuộc của Ngài, và thậm chí là các biểu hiện của các bản án trừng phạt của Ngài. Trên thực tế, “tình yêu của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ trong sự công bằng của Ngài không kém gì sự thương xót của Ngài. Công lý là nền tảng của ngai Ngài, và là kết quả của tình yêu thương của Ngài.” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 762. Và thứ ba, vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương và tất cả những gì Ngài làm đều bày tỏ tình yêu thương của Ngài, nên Ngài không thể là nguyên nhân của tội lỗi, vì điều này trực tiếp trái với đặc tính của Ngài.
Nhưng Đức Chúa Trời có thực sự cần tạo ra vũ trụ không? Từ quan điểm về quyền tể trị của Ngài, người ta có thể nói “Không” bởi vì đó là quyết định theo ý muốn tự do của Ngài. Nhưng từ quan điểm về bản chất yêu thương của Ngài, Ngài muốn có một vũ trụ như một phương tiện để bày tỏ tình yêu thương của Ngài. Và tuyệt vời làm sao khi Ngài đã tạo ra một số sinh vật, chẳng hạn như con người, không chỉ có khả năng đáp lại tình yêu thương của Đức Chúa Trời mà còn có khả năng chia sẻ và bày tỏ tình yêu thương, không chỉ với Đức Chúa Trời mà còn với người khác (Xem thêm Mác 12:30, 31).
Hãy nhìn quanh thế giới được tạo dựng này. Bạn có thể thấy nó phản ảnh tình yêu thương của Đức Chúa Trời theo những cách nào, bất chấp sự tàn phá của tội lỗi? Làm thế nào chúng ta có thể học cách rút ra bài học về hy vọng từ việc bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Sự Sáng Tạo?
Đọc 1 Giăng 4:7–16. Đoạn văn này cho chúng ta biết điều gì về ý chí tự do là một điều kiện để vun đắp tình yêu thương?
Hoa nhân tạo có thể đẹp lộng lẫy, nhưng chúng không phát triển và nở rộ như hoa thật. Rô-bốt được lập trình sẵn để nói chuyện và thực hiện nhiều nhiệm vụ, nhưng chúng không có sự sống cũng như cảm xúc. Trong thực tế, sự sống và ý chí tự do là những điều kiện không thể thiếu để người ta đón nhận, vun đắp và chia sẻ tình yêu thương. Vì vậy, Đức Chúa Trời yêu thương của chúng ta đã tạo ra các thiên sứ (luôn cả Lu-xi-phe) và con người có quyền tự do lựa chọn của mình, kể cả khả năng đi theo con đường sai lầm. Nói cách khác, Đức Chúa Trời đã tạo ra toàn thể vũ trụ như một môi trường hoàn hảo và hài hòa để các tạo vật của Ngài lớn lên trong tình yêu thương và sự khôn ngoan.
Trong 1 Giăng 4:7–16, sứ đồ Giăng nhấn mạnh rằng “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” và Ngài bày tỏ tình yêu thương của Ngài với chúng ta bằng cách sai Con của Ngài xuống để chết vì tội lỗi của chúng ta. Do đó, chúng ta nên bày tỏ lòng biết ơn đối với tình yêu thương vô bờ bến của Ngài bằng cách yêu thương nhau. Tình yêu có nguồn gốc thiên thượng ấy, sẽ là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy Đức Chúa Trời ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Ngài. Lời kêu gọi con người hãy phản ánh tình yêu thương của Đức Chúa Trời bằng sự yêu thương lẫn nhau chỉ có ý nghĩa nếu được gởi đến những loài thọ tạo có khả năng chọn vun đắp và bày tỏ tình yêu thương đó, hoặc ngược lại, tự chọn để sống một cuộc sống chỉ cho mình. Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn có thể dễ dàng bị lạm dụng, một thực tế đáng buồn đã được chứng minh trong cuộc nổi loạn bi thảm của Lu-xi-phe trên thiên đàng.
