2023 - Q4 | SỨ MẠNG CỦA CHÚA LÀ SỨ MẠNG CỦA TÔI

Bài Học 13, 23 Tháng 12 — 29 Tháng 12

Công Việc Cứu Chuộc Sau Cùng

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Khải huyền 1:1–7; 1 Phi-e-rơ 2:9; Khải huyền 14:6-12; Lu-ca 11:23; 1 Ti-mô-thê 2:4; Khải huyền 21:1–4.

CÂU GỐC: “Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào, trong khi chờ đợi trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến, là ngày các từng trời sẽ bị đốt mà tiêu tán, các thể chất sẽ bị thiêu mà tan chảy đi!” (2 Phi-e-rơ 3:11, 12).

Những câu mở đầu của sách Khải hyền cho chúng ta biết rằng sách Khải huyền là sách trình bày về công việc trong thời kỳ cuối cùng của Đức Chúa Trời.

Đọc Khải huyền 1:1–7. Bạn thấy bằng chứng nào trong những câu này rằng sách Khải huyền là sách nói về công việc cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong thời kỳ cuối cùng?

Những câu đầu tiên của sách Khải huyền cho chúng ta thấy rằng Chúa Giê-su là trọng tâm của lòng thương xót và sự mong muốn cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời. Trong Khải huyền 1:4, 5, cho chúng ta biết có ba Đấng riêng biệt trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời: Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Ba Đấng cùng hành động trong việc cứu rỗi loài người. Chúa Cha là Đấng Hằng Hữu “Đấng hiện có, đã có, và còn đến” (Khải huyền 1:4). Sau đó, Đức Thánh Linh được nhắc đến. Và cuối cùng, Giăng nói với chúng ta về Chúa Giê-su “là Đấng làm chứng thành tín, sinh đầu nhứt từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian!” (Khải huyền 1:5). Bây giờ Giăng cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su chính là Đấng Quản Trị chân thật của hành tinh này. Sa-tan đã tìm cách thiết lập vương quốc của mình trên trái đất này. Nhưng kế hoạch của Sa- tan bị thất bại. Giăng cũng cho biết rằng huyết của Chúa Giê-su tẩy sạch tội lỗi và sự xấu xa của chúng ta.

Đọc Khải huyền 1:6 và 1 Phi-e-rơ 2:9. Trong những câu này, danh hiệu dành cho những người được cứu có ý nghĩa gì?

Kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời không chỉ bao gồm sự tha thứ và cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Chúa còn muốn chúng ta được biến đổi thành những con người mới, với tấm lòng và một đời sống được đổi mới. Chúa muốn ngự vào lòng của bạn và tôi để rồi chúng ta sẽ nên thánh như Ngài là thánh. Dân sự được Chúa cứu sẽ trở thành vua. Chúa Giê-su đã đổ huyết Ngài ra cho mọi người, và huyết Ngài giúp chúng ta được dự phần vào gia đình của Đức Chúa Trời. Vì là thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời nên giờ đây chúng ta là con cái của vị Vua cai trị mọi vật trên trời dưới đất. Là thành viên trong gia đình hoàng gia, chúng ta cùng cộng tác với thiên đàng trong công cuộc cứu linh trên hành tinh này.

Trong Khải huyền 1:7, chúng ta biết chẳng bao lâu nữa Đức Chúa Giê-su sẽ trở lại. Loài người trên trái đất sẽ phải khóc than khi biết rằng họ đã quá muộn màng, và họ sẽ bị hư mất. Chúa luôn muốn cứu hết thảy chúng ta trước khi quá muộn. Vì vậy, sách Khải huyền giải bày cho bạn và tôi kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời đã tạo dựng và cứu rỗi chúng ta. Tại sao lẽ thật Kinh Thánh này cho bạn hy vọng?

Sách Khải huyền cho chúng ta thấy cuộc chiến vũ trụ giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan. Khải huyền 12:12 cho thấy lẽ thật Kinh Thánh này một cách rõ ràng. Giăng nghe tiếng lớn vang lên từ trời: “Bởi vậy, hỡi các từng trời và các đấng ở đó, hãy vui mừng đi! Khốn nạn cho đất và biển! Vì ma quỉ biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu, nên giận hoảng mà đến cùng các ngươi” (Khải huyền 12:12).

Đọc Khải huyền 14:6-12. Những câu này cho chúng ta thấy điều gì? Những phần nào trong những sứ điệp này rất quan trọng đối với công việc của hội thánh? Chúng liên quan gì đến Tin Mừng về sự cứu rỗi của Đức Chúa Giê-su?

Phần quan trọng nhất trong công việc của Đức Chúa Trời là phúc âm về Đức Chúa Giê-su. Sứ điệp này cần có hành động. Mọi người trên trái đất cần phải nghe được sứ điệp này. Họ cần được cảnh báo về những gì sắp xảy ra. Mọi người trên trái đất khi nghe những sứ điệp này cần phải đưa ra lựa chọn cuối cùng: chọn sự sống đời đời hoặc là bị hư mất vĩnh viễn.

Đức Chúa Giê-su phán: “Phàm ai không theo ta, thì nghịch cùng ta, ai không thâu hiệp với ta, thì tan lạc” (Lu-ca 11:23). Đức Chúa Giê-su đang nói về điều gì? Mối liên hệ giữa lẽ thật Kinh Thánh này với công việc của hội thánh là gì?

Đức Chúa Trời đã giao phó cho Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm một công việc rất quan trọng. Chúng ta phải rao truyền Sứ Điệp Ba Thiên Sứ trong Khải huyền 14 cho mọi người trên đất. Đó là công việc của bạn và tôi. Chúng ta phải kêu gọi mọi người tin nhận phúc âm của Đức Chúa Giê-su (Khải huyền 14:6) và thờ phượng Đức Chúa Trời vì Ngài đã dựng nên muôn loài vạn vật. Mọi người sẽ thấy rằng dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ cuối cùng sẽ làm cả hai việc: họ sống theo phúc âm và thờ phượng Đức Chúa Trời. Dân sự trong thời kỳ cuối cùng của Đức Chúa Trời sẽ hết sức kiên nhẫn. Họ tuân theo tất cả các điều răn của Ngài. Họ có đức tin [đến từ] Đức Chúa Giê-su (Khải huyền 14:12). Trong tất cả những công việc chúng ta làm cho Chúa, chúng ta phải luôn cảnh báo cho mọi người trên trái đất này về những điều sẽ xảy ra vào thời kỳ cuối cùng. Chúng ta phải cho họ biết Sứ Điệp Ba Thiên Sứ. Và phải rao truyền niềm hy vọng vĩnh cửu trong Phúc âm của Đức Chúa Trời.

“Phàm ai không theo ta, thì nghịch cùng ta, ai không thâu hiệp với ta, thì tan lạc” (Lu-ca 11:23). Đọc những lời của Chúa Giê-su và xét lại lòng mình. Hãy tự hỏi, tôi đang ở đâu? Tôi có đang ở với Ngài không?


Trước khi về trời, Đức Chúa Giê-su đã ban cho các môn đồ một mạng lệnh quan trọng: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:19, 20). Ngày nay, Sứ Điệp Ba Thiên Sứ cũng phải được rao giảng cho tất cả mọi người trên đất. Sứ điệp này là lẽ thật cho thời đại của chúng ta. Nó là lẽ thật Kinh Thánh mà mọi người đang cần nhất trong thời đại này.

Tại sao Chúa quan tâm đến mọi người? Đọc 1 Giăng 4:8; 2 Phi-e-rơ 3:9; 1 Ti-mô-thê 2:4; và Sáng thế ký 12:3 để biết câu trả lời.

Đức Chúa Giê-su yêu tất cả mọi người. Một số triết gia Kinh Thánh dạy rằng Chúa Giê-su chỉ chết cho một nhóm người đặc biệt. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su đã hy sinh cho tất cả mọi người. Chúng ta là những người mà Chúa đã chết thay. Câu hỏi duy nhất là: Bạn chấp nhận hay từ chối những gì Chúa Giê-su đã làm cho bạn?

Khi Đức Chúa Giê-su trở lại, chỉ có hai nhóm người còn sống trên đất: (1) những người đi theo Sa-tan, các thế lực tôn giáo và chính phủ mà Sa-tan kiểm soát (Khải huyền 13 và 17), và (2) những người tôn kính Đức Chúa Giê-su và tuân theo các điều răn của Ngài (Khải huyền 14:12).

Từ lúc ban đầu của lịch sử nhân loại, Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho loài người biết Ngài là ai. Đức Chúa Trời ban cho loài người bằng chứng về tình yêu thương của Ngài (Rô-ma 1:18–21). Vì vậy, Chúa sẽ phán xét mọi người kể cả những việc của họ trong quá khứ, là phán xét về sự phụng sự và lối sống của họ. Nhưng Ngài sẽ không phán xét những gì họ không hiểu hoặc không biết về Ngài (Rô-ma 2:11–16).

Trong thời kỳ cuối cùng, mọi người ngày càng chia thành hai nhóm mà chúng ta đã nói đến. Chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhau. Mọi người sẽ bị ép phải dự phần vào phe của Sa-tan. Vì vậy, chúng ta cần chia sẻ phúc âm về Đức Chúa Giê-su để mọi người biết về những kế hoạch xấu xa của Sa-tan và đặc biệt là cho mọi người hiểu tường tận về lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Đó là tất cả những gì mà Sứ Điệp Ba Thiên Sứ cần được rao truyền.

Đức Chúa Giê-su đã chết thay cho chúng ta. Có điều gì bạn và tôi đã làm mà Ngài không thể tha thứ không? Giải thích tại sao sự chết của Ngài là đủ để trả giá cho tội lỗi của chúng ta.


Làm thế nào để chúng ta thành công trong công việc Chúa? Một số người nói rằng thành công được đánh giá bằng số người báp-têm. Những người khác có thể nói rằng thành công là xây dựng được những hội thánh lớn hoặc một hội thánh phát triển nhanh chóng và có nhiều tín hữu. Hoặc có thể chúng ta nghĩ rằng thành công có nghĩa là chia sẻ Tin mừng với mọi người ở mọi nơi trên đất. Tất cả những ý tưởng này đều tốt. Nhưng đồng thời, chúng ta phải nhớ điều Phao-lô đã viết cho hội thánh ở Cô-rinh-tô: “Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên” (1 Cô-rinh-tô 3:6). Công việc của chúng ta là làm việc. Chúa sẽ ban phước cho những nỗ lực của chúng ta. Ngài mới là người nuôi dưỡng chân chính.

Chúng ta đã thấy rằng Đức Chúa Trời muốn cứu những người hư mất ở mọi nơi trên đất này. Ngài muốn họ trở thành những môn đồ trung thành của Đức Chúa Giê-su, là những người sẽ cùng đồng công với Ngài trong công cuộc cứu linh để nhiều người được biết đến tình yêu thương và ân điển cứu chuộc.

Đọc những câu Kinh Thánh sau. Những câu này cho chúng ta biết gì về những người đã trở thành môn đồ của Đức Chúa Giê-su?

2 Cô-rinh-tô 11:2 _____________________________________

Ê-sai 30:21; Giăng 10:27; Giăng 16:12, 13__________________

2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9–11; Hê-bơ-rơ 3:12, 13; 1 Giăng 1:8 _______

1 Giăng 1:9; Khải huyền 7:14; Khải huyền 19:8______________ 

Những người bước theo Chúa Giê-su luôn giữ lòng trung thành. Trọn đời sống họ làm theo chỉ dẫn của Đức Chúa Giê-su và Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh hướng dẫn mỗi Cơ Đốc nhân phải chung tay với Đức Chúa Trời trong công cuộc cứu linh. Những người bước theo Chúa Giê-su phải là những người đáng được tin cậy. Họ không nói dối hay sống giả tạo. Họ phải là những người nên thánh, chứ không phải là những Cơ Đốc nhân giả tạo. Môn đồ của Chúa Giê-su phải là những người tin tuyệt đối vào Kinh Thánh và không chấp nhận những sự dạy dỗ sai lầm. Phải là những người không vi phạm luật pháp của Ngài. Họ không cư xử như thể họ giỏi hơn người khác, và họ hiểu rằng họ không hoàn hảo. Họ biết rằng họ cần lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa. Vì vậy, họ sẵn sàng để Chúa hoặc những Cơ Đốc nhân khác góp ý khi họ phạm sai lầm. Khi ứng xử theo cách này, chúng ta sẽ thành công trong công việc của Đức Chúa Trời.


Đọc Khải huyền 21:1–4 và Khải huyền 21:22–22:5. Những câu này cho chúng ta thấy gì về viễn cảnh tươi đẹp của đời sống trong tương lai?

Trời mới đất mới sẽ vô cùng hoàn hảo và xinh đẹp! Sự chết chóc và tội lỗi sẽ vĩnh viễn không còn nữa. Sa-tan và tội lỗi sẽ bị tận diệt. Chúng ta sẽ được gặp lại Đấng Cứu Rỗi yêu thương của mình và gặp lại những người thân yêu. Trời mới đất mới sẽ có rất nhiều nhóm người thuộc mọi chủng tộc khác nhau đã từng sống trên trái đất này.

Toàn Cầu Tổng Hội có một phương cách đặc biệt để tìm hiểu xem một nhóm người có biết về phúc âm hay không. Một nhóm người biết về Chúa Giê-su có các nhà thờ, Kinh Thánh và các sách tôn giáo được viết bằng ngôn ngữ địa phương. Vì vậy, nhóm này không cần bất kỳ sự trợ giúp nào từ bên ngoài. Nhóm này cũng có các nhà lãnh đạo hội thánh, những người có thể làm chứng về Chúa Giê-su với mọi người bằng ngôn ngữ địa phương. Vì vậy, họ không cần ai đó phiên dịch những bài giảng cho họ.

Nhóm chưa biết Đức Chúa Giê-su là nhóm không có đủ số tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm trong khu vực để chia sẻ lẽ thật Kinh Thánh. Nhóm này cũng không có đủ Kinh Thánh hoặc các tài liệu thần đạo khác. Vì vậy, họ cần sự giúp đỡ từ bên ngoài.

Mỗi hội thánh địa phương phải cẩn thận nhận thấy những nhóm người trong cộng đồng của họ. Sau đó, hội thánh phải hành động để trả lời cho câu hỏi: “Những người này có biết về Chúa Giê-su không?” Chúng ta phải sử dụng thời gian và tài chính hiện có để chia sẻ lẽ thật Kinh Thánh với người khác. Chúng ta phải làm trọn phận sự của mình để chung tay góp phần cho ngày tái lâm của Chúa càng sớm hơn. Lúc đó, chúng ta có thể hưởng được sự sống đời đời trong trời mới đất mới với những người mà chúng ta đã làm chứng.

THÁCH THỨC: Bạn đang làm gì để góp phần cho ngày tái lâm của Giê-su được sớm hơn? Bạn có đang giúp đỡ để lòng mọi người được đầy dẫy niềm hy vọng nơi Chúa? Bạn có đang làm chứng cho mọi người? Bạn có đang giúp các tân tín hữu học biết ý nghĩa của việc vâng lời và trung thành với Đức Chúa Giê-su không? Hãy cầu nguyện để Chúa giúp bạn làm chứng cho những người trong danh sách cầu nguyện mỗi ngày của bạn một cách hiệu quả, để mọi người hiểu được tường tận lời hứa của Ngài về lẽ thật trời mới và đất mới.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Một số “tín đồ” mà bạn làm chứng có thể sẵn sàng tiếp nhận Đức Chúa Giê-su. Có lẽ họ đã sẵn sàng đến nhà thờ lần đầu tiên. Họ sẽ có những ấn tượng gì trong hội thánh của bạn? Hội thánh của bạn đã sẵn sàng ra sao để chào đón những người mới? Lập kế hoạch để tiếp đón khách viếng và chia sẻ kế hoạch đó với những người lãnh đạo trong hội thánh của bạn. Cộng tác với các lãnh đạo để đưa kế hoạch vào hành động.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

“Nhờ kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời mà Ngài có thể chấp nhận con người và ban cho con người ân huệ của Ngài. Chúng ta sẽ được nhận lại tất cả những gì mình đã đánh mất do tội lỗi gây ra. Loài người được cứu, và trái đất được tái tạo. Lúc đó, những người được Chúa cứu sẽ được sống mãi mãi trên trái đất này. Đó là phần thưởng của họ vì họ đã vâng lời Đức Chúa Trời. Trong 6,000 năm, Sa-tan đã tìm cách để tranh giành quyền kiểm soát trên trái đất này. Giờ đây, lý do đầu tiên của Đức Chúa Trời để tái tạo trái đất này cuối cùng sẽ xảy ra: ‘Nhưng các thánh của Đấng Rất Cao sẽ nhận lấy nước, và được nước làm của mình đời đời, cho đến đời đời vô cùng’ (Đa-ni-ên 7:18).”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 342, phỏng trích.

Trước khi viễn cảnh tươi đẹp này có thể xảy ra, chúng ta cần hợp tác với Chúa để cứu linh. Chúng ta cần cảnh báo mọi người trên trái đất để mỗi người sẽ có cơ hội chấp nhận lời hứa của Đức Chúa Trời về một đời sống mới và một vùng đất mới trong nay mai.

“Tôi muốn thấy nhiều nhà truyền giáo sẽ cộng tác với Đức Chúa Trời trong việc cứu những linh hồn chưa biết đến lẽ thật Kinh Thánh trong thời gian này. Nhiều người đã biết về Sứ Điệp Ba Thiên Sứ và chấp nhận sứ điệp ấy. Bây giờ, họ nên rao truyền những sứ điệp này cho mọi người ở khắp mọi nơi trên trái đất. Tôi muốn làm phần việc của mình và giúp các tín đồ Đấng Christ khác chia sẻ lẽ thật Kinh Thánh này với mọi người. Cầu xin Chúa giúp chúng ta mặc lấy áo giáp của Ngài (Ê-phê-sô 6:10–18). Cơ Đốc nhân phải liên kết hiệp một với nhau để góp phần rao truyền lời cảnh báo cuối cùng của Đức Chúa Trời cho mọi người ở trên đất”—Ellen G. White, Letter 390, 1907, phỏng trích.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Phúc âm đời đời có nghĩa là gì? Tại sao phúc âm này còn đến đời đời? Tại sao phúc âm này phải là một phần quan trọng trong sự dạy dỗ và công việc truyền bá của hội thánh?

  2. Tại sao hội thánh chúng ta tin rằng Sứ Điệp Ba Thiên Sứ rất quan trọng? Điều gì sẽ xảy ra nếu ai đó nói với bạn: “Chúng ta chỉ cần nói về Chúa Giê-su chứ không phải về những lời cảnh báo trong Sứ Điệp Ba Thiên Sứ. Những lời cảnh báo này ‘quá mạnh.’ Người ta có thể cảm thấy bị tấn công và từ chối Chúa Giê-su do những sứ điệp này.” Lúc này bạn sẽ trả lời những người này như thế nào?

  3. Hướng dẫn học Kinh Thánh trong quý này đã giúp bạn hiểu rõ hơn về công việc của Đức Chúa Trời như thế nào? Công tác cứu linh của Ngài quan trọng như thế nào? Nghiên cứu bài học này đã giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của bạn và hội thánh trong kế hoạch rao báo tin lành như thế nào?

Bài Học 12, 16 Tháng 12 — 22 Tháng 12

Ê-xơ-tê Và Mạc-đô-chê

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU:Đa-ni-ên 1:1–12; Đa-ni-ên 6:1-9; Ê-xơ-tê 2:1–10, 20; Ê-xơ-tê 3:1–15; Ê-xơ-tê 4:1–14; Ê-xơ- tê 9:1–12.

CÂU GỐC:“Ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân ngoại, hầu cho ngươi làm sự cứu rỗi của ta đến nơi đầu cùng đất” (Ê-sai 49:6).