Nhưng ngay cả khi nhận ra tầm quan trọng của ý chí tự do, một số người vẫn tự hỏi, Nếu Chúa biết Lu-xi-phe sẽ nổi loạn, sao Ngài còn tạo hắn làm gì? Có phải vì Chúa tạo ra Lu-xi-phe nên Ngài cuối cùng phải chịu trách nhiệm về nguồn gốc của tội lỗi?
Đó có thể là một câu hỏi rất khó để suy đoán, bởi vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, kể cả ý nghĩa chính xác của động từ “chịu trách nhiệm”. Nguồn gốc và bản chất của tội lỗi là những điều bí ẩn mà không ai có thể giải thích hết được.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không dựng nên tội lỗi; Ngài chỉ cho phép nó tồn tại, nhưng chính Ngài đã gánh thay hậu quả khủng khiếp nhất của nó, nhờ đó mà Ngài có thể trừ bỏ tội lỗi tận gốc. Khi nghĩ về tất cả những đau đớn bởi tội lỗi, chúng ta đừng bao giờ quên rằng chính Đức Chúa Trời đã trả một giá cao cả nhất do sự tồn tại của tội lỗi và những điều xấu xa (xin xem Ma-thi-ơ 5:43–48 và Rô-ma 5:6–11), hơn nữa Ngài đã chịu sự đau đớn vì tội lỗi hơn bất kỳ ai trong chúng ta từng phải chịu.
Ý chí tự do, một món quà từ Đức Chúa Trời, là thiêng liêng, nhưng nó đi kèm với những hậu quả nặng nề, không chỉ cho chính bạn mà cho cả những người khác. Mỗi quyết định quan trọng nào bạn sắp làm qua ý chí tự do Chúa ban, hãy nghĩ đến hậu quả của bất kỳ sự lựa chọn nào bạn có?
Đọc Ê-xê-chi-ên 28:12–19. Chúng ta có thể học được gì từ phân đoạn này về nguồn gốc bí ẩn của tội lỗi?
Phần lớn sách Ê-xê-chi-ên được viết bằng ngôn ngữ tượng trưng về thời kỳ cuối cùng. Trong nhiều trường hợp, các thực thể (như người, động vật và đồ vật) và các sự kiện địa phương được dùng để biểu hiện và mô tả các thực tế vũ trụ và / hoặc lịch sử rộng lớn hơn. Trong Ê-xê-chi-ên 28:1–10, Chúa đã nói về vua của Ty-rơ (Ty-rơ là một hải cảng thịnh vượng của vùng Phô-nê-sa thời cổ đại) như một người cai trị giàu có và kiêu ngạo, vua này chỉ là một “người” nhưng tự nhận (tuyên bố) mình là thần và thậm chí xưng là mình ngồi trên ngai của các thần.
Sau đó, trong Ê-xê-chi-ên 28:12–19, thực tế lịch sử này trở thành một sự so sánh tương tự để mô tả sự sa ngã ban đầu của Lu-xi-phe trong sân của vương quốc trên trời. Vì vậy, vua Ty-rơ, là một con người sống “ở giữa các biển” (Ê-xê-chi-ên 28:2, 8), “Ngươi là một chê-ru-bin được xức dầu đang che phủ; ta đã lập ngươi lên trên hòn núi thánh của Đức Chúa Trời; ngươi đã đi dạo giữa các hòn ngọc sáng như lửa” (Ê-xê-chi-ên 28:13, 14).
Một câu nói quan trọng trong toàn bộ câu chuyện được tìm thấy trong Ê-xê-chi-ên 28:15, “Đường lối ngươi trọn vẹn từ ngày ngươi được dựng nên, cho đến lúc thấy sự gian ác trong ngươi.” Như thế, rất quan trọng là sự hoàn hảo của Lu-xi-phe gồm khả năng làm điều ác, khả năng làm điều sai trái, và đó là bởi vì, là một thực thể có trí tuệ, Lu-xi-phe có được ý chí tự do, vì đó là một phần của thế nào là một sinh vật hoàn hảo.