 

Ê-xơ-tê là một người sống tị nạn. Sống ở một đất nước xa lạ chẳng phải là dễ dàng. Có lẽ chúng ta không thể hiểu hết những gì Ê-xơ-tê và những người Do Thái khác đã trải qua khi sinh sống ở đất nước xa lạ này, lúc đầu là dưới thời Ba-by-lôn và sau đó là dưới thời Ba Tư.

Không ai trong chúng ta là những người đang sống ở những quốc gia có sự hiện diện của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm, mà tín lý của Giáo hội lại có nhiều điểm tương đồng với luật pháp của đất nước mình đang sinh sống. Trước khi người Do Thái bị đưa đến Ba-by-lôn, họ sống trên đất nước của họ. Và lúc ấy, tín lý tôn giáo của họ và luật pháp của đất nước họ sinh sống có rất nhiều điểm tương đồng. Giữ ngày Sa-bát là một phần của luật tôn giáo và là một phần của luật pháp của vương quốc này. Vì vậy, phải chăng nếu được sống ở Y-sơ-ra-ên thì người Do Thái sẽ dễ dàng tôn vinh Đức Chúa Trời hơn?

Kinh Thánh cho chúng ta biết luật pháp không đủ để làm cho con người nên thánh. Đức tin và lòng trung thành của chúng ta với Chúa phải xuất phát từ trong lòng của chúng ta. Luật pháp không thể ép chúng ta vâng lời. Chính bạn và tôi phải sẵn lòng vâng lời Chúa. Nếu chúng ta không muốn, thì tội lỗi sẽ kiểm soát đời sống của bạn và tôi.

“Chúa có phán rằng: Vì dân nầy chỉ lấy miệng tới gần ta, lấy môi miếng tôn ta, mà lòng chúng nó thì cách xa ta lắm; sự chúng nó kính sợ ta chẳng qua là điều răn của loài người, bởi loài người dạy cho” (Ê-sai 29:13).

Ê-sai 29:13 cho thấy cảnh tượng của sự thờ phượng giả tạo. Hãy so sánh cảnh tượng này với những câu chuyện trong Kinh Thánh đã kể về những người hết lòng vâng lời Đức Chúa Trời. Nhiều người đã bày tỏ đức tin của họ nơi Chúa trong những lúc khó khăn, ngay những lúc rất khó để có được đức tin. Những câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng những môn đồ trung thành của Đức Chúa Trời sẽ vâng lời Ngài ngay cả trong những thời điểm tồi tệ nhất.

Dân sự của Đức Chúa Trời thường gặp khó khăn khi sống trong một nền văn hóa xa lạ. Đọc các câu chuyện trong Đa-ni-ên 1:1–12; Đa- ni-ên 3:1–12; và Đa-ni-ên 6:1–9. Dân sự của Đức Chúa Trời gặp phải một số khó khăn nào trong những câu chuyện này?

Tất cả chúng ta đang sống ở những đất nước mà luật pháp hoặc lối sống xung quanh đôi khi có thể ngăn trở chúng ta làm chứng về Chúa Giê-su. Những câu chuyện trong sách Đa-ni-ên cho chúng ta thấy rằng dân Chúa có thể trung thành với Ngài ngay cả khi gặp khó khăn. Những câu chuyện trong Đa-ni-ên có một kết thúc tốt đẹp. Nhưng buồn thay khi phải nói rằng không phải tất cả các tình huống đều sẽ kết thúc theo cách tốt đẹp đó. Và dù kết quả có ra sao thì chúng ta cũng phải vâng lời Chúa.

Sau khi vương quốc Ba-by-lôn kết thúc và vương quốc Mê-đi Ba- tư bắt đầu, nhiều người Do Thái đã trở về đất nước của họ. Nhưng không phải ai cũng quay về. Một số người Do Thái còn ở lại BaTư.

Phần lịch sử này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về câu chuyện của Ê-xơ-tê. Kinh Thánh cho chúng ta biết thời gian và địa điểm xảy ra câu chuyện của Ê-xơ-tê. “Khi vua ngự ngôi vương quốc tại Su-sơ, kinh đô người” (Ê-xơ-tê 1:2). Vậy, nhờ câu này, chúng ta hiểu rằng câu chuyện của Ê-xơ-tê xảy ra dưới thời Đế quốc Phe-rơ-sơ dưới thời Vua A-suê-ru [một tên gọi khác của A-suê-ru là Xerxes].

Trong chương 1, hoàng hậu Vả-thi đánh mất sự sủng ái của nhà vua. Vì vậy, nhà vua phế truất Vả-thi khỏi ngôi vị hoàng hậu. Sau đó, nhà vua tìm một hoàng hậu khác để thay thế Vả-thi. Đó là lúc câu chuyện của Ê-xơ-tê và chú của cô là Mạc-đô-chê được bắt đầu.

Đọc Ê-xơ-tê 2:1–9. Những câu này dạy chúng ta điều gì về Mạc-đô- chê và Ê-xơ-tê?

Đến đây chúng ta có thể nói rằng, Mạc-đô-chê làm việc cho nhà vua. Công việc của ông đó là canh gác ở cổng cung điện nhà vua. Vì vậy, ông sống ở thành phố Su-sơ với con gái nuôi là Ê-xơ-tê. Thật ra Ê-xơ-tê là em họ của Mạc-đô-chê, [nhưng Mạc-đô-chê nhận Ê-xơ-tê làm con gái của mình]. Vì vậy, Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê dự phần vào văn hóa và lối sống của Ba Tư. Chẳng bao lâu sau, nhà vua truyền lệnh cho các quan hầu của mình đem những thiếu nữ xinh đẹp nhất tại Ba Tư đến Su-sơ để có thể chọn một trong số những người nữ này làm hoàng hậu mới cho vua (Ê-xơ-tê 2:2–4). Sau đó, Kinh Thánh cho biết: “Xảy ra khi mạng lịnh của vua và chiếu chỉ người đã được rõ biết, khi có nhiều con gái trẻ đã nhóm hiệp tại kinh đô Su-sơ, giao phó cho Hê-gai chưởng quản, thì Ê-xơ-tê cũng được đem đến cung vua, giao phó cho Hê-gai, quan thái giám các cung phi” (Ê-xơ-tê 2:8).

Đọc Ê-xơ-tê 2:10, 20. Điều gì đã xảy ra trong những câu này? Tại sao Mạc-đô-chê ra lệnh này cho Ê-xơ-tê?

Câu Kinh Thánh không nói lý do tại sao, nhưng dễ dàng để đoán ra câu trả lời. Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê là những người ngoại quốc ở một xứ vốn đã không thích những người lạ. Như chúng ta thấy, Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê đã khôn ngoan giữ im lặng về gia đình và dân tộc của mình.

Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê sống nơi đất khách quê người. Là người Do Thái, lối sống và tín lý của họ khác với người Ba Tư. Sớm hay muộn, Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê sẽ gặp rắc rối ở Ba Tư nếu họ muốn trung thành với Đức Chúa Trời.

Đọc Ê-xơ-tê 3:1–15. Điều gì đã xảy ra trong những câu này? Tại sao nó xảy ra?

Trong Ê-xơ-tê 3, chúng ta biết rằng Vua A-suê-ru thăng chức cho Ha-man. Mọi người được lệnh phải cúi đầu trước Ha-man. Kinh Thánh cho biết: “Hết thảy thần bộc ở tại nơi cửa vua đều cúi xuống lạy Ha-man; vì về phần người, vua đã truyền bảo như vậy. Nhưng Mạc- đô-chê không cúi xuống, cũng không lạy người” (Ê-xơ-tê 3:2). Kinh Thánh không đưa ra lý do Mạc-đô-chê từ chối cúi đầu trước Ha-man.

Nhưng chúng ta biết lý do tại sao. Vì Mạc-đô-chê trung thành với Đức Chúa Trời. Ngoài ra, Mạc-đô-chê, là người Do Thái, không thể nào cúi đầu trước một người A-ma-léc. Người A-ma-léc là con cháu của A-gác và là kẻ thù của dân Đức Chúa Trời kể từ khi Đức Chúa Trời dẫn dân Ngài ra khỏi Ai Cập (Phục truyền Luật lệ Ký 25:19). Làm sao một người Do Thái trung thành có thể cúi đầu trước một người A-ma-léc? Làm sao một người Do Thái trung thành lại có thể tôn thờ bất cứ ai khác ngoài Đức Chúa Trời?

Sau đó, các thủ lĩnh của nhà vua ở cổng thắc mắc là Mạc-đô-chê không tuân lệnh vua bằng cách cúi đầu trước Ha-man (Ê-xơ-tê 3:3). Chúng ta sẽ có câu trả lời cho câu hỏi này trong câu tiếp theo là Mạc- đô-chê đã nói với họ rằng ông là người Do Thái (Ê-xơ-tê 3:4). Chắc chắn, Mạc-đô-chê đã giải thích với các hoạn quan của nhà vua rằng ông là người thờ phượng Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên trời đất. Vì vậy, Mạc-đô-chê không thể nào thờ lạy một con người sa ngã. Chắc chắn Mạc-đô-chê đã chia sẻ đức tin của mình với những người này. Nhưng đồng thời, vì đức tin, Mạc-đô-chê đã phải đối mặt với nguy hiểm.

“Đa-ni-ên cùng với ba người bạn của mình và Mạc-đô-chê giống như những ngọn đèn sáng. Họ chiếu sáng lẽ thật của Đức Chúa Trời trong các cung điện của Ba-by-lôn.”—Ellen G. White, Advent Review và Sabbath Herald, ngày 13 tháng 5 năm 1884, phỏng trích.

Ha-man tức giận khi Mạc-đô-chê từ chối thờ lạy ông. Sau đó, Ha- man tâu với Vua A-suê-ru [Xerxes], “Có một dân tộc tản mác, rải rác ra giữa các dân tộc trong những tỉnhcủa nước vua: luật pháp của chúng nó khác hơn luật pháp của các dân khác; lại chúng nó cũng không tuân theo luật pháp của vua; dung chúng nó chẳng tiện cho vua” (Ê-xơ-tê 3:8).

Đức Chúa Trời có thử thách đức tin của bạn giống như Ngài đã thử thách đức tin của Mạc-đô-chê không? Làm thế nào chúng ta “vượt qua” những thử thách đức tin này?

Đọc Ê-xơ-tê 4:1–14. Tại sao vào thời điểm này, điều quan trọng là Ê-xơ-tê phải nhớ rằng mình là người Do Thái?

Mạc-đô-chê kêu gọi Ê-xơ-tê giúp đỡ. Ê-xơ-tê đã được phong làm hoàng hậu của vua A-suê-ru được vài năm. Nhưng luật Ba Tư nói rằng không ai có thể đến trước ngai vàng của vua nếu không được vua vời đến. Nhà vua có thể xử tử bất cứ ai chống đối nguyên tắc này. Ê-xơ-tê biết sẽ có rủi ro khi đến ngai vua mà không có lời mời. Nhưng dù sao thì bà cũng quyết định đi.

Mạc-đô-chê muốn cho Ê-xơ-tê có đầy dẫy đức tin và lòng can đảm để giúp đỡ cho dân tộc của bà. Mạc-đô-chê nói với Ê-xơ-tê, “Chớ thầm tưởng rằng ở trong cung vua, ngươi sẽ được thoát khỏ phải hơn mọi người Giu-đa khác; vì nếu ngươi làm thinh trong lúc nầy đây, dân Giu-đa hẳn sẽ được tiếp trợ và giải cứu bởi cách khác, còn ngươi và nhà cha ngươi đều sẽ bị hư mất; song nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà ngươi được vị hoàng hậu sao?” (Ê-xơ-tê 4:13, 14).

Mạc-đô-chê kêu gọi Ê-xơ-tê nhớ lại tình yêu mà bà đã dành cho dân tộc của mình. Không ai biết Ê-xơ-tê là người Do Thái ngoại trừ Mạc-đô-chê. Khi Ê-xơ-tê quyết định giúp đỡ người dân của mình, bà đã hết lòng giúp đỡ họ. Bà sẵn sàng hy sinh vì dân tộc của mình.

Đức tin của Ê-xơ-tê nơi Đức Chúa Trời rất mạnh mẽ. Bà biết rằng nếu không có sự giúp đỡ của Chúa, bà sẽ thất bại. “Bà Ê-xơ-tê bèn biểu đáp lại cùng Mạc-đô-chê rằng: Hãy đi nhóm hiệp các người Giu-đa ở tại Su-sơ, rồi hãy vì tôi kiêng cữ ăn trong ba ngày và đêm, chớ ăn hay uống gì hết; tôi và các nàng hầu tôi cũng sẽ kiêng cữ ăn nữa; như vậy, tôi sẽ vào cùng vua, là việc trái luật pháp; nếu tôi phải chết thì tôi chết” (Ê-xơ-tê 4:15, 16). Mạc-đô-chê đã gửi thông tin này cho cộng đồng người Do Thái ở Su-sơ. Mọi người kiêng ăn và cầu nguyện. “Ngày thứ ba, bà Ê-xơ-tê mặc đồ triều phục, và ra chầu đứng tại nội viện, đối trước cung điện vua. Vua đương ngự trên ngôi tại trong cung điện trước cửa đền. Vừa khi vua thấy hoàng hậu Ê-xơ-tê đứng chầu nơi nội viện, thì bà được ơn trước mặt vua; vua giơ ra cho bà Ê-xơ-tê cây phủ việt vàng ở nơi tay mình. Bà Ê-xơ-tê lại gần và rờ đầu cây phủ việt” (Ê-xơ-tê 5:1, 2).

Trong sách của Ê-xơ-tê không có nhắc đến danh của Đức Chúa Trời. Ê-xơ-tê là sách duy nhất trong Kinh Tánh không có danh Đức Chúa Trời. Sách có thể không nhắc đến danh Đức Chúa Trời, nhưng người Do Tái vào thời Ê-xơ-tê hiểu rằng Đức Chúa Trời đã cứu họ. Đây là lý do có thể giải thích tại sao Đức Chúa Trời chọn đưa câu chuyện của Ê-xơ-tê vào trong Kinh Tánh. Chúng ta có thấy Đức Chúa Trời hành động đằng sau cuộc sống mỗi ngày của mình? Chúa có thể làm việc theo nhiều cách khác nhau trong đời sống của chúng ta. Ngài có thể làm việc trong thiên nhiên và trong mọi điều xảy ra trong đời sống hàng ngày. Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận để không bỏ lỡ công việc của Ngài trong đời sống của mình!

Đọc Ê-xơ-tê 9:1–12. Ê-xơ-tê đã làm điều gì? Điều gì đã xảy ra vì hành động của Ê-xơ-tê?

Đức Chúa Trời làm phép lạ để cứu dân Ngài một cách diệu kỳ. Luật tiêu diệt người Do Tái không thay đổi. Nhưng nhà vua viết một luật mới cho phép người Do Tái bảo vệ mạng sống của chính họ. Ngoài ra, hãy xem những gì đã xảy ra trong Ê-xơ-tê 9 và cách Đức Chúa Trời dùng những điều này để cứu dân Ngài. Người Ba Tư thấy rằng Đức Chúa Trời cũng làm việc để cứu người Do Tái. Vì vậy, điều gì đã xảy ra trong câu chuyện của Ê-xơ-tê khi Đức Chúa Trời giúp đỡ dân Ngài? “Có nhiều kẻ trong các dân tộc của xứ lại nhập bọn với dân Giu-đa” (Ê-xơ-tê 8:17). Câu chuyện này cho chúng ta thấy Chúa đã để những điều này xảy ra để cho những người không phải là người Do Tái hiểu về Ngài. Các nhà lãnh đạo Do Tái đã thấy cách Đức Chúa Trời thực hiện phép lạ để giúp đỡ dân sự của Ngài. Người Do Tái công bố một ngày lễ đặc biệt mang tên Purim để kỷ niệm việc Chúa đã cứu họ khỏi sự hủy diệt. Ngày nay, người Do Tái vẫn cử hành lễ Purim như là lễ tạ ơn Chúa đã cứu họ.

THÁCH THỨC: Cầu xin Chúa ban cho bạn lòng can đảm để chia sẻ điều Chúa đã làm cho bạn với ai đó trong danh sách cầu nguyện của bạn. THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Ghi lại những điều nhỏ nhặt hoặc những điều lớn lao mà Chúa đã làm cho bạn mỗi ngày. Hãy đọc lại sổ ghi chép của bạn và cầu nguyện rằng Chúa sẽ giúp bạn ghi nhớ những điều này, khi đúng thời điểm bạn có thể chia sẻ với người khác.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Khi khó khăn xảy đến, mỗi gia đình, trường học, phụ huynh, giáo viên và tất cả những người đã biết về phúc âm của Đức Chúa Giê-su, thì phải trả lời câu hỏi mà Mạc-đô-chê đã hỏi Ê-xơ-tê: ‘Song nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà ngươi được vị hoàng hậu sao?’ Ê-xơ-tê 4:14.”—Ellen G. White, Education, tr. 263, phỏng dịch. “Vào thời Kinh Tánh, Chúa đã hành động một cách kỳ diệu trong cuộc đời của những người nữ biết vâng lời Ngài. Những người nữ này đã làm việc với những người nam mà Chúa đã chọn để làm công việc Ngài. Những người nam và người nữ này cùng tôn vinh Đức Chúa Trời. Chúa cũng đã dùng người nữ để chiến thắng trong nhiều trận chiến quan trọng. Chúa đã dùng người nữ để cứu sống nhiều người trong thời kỳ khó khăn. Đức Chúa Trời đã dùng hoàng hậu Ê-xơ-tê để cứu dân Ngài khỏi sự chết. Vào lúc người Do Tái nghĩ rằng không ai có thể cứu họ, Ê-xơ-tê và các nữ tỳ của bà đã cầu nguyện. Họ kiêng ăn uống trong thời gian này. Nhờ những nỗ lực đó của họ, Chúa đã giải cứu người Do Tái. . . . “Hãy nghiên cứu công việc của Đức Chúa Trời trong đời sống của những người nữ trong Cựu Ước. Nghiên cứu này sẽ cho bạn biết được những bài học quan trọng, giúp bạn giải quyết những vấn đề trong công việc Chúa của bạn ngày hôm nay. Chúng ta có thể không đứng trước mặt một vị vua như Ê-xơ-tê đã làm. Nhưng Đức Chúa Trời có thể sử dụng những người nữ dâng trọn cuộc đời mình cho Ngài. Những người nữ này có một phần quan trọng trong công việc của Tượng Đế. Nhiều người nữ đã phụng sự Chúa trong quá khứ và sẵn sàng phụng sự Chúa ngay cả ngày hôm nay.”—Ellen G. White, Daughters of God, tr. 45, 46, phỏng trích.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Đọc lại câu nói nổi tiếng của Ê-xơ-tê nói với Mạc-đô-chê: “Nếu tôi phải chết, thì tôi chết” (Ê-xơ-tê 4:16). Những lời này đã khiến cho lòng của mọi người đầy dẫy lòng can đảm và hy vọng trong thời kỳ khó khăn. Hãy đọc Khải huyền 13, kèm với những lời của Ê-xơ-tê. Làm thế nào những lời của Ê-xơ-tê cho chúng ta thấy sự đau khổ và lòng can đảm của dân sự Đức Chúa Trời trong thời kỳ cuối cùng?
  2. Mạc-đô-chê dặn Ê-xơ-tê không được cho ai biết mình là người Do Tái khi trở thành hoàng hậu. Bạn có thể nghĩ đến những lúc không nên cho ai biết mình là tín đồ Đấng Christ không? Hay chúng ta không nên làm điều đó? Nếu không, tại sao bạn cảm thấy như vậy? Xin giải thích.
  3. Người Do Tái đã cầu nguyện và kiêng ăn cho sự thành công của Ê-xơ-tê. Như chúng ta đã thấy, “kiêng ăn” có nghĩa là không ăn và không uống nước trong một thời gian ngắn. Chúng ta có thể học được bài học nào từ sự thành công của Ê-xơ-tê và những người Do Tái và tầm quan trọng của việc cầu nguyện và kiêng ăn có liên quan đến sự thành công của chúng ta trong công việc Chúa?