Trên thực tế, Lu-xi-phe được tạo ra hoàn hảo — và đó là có cả khả năng tự do lựa chọn của mình. Tuy nhiên, lạm dụng sự hoàn hảo đó bằng cách lạm dụng ý chí tự do của mình, Lu-xi-phe đã trở nên hư hỏng khi xem mình cao trọng hơn sự thật mình là ai.
Được Đức Chúa Trời tạo dựng và làm cho mình được tôn quí vẫn chưa đủ cho Lu-xi-phe thỏa lòng. Lu-xi-phe đánh mất lòng biết ơn đối với Chúa và muốn nhận được nhiều sự tôn vinh hơn những gì hắn thực sự xứng đáng. Làm thế nào điều này có thể xảy ra với một thiên thần hoàn hảo sống trong một vũ trụ hoàn hảo, như đã nói trên, vẫn là một điều bí ẩn. “Tội lỗi là một điều bí ẩn, không thể giải thích được. Không có lý do cho sự hiện hữu của nó; tìm cách giải thích nó là tìm cách đưa ra lý do cho nó, và như thế sẽ là biện minh cho nó. Tội lỗi xuất hiện trong một vũ trụ hoàn hảo, một điều đã được chứng minh là không thể bào chữa được.” — Ellen G. White, The Truth About Angels, trang 30.
Trong 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:18, Phao-lô nói rằng “phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa.” Làm thế nào những lời này có thể giúp chúng ta vượt qua bất kỳ cảm giác xấu hổ và tủi thân nào, đặc biệt là trong những hồi thử thách?
Trong Kinh Thánh, người ta có thể thấy hai chủ đề hoặc mô-típ chủ yếu đang cạnh tranh với nhau. Một là chủ đề về Sa-lem, Núi Si-ôn, Giê-ru-sa-lem và Giê-ru-sa-lem Mới, đại diện cho vương quốc của Đức Chúa Trời. Chủ đề còn lại là chủ đề Ba-bên và Ba-by-lôn, viết tắt của lãnh địa giả mạo của Sa-tan. Nhiều lần Đức Chúa Trời đã gọi dân Ngài ra khỏi Ba-by-lôn ngoại giáo để hầu việc Ngài trong Đất Hứa.
Ví dụ, Áp-ram (sau này là Áp-ra-ham) được yêu cầu chuyển từ U-rơ của người Canh-đê đến xứ Ca-na-an (Sáng thế Ký 11:31–12:9). Vào cuối thời kỳ lưu đày lâu dài của họ, người Do Thái rời Ba-by-lôn và trở về Giê-ru-sa-lem (Ê-xơ-ra 2). Và trong sách Khải huyền, dân sự của Đức Chúa Trời được gọi ra khỏi Ba-by-lôn thời kỳ cuối (Khải huyền 14:8) để cuối cùng ở với Ngài trên Núi Si-ôn và Giê-ru-sa-lem Mới (Khải huyền 14:1; Khải huyền 21:1–3, 10).
Đọc Ê-sai 14:12–15. Lòng tự cao của Lu-xi-phe khi ở trên trời đã mang lại những hậu quả sâu rộng nào cho vũ trụ và thế giới này?