Bài Học 11, 9 Tháng 12 — 15 Tháng 12

Làm Chứng Cho Những Người Chưa
Biết Chúa—Phần 2

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Các Vua 11:1–6; Ma-thi-ơ 4:23-25; Ma-thi-ơ 15:22-28; Mác 7:24-30; Công vụ các Sứ đồ 10:34, 35; Ma-thi-ơ 8:10, 13.

CÂU GỐC: “Ngài bèn phán rằng: Hỡi đàn bà kia, ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn! Cũng một giờ đó, con gái người liền được lành” (Ma-thi-ơ 15:28).

Chúng ta được biết “Đức Chúa Jêsus đi từ đó, vào bờ cõi thành Ty-rơ và thành Si-đôn” (Ma-thi-ơ 15:21). Tại sao Đức Chúa Giê-su đưa các môn đồ của Ngài từ Ga-li-lê đến những xứ có nhiều người thờ tà thần? Những bài học quan trọng nào mà Ngài muốn dạy cho những người bước theo Ngài. Và vì cớ Ngài không thể dạy những người theo Ngài những bài học này ở Ga-li-lê. Nên Chúa đã đưa các môn đồ của Ngài đi thực tế đến những vùng đất xa lạ để họ có thể quan sát và học hỏi. Đức Chúa Giê-su muốn dạy những người theo Ngài phương cách để cứu linh trong các thành phố và những vùng đất xa xôi.

Đọc Các Quan Xét 3:1–6; 1 Các Vua 5:1–12; và 1 Các Vua 11:1–6. Làm thế nào những câu này giúp chúng ta hiểu sơ lược về lịch sử của Ty-rơ và Si-đôn?

Trong Các Quan Xét 3:1–6, chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho dân Ngài nhiều kinh nghiệm với dân Ty-rơ và Si-đôn. Đối với dân Y-sơ-ra-ên, những kinh nghiệm này giống như một sự thử thách về đức tin. Dân của Đức Chúa Trời đã thất bại trong sự thử thách: “cưới con gái của chúng nó làm vợ, gả con gái mình cho con trai chúng nó, và hầu việc các thần của chúng nó” (Các Quan Xét 3:6). Do đó, ngay từ đầu, những người từ các vùng đất lân cận ở Y-sơ-ra-ên đã khiến cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.

Trong 1 Các Vua 5:1–11, chúng ta thấy rằng người Si-đôn và người Hê-bơ-rơ là những đối tác thương mại của nhau. Chắc chắn, sự hợp tác kinh doanh này là tốt cho cả hai nước. Nhưng đồng thời, sự hợp tác này cũng làm suy yếu đi mối tương giao của Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời.

1 Các Vua 11:1–6 cho chúng ta thấy rằng sự hợp tác thương mại của Y-sơ-ra-ên với Si-đôn đã gây ra nhiều tai họa: Sa-lô-môn kết hôn với một công chúa Si-đôn, người này đã khiến ông xa cách Đức Chúa Trời. “Vì Sa-lô-môn cúng thờ Át-tạt-tê, nữ thần của dân Si- đôn, và thần Minh-côm, là thần đáng gớm ghiếc của dân Am-môn” (1 Các Vua 11:5).

Bây giờ chúng ta đã biết sơ lược về lịch sử của Y-sơ-ra-ên với Si-đôn và Ty-rơ, có thể chúng ta ngạc nhiên khi thấy Chúa Giê-su đưa những người theo Ngài đến những vùng đất này. Nhưng Chúa Giê-su muốn những người theo Ngài phải hành động để cứu người dân ở các thành phố này. Nhưng trước tiên, những người theo Ngài cần hiểu rằng việc họ không thích những người này là một sai lầm.

Bạn có thể làm gì để trợ giúp những người Cơ Đốc Phục Lâm phụng sự Chúa tại các thành phố?

Đọc Ma-thi-ơ 9:35–38. Những câu này dạy chúng ta điều gì về công việc chúng ta phải làm cho Chúa ở các thành phố và những nơi khác có nhiều người sinh sống?

Bất cứ nơi nào Đức Chúa Giê-su đi đến, Ngài đều cảm thấy yêu thương và động lòng trước hoàn cảnh của nhiều người. Nhiều người trong số này sống ở các làng, thị trấn hoặc thành phố lớn. Lu-ca 19:41 cho chúng ta biết Chúa Giê-su đã khóc cho Giê-ru-sa-lem. Chúng ta có thể không hiểu Đức Chúa Giê-su yêu thương con cái Ngài ở các thành phố đến mức nào. Đó là lý do tại sao Ngài muốn chúng ta cầu nguyện cho họ. Khi bạn và tôi làm như vậy, Ngài sẽ ban cho lòng chúng ta được đầy dẫy tình yêu thương của Ngài.

Khi Đức Chúa Giê-su bắt đầu công việc của Ngài cho Đức Chúa Trời trên đất, mọi người đến với Ngài từ nhiều nơi khác nhau. Câu hỏi là họ đến từ đâu? Xin đọc Ma-thi-ơ 4:23–25 để biết câu trả lời.

Trong Ma-thi-ơ 4:25, dân chúng từ Ga-li-lê đến theo Đức Chúa Giê-su. Họ cũng đến từ các thành bang Đê-ca-bô-lơ ở phía đông. Họ cũng đến từ Giu-đê về phía nam. Chú ý rằng họ không đến từ Sa-ma- ri. Còn thiếu nơi nào nữa trong danh sách trong Ma-thi-ơ 4:23–25? Câu trả lời là: thành Si-đôn và Ty-rơ, dọc theo bờ biển Địa Trung Hải. Những thành này nằm ở phía bắc và phía tây của Ga-li-lê. Bây giờ chúng ta hiểu tại sao Đức Chúa Giê-su đưa các môn đồ của Ngài đến vùng đất này! Ngài muốn dạy những người theo Ngài đi giúp đỡ những người ở những vùng đất xa lạ chưa biết đến Ngài.

“Sau khi đối mặt với những người Pha-ri-si, Đức Chúa Giê-su đã rời Ca-bê-na-um. Ngài băng qua Ga-li-lê và đi đến vùng đồi núi ở biên giới Phê-ni-xi. Khi nhìn về phía tây, Ngài thấy các thành cổ Ty- rơ và Si-đôn. Những thành phố này đầy dẫy những đền thờ tà thần. Các thành phố cũng có những cung điện đẹp đẽ và những khu chợ đầy đủ mọi thứ hàng hóa. Rất nhiều tàu bè che kín hết bến cảng của họ”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 399, phỏng dịch.

Làm thế nào chúng ta có thể giúp người dân ở các thành phố hiểu rằng “những cung điện đẹp đẽ và những khu chợ đầy hàng hóa” của họ sẽ trở nên vô ích nếu không có Đức Chúa Giê-su trong đời sống của họ?

Các nhà nghiên cứu Kinh Thánh tin rằng Ma-thi-ơ đã viết Kinh Thánh để làm chứng về Đức Chúa Giê-su cho những người Do Thái. Các triết gia Kinh Thánh cũng tin rằng Mác đã viết Kinh Thánh để làm chứng về Đức Chúa Giê-su chủ yếu cho những người không phải là người Do Thái. Thông tin này rất hữu ích khi chúng ta đọc các sách Phúc âm. Phúc âm là bốn sách đầu tiên của Tân Ước: Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng.

So sánh hai câu chuyện kể về người phụ nữ trong Ma-thi-ơ 15:22-28 và Mác 7:24-30. Người phụ nữ này được miêu tả khác nhau như thế nào trong hai sách khác nhau?

Bạn có thấy cách Ma-thi-ơ nói người mẹ là người Ca-na-an không? Mác sử dụng những từ ngữ khác để nói với chúng ta về người phụ nữ này. Bà là người Hy Lạp, không phải là người Do Thái. Sau đó, Mác cho chúng ta thêm thông tin. Người phụ nữ này được sinh ra ở vùng Sy-rô- phê-ni-xi, có nghĩa bà là người Sy-ri đến từ vùng đất Pho-e-ni-ca.

Thử nghĩ xem những người Do Thái khi đọc sách Ma-thi-ơ cảm thấy thế nào khi họ đọc tới câu chuyện trong Ma-thi-ơ 15. Hầu hết độc giả của Ma-thi-ơ là người Do-Thái. Vì vậy, họ nghĩ người mẹ là người ngoại đạo xấu xa, thờ các tà thần. Trong quá khứ, những người này đã gây ra tội lỗi cho dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, người Do Thái vào thời Chúa Giê-su không thích người Ca-na-an cho lắm. Các môn đồ của Chúa Giê-su không nghĩ rằng người phụ nữ này có đức tin hay sẽ được dự phần vào vương quốc Đức Chúa Trời!

Những độc giả không phải là người Do Thái của Mác sẽ có những cảm nhận khác về người phụ nữ Sy-rô-phê-ni-xi khi họ đọc câu chuyện của bà trong Mác 7. Những người không phải là người Do Thái không có cùng trải nghiệm tồi tệ như những người Do Thái đã trải qua với những người Sy-rô-phê-ni-xi. Vì vậy, độc giả của Mác sẽ cảm thấy vui vẻ khi họ đọc câu chuyện vì Chúa Giê-su đã chữa lành cho một người trong số họ! Đối với những người không phải là người Do Thái, người phụ nữ Sy-rô-phê-ni-xi là một người mẹ yêu dấu, quan tâm đến con gái mình. Người mẹ muốn Đức Chúa Giê-su chữa lành cho con mình.

“Đức Chúa Giê-su không trả lời người đàn bà ngay lúc đó. Ngài cư xử giống như người Do Thái cư xử với những người mà họ không thích. Chúa cư xử như vậy vì Ngài muốn dạy những người theo Ngài rằng họ không nên lạnh lùng và cứng lòng với người phụ nữ này. Sau đó, Chúa đã cho người phụ nữ những gì bà ấy xin. Đức Chúa Giê-su tỏ lòng thương xót đối với bà để dạy những người theo Ngài cách giúp đỡ những người đang đau khổ”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 400, phỏng dịch.

Đọc 1 Giăng 2:2. Câu này cho chúng ta biết gì về việc tất cả chúng ta đều bình đẳng trước mặt Đức Chúa Trời?

Có rất nhiều người sống ở gần các thành phố muốn có sự hy vọng. Vào thời Đức Chúa Giê-su, điều gì đã ngăn cản dân sự Đức Chúa Trời chia sẻ niềm hy vọng của Ngài với những người sống lân cận với thành phố này? Lòng kiêu hãnh và lòng căm thù đối với những người không phải Do Thái đã khiến người Do Thái trở nên mù quáng. Họ không nhìn thấy nhu cầu của những người sống gần họ, nhu cầu đó là họ rất cần niềm hy vọng về Sự Tái Lâm của Đức Chúa Giê-su. Ngày nay, Đức Chúa Giê-su muốn dân sự của Ngài chia sẻ niềm hy vọng về sự tái lâm với nhiều người trong các thành phố (Tít 2:13). Chúa Giê-su không phân biệt nơi con người sinh ra hay nơi họ đang sinh sống. Chúng ta nên cảm nhận như cách Chúa Giê-su nhìn nhận mọi người.

Đọc Công vụ các Sứ đồ 10:9–16, 28, 34, 35. Đức Thánh Linh dạy chúng ta bài học nào trong những câu này?

Trong giờ ăn trưa của Phi-e-rơ, Đức Chúa Trời ban cho ông một sự hiện thấy. Ông nhìn thấy một chiếc khăn trải bàn đầy những thú vật và chim chóc không thánh sạch. Ba lần trong sự hiện thấy ấy, Đức Chúa Trời bảo Phi-e-rơ đứng dậy và ăn thịt các con vật này. Đức Chúa Trời đã dùng những khải tượng này để cho Phi-e-rơ thấy rằng lòng ông tràn ngập niềm kiêu hãnh về tôn giáo và không thích những người không phải là người Do Thái. Phi-e-rơ học được một lẽ thật quan trọng trong Kinh Thánh: “Phi-e-rơ bèn mở miệng nói rằng: Quả thật, ta biết Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai, nhưng trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình, thì nấy được đẹp lòng Chúa” (Công vụ các Sứ đồ 10:34, 35).

Bây giờ chúng ta hãy trở lại câu chuyện của Si-đôn và Ty-rơ. Những lời của Phi-e-rơ trong Công vụ các Sứ đồ 10:34, 35 có thể cho chúng ta biết những bài học quan trọng nào về câu chuyện trong Ma-thi-ơ 15:22–28 và Mác 7:24–30? Hãy suy ngẫm về những lời đối đáp giữa Đức Chúa Giê-su và người mẹ. Những người bước theo Ngài đã học được những bài học nào từ chuyến đi thực tế đó? Và Phi-e-rơ cũng đã học được bài học nào từ sự hiện thấy của mình? Làm thế nào những bài học này có thể giúp chúng ta trong công việc làm chứng cho Đức Chúa Giê-su ở các thành phố? Điều gì khiến chúng ta ích kỷ và không thể nhìn thấy nhu cầu của những người khác? Chúa đã giao cho chúng ta làm công việc gì cho những người lân cận với mình? Làm thế nào để chúng ta không còn căm thù và bỏ đi lòng kiêu ngạo ở trong lòng?

Chúa Giê-su kiên nhẫn với những người bước theo Ngài. Họ không hiểu là kế hoạch của Đức Chúa Trời vốn được dành cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi. Đức Thánh Linh có thể giúp chúng ta dọn lòng mình để chừa đi sự ganh ghét người khác. Chỉ lúc đó, chúng ta mới có thể hoàn thành tốt công việc mà Chúa đã giao phó cho mình tại các thành phố và những vùng lân cận.

Đọc Ga-la-ti 2:11-13. Những câu này dạy chúng ta điều gì về việc rất khó để loại bỏ những thành kiến mà chúng ta đã được dạy từ thời thơ ấu?

Đức Chúa Giê-su đặt một câu hỏi ở phần cuối của câu chuyện thí dụ: “Ta nói cùng các ngươi, Ngài sẽ vội vàng xét lẽ công bình cho họ. Song khi Con người đến, há sẽ thấy đức tin trên mặt đất chăng?” (Lu- ca 18:8). Đức Chúa Giê-su đang tìm kiếm điều gì? Câu chuyện thí dụ trong Lu-ca 18 dạy chúng ta rằng Ngài muốn mọi người phải có đức tin nơi Chúa khi gặp khó khăn và khi mọi thứ trên cuộc đời dường như vô vọng.

Đọc Ma-thi-ơ 8:10, 13; Ma-thi-ơ 9:2; Ma-thi-ơ 20:29–34; Mác 2:5; Mác 10:46-52; và Lu-ca 18:35–43. Trong những câu này, Đức Chúa Giê-su nói ai có đức tin?

Những người mà Đức Chúa Giê-su đã nêu lên là những người có đức tin sống ở các thành phố. Đức tin của họ chiếu sáng giống như ánh sáng rực rỡ trong thời kỳ tối tăm. Tại Ca-bê-na-um, Đức Chúa Giê-su nói về một số người có đức tin. Trong Ma-thi-ơ 8:10, 13, chúng ta thấy một người lính La Mã có đức tin. Chúng ta đã nghiên cứu về bốn người bạn đầy đức tin đã phá mái nhà để đưa người bạn bị bệnh đến gặp Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 9:2; Mác 2:5). Trong Mác 10, Kinh Thánh có kể đến người ăn mày bị mù tên là Ba-ti-mê. Sau khi Chúa Giê-su chữa lành cho Ba-ti-mê, đức tin người mù này lan tỏa giống như ánh sáng rực rỡ trong thành phố Giê-ri-cô.

Chúng ta hy vọng giữa vòng dân sự sẽ có nhiều người có đức tin lớn mạnh. Đáng buồn thay, Kinh Thánh cho biết vào thời của Đức Chúa Giê-su, tại nơi mà Ngài đang ở, thì đức tin của mọi người rất yếu và họ có nhiều sự nghi ngờ. Điều này đã xảy ra tại Na-xa-rét, là nơi Đức Chúa Giê-su lớn lên. Khi chúng ta nghi ngờ Chúa, thì chúng ta đang đánh mất đi các phước lành của Chúa trong cuộc sống. Nhiều lần Chúa Giê-su nói với người Do Thái: “Hỡi kẻ ít đức tin” (Ma-thi-ơ 6:30; Ma-thi-ơ 8:26; Ma-thi-ơ 14:31; Ma-thi-ơ 16:8). Trong Ma-thi-ơ 17:17, Đức Chúa Giê- su phán: “Hỡi dòng dõi không tin và gian tà kia.”

Một bài học cho bạn và tôi ngày hôm nay là chúng ta có thể tìm thấy đức tin ở những người mà mình không ngờ tới: trong lòng của những người ngoại quốc sống ở các thành phố, trong lòng những người thờ tà thần và trong những người thuộc các tôn giáo khác nhau. Chúng ta cần đi thăm các thành khác nhau như Chúa Giê-su đã làm. Chúng ta phải tìm kiếm những người lạc mất và họ sẽ tiếp nhận Chúa Giê-su để nhận được sự cứu rỗi. Những người này đang chờ đợi sự giúp đỡ của bạn và tôi.

THÁCH THỨC: Xin Chúa thêm đức tin để chia sẻ tình yêu thương của Ngài cho mọi người gần xa.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Làm thế nào bạn biết đến Đức Chúa Giê-su và sứ điệp ba thiên sứ? Lập danh sách ba phước lành tâm linh mà Đức Chúa Giê-su đã ban cho bạn trong đời sống. Sau đó chia sẻ với lớp Sa-bát của bạn.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

“Nhiều người không phải là người Do Thái hiểu rõ về những lời hứa trong Kinh Thánh, về Đấng Cứu Rỗi sắp đến hơn các thầy Do Thái. Một số người không phải là người Do Thái hy vọng Ngài sẽ đến để cứu họ khỏi tội lỗi. Những triết gia này muốn tìm hiểu thêm về những lễ vật mà người Do Thái dâng để biểu tượng cho công việc cứu rỗi của Đức Chúa Giê-su. Nhưng người Do Thái đã ngăn cản những người không phải là người Do Thái biết về lẽ thật Kinh Thánh này.”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 33, phỏng dịch.

“Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế Toàn Năng của chúng ta. Ngài đã chết thay cho mọi người ở khắp mọi nơi. Chúa Giê-su có thể làm họ thức tỉnh trong tâm linh. Ngài có thể làm cho lòng họ đầy dẫy lòng thương xót và tình yêu thương của Ngài. Chúa Giê-su có thể cảm động lòng họ. Ngài có thể bày tỏ cho họ thấy lẽ thật của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời là chủ chứ không phải là loài người. Đồng thời, Đức Chúa Trời chọn con người làm công cụ đắc lực của Ngài. Đức Chúa Trời muốn chúng ta chia sẻ lẽ thật Kinh Thánh với những người chưa biết. Đức Chúa Trời có những người trung thành với Ngài trong tất cả các hội thánh. Những người này giống như những viên ngọc quý. Vì vậy, chúng ta không được nói xấu những người từ các tôn giáo khác. Với tình yêu thương trong lòng, chúng ta phải chia sẻ lẽ thật Kinh Thánh về Chúa Giê-su. Hãy để người khác thấy tình yêu của chúng ta dành cho Chúa. Hãy để họ thấy rằng chúng ta là con của Chúa. Sau đó, họ sẽ tìm hiểu thêm về lẽ thật của Kinh Thánh. . . . Cho mọi người thấy Đức Chúa Giê-su trong đời sống của bạn rằng Ngài là Đấng Cứu Rỗi của nhân loại.”—Ellen G. White, The Advent Review và Sabbath Herald, ngày 17 tháng 1 năm 1893, phỏng trích.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Nhu cầu của người dân trong khu vực nơi bạn sinh sống là gì? Làm thế nào bạn và hội thánh có thể đáp ứng những nhu cầu này? Làm thế nào bạn có thể giúp đáp ứng nhu cầu của những người không biết lẽ thật Kinh Thánh?

  2. Hãy nghiên cứu câu nói của Ellen G. White ở trên về những người theo các tín ngưỡng khác: “Đức Chúa Trời có những người trung thành với Ngài trong tất cả các hội thánh. Những người này giống như những viên ngọc quý. Vì vậy, chúng ta không được nói xấu về những người thuộc các tôn giáo khác.” Làm thế nào chúng ta có thể hướng dẫn cho họ thấy rằng tín lý của họ là không đúng nhưng không có ý chê bai họ?

  3. Đức Chúa Giê-su hỏi: “Ta nói cùng các ngươi, Ngài sẽ vội vàng xét lẽ công bình cho họ. Song khi Con người đến, há sẽ thấy đức tin trên mặt đất chăng?” (Lu-ca 18:8). Đức Chúa Giê-su thực sự đang hỏi điều gì với câu hỏi này? Niềm tin và đức tin khác nhau như thế nào? Điều gì sẽ xảy ra nếu mọi người có niềm tin đúng đắn nhưng không có một chút đức tin nào?

Bài Học 10, 2 Tháng 12 — 8 Tháng 12

Làm Chứng Cho Những Người Chưa
Biết Chúa—Phần 1

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Công vụ các Sứ đồ 17; 1 Cô- rinh-tô 2:2; Rô-ma 1:18-25.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất, chẳng ngự tại đền thờ bởi tay người ta dựng nên đâu” (Công vụ các Sứ đồ 17:24).

Đọc Công vụ các Sứ đồ 17:1–16, là đoạn nói về hành trình truyền giáo đầy khó khăn của sứ đồ Phao Lô. Ông đã đến thành A-thên trong hoàn cảnh nào? Ông đã cảm thấy thế nào khi nhìn thấy những thần tượng ở thành này?

Phao-lô “thấy thành đều đầy những thần tượng” (Công vụ 17:16). Ông biết rõ lịch sử của dân tộc mình. Đức Chúa Trời đã nhiều lần cảnh báo người Do Thái chấm dứt việc thờ phượng thần tượng. Những sai lầm của Y-sơ-ra-ên khiến Phao-lô buồn lòng. Vì vậy, tất cả những bức tượng mà Phao-lô nhìn thấy ở A-thên cũng khiến ông khó chịu. Lòng ông tràn ngập tình yêu thương dành cho người dân ở A-thên. Phao-lô muốn giúp người A-thên biết về Chúa Giê-su. Mọi người sẽ chết trong tội lỗi nếu họ không biết lẽ thật của Kinh Thánh.

Các thành phố ngày hôm nay có rất nhiều “tượng điêu khắc” của những thần hư không. Có thể những thần giả này không giống như những thần mà Phao-lô đã thấy. Chúng ta có thể đang thờ các thần như là tiền bạc, giải trí, thể thao, sắc đẹp, thời trang và những thứ khác. Đáng buồn thay, nhiều Cơ Đốc nhân có thể đi đến một thành phố và chứng kiến những cảnh tượng ấy nhưng không cảm thấy buồn vì các thần giả dối đó. Phao-lô thì khác. Các tượng thần làm cho ông tức giận vì ông đầy dẫy Đức Thánh Linh và tình yêu dành cho Đức Chúa Trời. Nhiều Cơ Đốc nhân vào thời của Phao-lô không hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời đó là phải chia sẻ phúc âm với mọi người ở khắp mọi nơi. Phao-lô biết rằng Đức Chúa Trời muốn cứu người A-thên cùng với những người khác. Phao-lô hiểu rằng Đức Chúa Trời muốn những người theo Ngài chia sẻ Phúc âm với những người chưa biết về Chúa Giê-su. Những người này là những người thờ thần tượng và là những triết gia tại thành A-thên. Và như chúng ta đã học hôm qua, triết gia là người nghiên cứu về ý nghĩa của cuộc sống.

Phao-lô đến chợ ở thành A-thên để gặp những người thờ thần tượng và các triết gia. Phao-lô biết rằng ông không thể dùng phương pháp chia sẻ phúc âm cho người Do Thái như ông đã thực hiện để đến chia sẻ phúc âm cho những người không phải là người Do Thái. Tín lý của người Do Thái không có ý nghĩa gì đối với những người mà Phao-lô gặp ở chợ tại thành A-thên. Vì vậy, Phao-lô cần một kế hoạch hoàn toàn mới.

Ngày nay, chúng ta thường cố gắng làm chứng về Đức Chúa Giê-su với những người chưa biết gì về Ngài, hay là Kinh Thánh và Đạo Cơ Đốc. Vì vậy, chúng ta cần một kế hoạch hoàn toàn mới, giống như Phao-lô đã làm. Vì một kế hoạch hữu hiệu ở Buenos Aires nhưng có thể sẽ thất bại ở Bangkok.

Mọi người trong cộng đồng của bạn đang thờ lạy những kiểu “thần tượng” hư không nào? Làm thế nào bạn có thể giúp họ hiểu rằng những “thần tượng” này đều là giả dối?

Đức Chúa Trời đã giao phó cho Phao-lô một sứ mạng. Đi đến đâu, ông cũng rao giảng phúc âm về Chúa Giê-su. Vì vậy, khi đến A-thên ông cũng tiếp tục giảng đạo Chúa.

Đọc Công vụ các Sứ đồ 17:18–21. Những người ở chợ cảm thấy và suy nghĩ như thế nào về lời giảng và những câu hỏi của sứ đồ Phao-lô?

Phao-lô làm chứng cho những người ở trong chợ về Đức Chúa Giê-su. Họ lắng nghe Phao-lô và hiếu kỳ về “các thần ngoại quốc” (Công vụ các Sứ đồ 17:18) mà Phao-lô đã nói đến. Sau đó, những người A-thên đã bắt Phao-lô và đưa đến A-rê-ô-ba [còn có tên là Mars Hill]. A-rê-ô-ba là nơi để các nhà lãnh đạo xét xử các vấn đề pháp lý và tôn giáo. Theo những gì chúng ta biết, Phao-lô không gặp rắc rối gì. Người A-thên muốn Phao-lô nói cho họ biết thêm về “đạo mới” mà ông đã dạy (Công vụ các Sứ đồ 17:19). Người A-thên có thể cho rằng những điều Phao-lô rao giảng là rất kỳ lạ. Đồng thời, họ cũng tôn trọng khả năng của Phao-lô với tư cách là một nhà tư tưởng và là một diễn giả của công chúng.

Công vụ các Sứ đồ 17:21 cho biết người A-thên chỉ lo dành thời gian của họ để thảo luận và lắng nghe những việc mới lạ mà thôi. Phải chăng Lu-ca đang nói rằng người A-thên lười biếng? Dĩ nhiên là không! Lu-ca muốn cho chúng ta hiểu rằng người A-thên là những người có tư tưởng rất sắc sảo. Họ muốn thảo luận và tìm hiểu. Hãy nhớ rằng, nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng và quan trọng nhất trong lịch sử là người Hy Lạp như: Socrates, Plato và Aristotle. Những tư tưởng của họ tiếp tục được nghiên cứu cho đến ngày nay. Trải qua hàng trăm năm, A-thên là quê hương của các nhà tư tưởng và triết gia nổi tiếng. Như chúng ta đã thấy, các triết gia là những người nghiên cứu ý nghĩa của cuộc sống. Nhiều ý tưởng của họ rất khác với những lời dạy của Cơ Đốc giáo. Và ý tưởng về một Đấng Cứu Thế phục sinh từ cõi chết là một ý tưởng rất đỗi xa lạ đối với họ.

Ở A-thên, Phao-lô tìm cầu Đức Thánh Linh để giúp đỡ ông vận dụng tri thức của mình để cảm động tấm lòng của người dân tại thành A-thên. Phao-lô học hỏi từ Ga-ma-li-ên, một thầy giáo Do Thái nổi tiếng. Trong sự ngỡ ngàng của Phao-lô, Đức Thánh Linh đã giúp Phao-lô vận dụng được tri thức của mình trên đường phố ở thành A-thên. Những gì Phao-lô biết được về người dân và thành phố này đã giúp ông chia sẻ về Đức Chúa Giê-su hữu hiệu hơn bất cứ điều gì khác. “Các nhà thông thái ở A-thên đã rất ngạc nhiên khi nghe Phao-lô nói chuyện. Ông chứng tỏ cho họ thấy rằng ông biết về các tác phẩm nghệ thuật, bài viết và tôn giáo của họ.”—Ellen G. White, The Acts of Apostles, tr. 237, phỏng dịch.

Hãy lưu ý rằng Phao-lô không làm cho người A-thên cảm thấy mặc cảm về tôn giáo hoặc các thần hư không của họ. Phao-lô tìm kiếm bất cứ điều gì tốt đẹp mà ông có thể tìm thấy trong tín lý của người A-thên. Sau đó, ông dùng những điều đó để giúp người A-thên hiểu về phúc âm của Cứu Chúa Giê-su.

Đọc Công vụ các Sứ đồ 17:22, 23 có nói về cách Phao-lô chia sẻ Phúc âm với người A-thên. Phao-lô đã làm những điều gì để cảm động lòng họ?

“Bấy giờ, Phao-lô đứng giữa A-rê-ô-ba, nói rằng: Hỡi người A-thên, phàm việc gì ta cũng thấy các ngươi sốt sắng quá chừng” (Công vụ các Sứ đồ 17:22). Phao-lô ca ngợi người A-thên rất sốt sắng trong đạo. Phải, họ thờ thần hư không. Nhưng Phao-lô tôn trọng đức tin của họ vì điều đó cho thấy họ quan tâm đến những điều thiêng liêng.

Phao-lô nói tiếp, “Vì khi ta trải khắp thành các ngươi, xem xét khí vật các ngươi dùng thờ phượng, thì thấy một bàn thờ có chạm chữ rằng: Thờ Chúa không biết. Vậy, Đấng các ngươi thờ mà không biết đó, là Đấng ta đương rao truyền cho” (Công vụ 17:23). Phao-lô đã nghiên cứu tôn giáo của người A-thên. Lời nói của ông cho thấy ông tôn trọng mọi người. Ông không tuyên bố với người dân A-thên rằng ông là một người hiểu chuyên sâu về thành này. (Mà kỳ thực ông là người rất hiểu về thành này! Ông cũng là người có câu trả lời cho việc người thành A-thên phải thay đổi như thế nào.) Nhưng Phao-lô không khoe khoang, “Này, mọi người! Tôi là người rất am hiểu về thành A-thên!” Nếu Phao-lô làm vậy, người A-thên sẽ không chú ý đến ông. Phao-lô đã cho mọi người thấy rằng ông quan tâm đến họ và cũng muốn điều tốt nhất cho họ.

Phao-lô giải thích “thần không biết” (Công vụ các Sứ đồ 17:23) cho người A-thên. Người A-thên tin vào thần (và họ tin vào nhiều thần). Lúc đó cũng có nhiều người không tin vào các thần. Vì vậy, Phao-lô bắt đầu với sự tin kính đó và sau đó chia sẻ thêm lẽ thật Kinh Thánh với họ. Người A-thên xây dựng bàn thờ cho vị thần vô danh vì họ muốn đảm bảo rằng họ không thiếu bất cứ thần nào trong sự thờ phượng của họ. Phao-lô không coi thường ý tưởng về một bàn thờ của thần vô danh. Nhưng ông tôn trọng những người có sự quan tâm đến những điều thiêng liêng để bỏ công sức và tài chính để thờ phượng thần mà họ không biết.

Làm thế nào bạn có thể làm như Phao-lô, tìm cách làm chứng về Đức Chúa Giê-su với những người ở các tôn giáo khác?

Các nhà tư tưởng ở A-thên đã để ý đến lời của Phao-lô. Vì vậy, ông làm chứng cho họ về Chúa của thiên đàng.

Đọc bài giảng của Phao-lô trong Công vụ các Sứ đồ 17:24–27. Phao-lô đã nói gì để giới thiệu về Đức Chúa Trời cho người A-thên?

Những lời của Phao-lô khiến người A-thên xúc động. Người dân A-thên quan tâm đến tâm linh đến mức xây dựng một bàn thờ cho một vị thần mà họ không biết. Vì vậy, họ sốt sắng muốn hiểu tường tận những gì Phao-lô muốn nói với họ. Những lời của Phao-lô làm họ thêm hiếu kỳ. Phao-lô làm chứng cho họ về một Đức Chúa Trời không sống trong đền thờ. Đức Chúa Trời này không cần gì từ con người, và Ngài quan tâm đến nhu cầu của họ. Người Hy Lạp có nhiều câu chuyện về các vị thần. Và có những vị thần không đối xử tốt với con người. Người A-thên không thể tin tưởng vào các vị thần của họ để giúp họ. Các vị thần của họ thật ích kỷ. Họ thường làm tổn thương những người tôn thờ họ. Vì vậy, người A-thên rất hào hứng muốn biết về sự dạy dỗ của Phao-lô. Phao-lô nói với họ rằng có một Đức Chúa Trời yêu thương. Người A-thên thấy lẽ thật này thật tuyệt vời biết bao!

Phao-lô cũng nói với người A-thên rằng Đức Chúa Trời mà họ không biết là Đấng mà họ có thể biết. Hơn thế nữa, Đức Chúa Trời muốn con người biết Ngài là ai!

Chắc chắn, bài giảng của Phao-lô lúc ấy dài hơn nhiều so với những lời mà Lu-ca chia sẻ trong câu chuyện này. Lu-ca có thể đã tóm tắt những nội dung chính. Vì vậy, có thể ông chỉ nói với chúng ta những phần quan trọng nhất trong bài giảng của Phao-lô. Khi nghiên cứu bài giảng của Phao-lô một cách sâu sắc, chúng ta có thể thấy rằng bài giảng của ông có năm phần:

  1. Đầu tiên, Phao-lô khen người A-thên về đức tin và ông tôn trọng tôn giáo của họ.
  2. Tiếp theo, Phao-lô cho người A-thên thấy rằng ông đã nghiên cứu tín lý của họ. Ông nói với họ những điều mà ông học được và tôn trọng họ.
  3. Sau đó, Phao-lô nói với những người A-thên rằng ông đã khám phá ra một số điều về tôn giáo của họ mà chính họ đang cần câu trả lời.
  4. Sau đó, Phao-lô làm chứng về Chúa. Người A-thên cần biết rằng Chúa là Đấng hằng sống và yêu thương họ. Ngài luôn ở bên cạnh mọi người.
  5. Cuối cùng, khi kết thúc bài giảng của mình, Phao-lô khuyên dân chúng nên tiếp nhận Đức Chúa Trời mà trước đây họ không biết.

Xin lưu ý lời kêu gọi của Phao-lô đối với thế giới được tạo ra và Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa (cũng xem Rô-ma 1:18-25). Tại sao đây là cách tiếp cận tốt với hầu hết mọi người, ít nhất là khi bắt đầu? Điều gì khiến thế giới được tạo ra hướng về Đức Chúa Trời cách mạnh mẽ như vậy?

Đọc những lời sau cùng của Phao-lô dành cho người A-thên tại Mars Hill (Công vụ các Sứ đồ 17:24–34). Phao-lô đã nói những gì?

Phao-lô đã trích dẫn những câu nói nổi tiếng của các nhà văn Hy Lạp trong bài giảng của ông cho người A-thên. Những tác giả Hy Lạp này cũng đã nói những điều phù hợp với lẽ thật Kinh Thánh. Phao-lô sử dụng những câu trích dẫn này để giúp người dân A-thên hiểu những lời dạy của ông về Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể học một bài học quan trọng từ Phao-lô. Khi cố gắng giải thích cho mọi người về Đức Chúa Giê-su, chúng ta nên tìm hiểu về niềm tin của họ. Sau đó, chúng ta có thể tìm thấy những ý tưởng mà cả hai có thể đồng ý với nhau. Khi làm theo phương pháp này, chúng ta sẽ giảng dạy một cách có hiệu quả cho những người chưa biết về Cứu Chúa Giê-su.

Bạn có thấy rằng Phao-lô sử dụng những tư tưởng mà cả ông và người A-thên đều đồng thuận để ông có thể giúp họ hiểu về sự phục sinh không? Phục sinh là đang nói về sự sống lại của Đức Chúa Giê-su từ cõi chết. Phao-lô muốn người A-thên hiểu được niềm hy vọng mà sự dạy dỗ này mang lại cho họ. Điều gì đã xảy ra sau khi Phao-lô giải thích về sự phục sinh? Kinh Thánh cho biết rằng một số người đã chế nhạo lẽ thật này. Nhưng một số người đã tin. Những người khác nói rằng họ muốn nghe Phao-lô nói thêm về lẽ thật này. Điều quan trọng nhất mà chúng ta học được là mọi người đều chú ý đến bài giảng của Phao-lô. Họ muốn nghe những gì ông nói. Đó là điều mà Phao-lô mong muốn ngay từ đầu.

Dẫu biết rằng một số người sẽ từ chối Tin Mừng về Chúa Giê-su. Nhưng chúng ta phải làm mọi thứ có thể để giúp họ hiểu về sứ điệp của lẽ thật. Phao-lô đã làm mọi điều có thể để giúp người A-thên lắng nghe ông bằng một tấm lòng cởi mở để đón nhận Đức Chúa Trời mà họ không biết. Ngài là Đấng yêu thương họ và Ngài muốn người A-thên hiểu biết Ngài một cách sâu đậm hơn. Đức Chúa Trời đã bày tỏ lòng thương xót cho người A-thên trong suốt thời gian họ không biết về Ngài. Và ngày Đức Chúa Trời phán xét mọi người sẽ đến. Và bằng chứng cho công việc phán xét trong tương lai của Ngài đó chính là sự đến thế gian lần thứ hai của Đức Chúa Giê-su và sự phục sinh của Ngài.

Họ đã nghe và hiểu sứ điệp của Phao-lô. Bây giờ họ phải đưa ra lựa chọn, hoặc là từ chối hoặc là nghiên cứu thêm về lẽ thật. Và cũng đã có những người tìm hiểu thêm và quyết định bước theo Chúa Giê-su (Công vụ các Sứ đồ 17:34).

THÁCH THỨC: Cầu xin Chúa chỉ dẫn cho bạn cách làm chứng về Ngài cho những người mà bạn quen biết.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Làm thế nào bạn có thể chia sẻ Phúc âm của Đức Chúa Giê-su trên mạng xã hội (Facebook, Instagram, Snapchat, v.v.)?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

Kinh nghiệm của Phao-lô tại Đồi Thần Hỏa tinh [Mars Hill] giúp chúng ta biết cách chia sẻ Phúc âm của Đức Chúa Giê-su với những người chưa biết về Ngài. Nhờ sự sốt sắng của Phao-lô tại Mars Hill, một nhóm người đã trở thành Cơ Đốc nhân và bắt đầu thờ phượng Đức Chúa Trời ở A-thên.

“Những lời của Phao-lô để lại cho chúng ta những bài học quan trọng ngày hôm nay. Phao-lô có đức tin mạnh mẽ nơi Đức Chúa Trời. Ông đã mạnh mẽ mặc dầu cô đơn và đương đầu với nhiều khó khăn. Sống ở một nơi mà nhiều người thờ các thần tượng giả dối, Phao- lô