Trong Kinh Thánh, thành Ba-by-lôn tượng trưng cho một quyền lực đối lập trực tiếp với Đức Chúa Trời và vương quốc của Ngài; và vua Ba-by-lôn (với sự ám chỉ đặc biệt đến Nê-bu-cát-nết-sa) trở thành biểu tượng của sự kiêu căng và ngạo mạn. Đức Chúa Trời đã tiết lộ cho Vua Nê-bu-cát-nết-sa rằng Ba-by-lôn chỉ là cái đầu bằng vàng tượng trưng cho hình ảnh vĩ đại của các đế chế kế tiếp (Đa-ni-ên 2:37, 38). Để thách thức sự mặc khải của Đức Chúa Trời, nhà vua đã dựng ra một hình tượng hoàn toàn bằng vàng — một biểu tượng rằng vương quốc của ông sẽ tồn tại mãi mãi — và thậm chí bắt toàn dân phải thờ lạy nó (Đa-ni-ên 3). Như trường hợp của vua Ty-rơ (Ê-xê-chi-ên 28:12–19), vua Ba-by-lôn cũng trở thành biểu tượng của Lu-xi-phe.
Ê-sai 14:3–11 mô tả sự sụp đổ của vị vua kiêu căng và áp bức của Ba-bylôn. Sau đó, Ê-sai 14:12–15 chuyển từ lĩnh vực lịch sử sang sân của vương quốc trên trời và nhấn mạnh rằng một tâm thần tự cao và kiêu ngạo tương tự đã mang đến sự sụp đổ nguyên thủy của Lu-xi-phe. Bản văn giải thích rằng Lu-xi-phe đã lên kế hoạch để nâng cao ngôi mình lên trên mọi đấng trên trời và tự biến mình “bằng Đấng Rất Cao” (Ê-sai 14:14). Đây là khởi đầu của một tình trạng mới và thù hằn, trong đó tình yêu vị tha và sự hợp tác của Đức Chúa Trời sẽ bị thử thách bởi sự ích kỷ và ganh tị của Lu-xiphe. Kẻ thù đã không ngại ngần buộc tội Đức Chúa Trời về chính cá nhân Ngài và truyền rao những lời nói dối của nó với các thiên sứ khác. Đây chính là nguồn gốc bí ẩn của cái ác trong vũ trụ.
Tại sao chúng ta rất dễ trở nên tự hào và khoe khoang về địa vị hoặc thành tích của mình, hoặc cả hai? Làm thế nào giữ thập tự giá trước mặt chúng ta ngăn ngừa chúng ta rơi vào một cái bẫy như vậy?
Đọc Khải huyền 12. Đoạn này dạy gì về sự lan tràn của cuộc nổi loạn trên trời xuống đến thế gian?
Sự sa ngã của Lu-xi-phe không phải là một cuộc đụng độ đơn giản của những ý kiến đối nghịch. Khải huyền 12 cho chúng ta biết rằng một cuộc chiến lớn đã bùng nổ trên thiên đường giữa một bên là Lu-xi-phe và các sứ của hắn và bên kia là Đấng Christ và các thiên sứ của Ngài. Trong phân đoạn này, Lu-xi-phe được gọi là “con rồng lớn”, “con rắn xưa”, “Ma quỷ và Sa-tan,” và “kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta” (câu 9, 10). Đấng Christ được gọi là “Mi-chen” (câu 7), có nghĩa là “người giống như Đức Chúa Trời.”
Dựa trên sự ám chỉ đến “Thiên sứ Trưởng Mi-chen” (Giu-đe 9), một số nhà giải thích tin rằng Ngài chỉ là một thiên thần. Nhưng trong sách Đa-ni-ên, mỗi khải tượng chính đều đạt đến đỉnh điểm với Đấng Christ và vương quốc đời đời của Ngài — như viên đá không bởi tay người cắt (Đa-ni-ên 2:34, 45), như Con Người (Đa-ni-ên 7:13), như Vua của vua (Đa-ni-ên 8:11, 25), và như Mi-ca-ên đại hoàng tử (Đa-ni-ên 12:1). Vì vậy, vì Thiên sứ của Chúa là chính Chúa (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:1–6, Công vụ 7:30–33, v.v.), Mi-ca-ên phải là một Đấng Thiêng Liêng, tức là chính Đức Chúa Giê-su Christ.
Khải huyền 12 cho một cái nhìn tổng quát về cuộc thiện ác đấu tranh đang diễn ra, (1) bắt đầu trên thiên đàng với cuộc nổi loạn của Lu-xi-phe và một phần ba các thiên sứ trên trời, (2) lên đến đỉnh điểm với chiến thắng rõ ràng của Đức Chúa Giê-su Christ tại thập tự giá, và (3) vẫn tiếp tục tấn công những người còn sót lại trong thời kỳ cuối cùng của Đức Chúa Trời.
Suy nghĩ về sự khởi đầu của cuộc tranh cãi này, Ellen G. White giải thích rằng, “Trong tình thương xót vĩ đại, Đức Chúa Trời đã chịu đựng lâu dài với Lu-xi-phe. Ngài không cách chức hắn liền khi hắn mới biểu lộ tinh thần bất mãn, hay ngay khi hắn khởi sự gieo ra những tư tưởng giả dối cho các thiên sứ trung tín. Hắn đã được tha thứ nhiều lần để có dịp ăn năn và phục tùng.” — Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 437, Nhà In Tiếng Nói Hy Vọng.
Chúng ta không biết cuộc chiến đó kéo dài bao lâu trên các tầng trời. Bất kể cường độ và thời gian của nó ra sao, khía cạnh quan trọng nhất của toàn bộ cuộc đấu tranh là Sa-tan và các sứ của hắn “song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa” (Khải huyền 12:8; xem thêm Lu-ca 10:18). Nhưng vấn đề bây giờ là, Sa-tan và bè đảng đã đến đây, trên địa cầu.
Qua những cách nào mà chúng ta thấy rõ thực tế của trận chiến đang xảy ra trên địa cầu? Niềm hy vọng duy nhất nào của chúng ta để chiến thắng kẻ thù mình trong trận chiến hôm nay?
“Không một tia hy vọng cứu chuộc nào được dành cho Sa-tan và các thiên sứ sa ngã, vì Sa-tan và các thiên sứ này đã chứng kiến và tận hưởng vinh quang không thể tả xiết của thiên đàng, đã từng nhìn thấy sự uy nghiêm vô hạn của Đức Chúa Trời, tuy được nhìn thấy tất cả mọi sự vinh hiển nhưng lại phản nghịch. Không còn có bất kỳ một sự biểu lộ mới mẻ và tuyệt vời nào khác để làm cho họ cảm phục về quyền năng cao cả của Đức Chúa Trời hơn là những gì mà Sa-tan và các thiên sứ sa ngã này đã kinh nghiệm được. Nếu chúng có thể phản nghịch khi được hiện diện trong sự vinh hiển không thể tả xiết như vậy, thì không còn một môi trường nào dễ dàng hơn để chúng được thử nghiệm. Không có một quyền lực nào, cũng không có bất kỳ một sự vinh hiển vô hạn nào có chiều cao và chiều sâu vĩ đại hơn nữa để có thể chế ngự được những nghi ngờ, ghen tuông và những lời bội nghịch của chúng. Tội lỗi và hình phạt mà chúng phải chịu tương xứng với những đặc quyền cao quý mà chúng đã từng có trong các tòa án ở trên trời.” — Ellen G. White, Confrontation, trang 21.
Ngay từ đầu, Đức Chúa Trời và Đấng Christ đã biết về sự bội đạo của Sa-tan, và sự sa ngã của con người qua quyền lực lừa dối của kẻ bội đạo. Đức Chúa Trời không tuyên dương cho tội lỗi được hiện hữu, nhưng Ngài đã thấy trước sự hiện hữu của nó, nên đã ban bố một phương cách để giải quyết tình huống khẩn cấp kinh khủng này. Tình yêu của Ngài dành cho thế gian lớn đến nỗi Ngài đã giao ước ban Con duy nhất của Ngài, ‘hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời’ (Giăng 3:16).” — Ellen G. White, The Desire of Ages, trang 22.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: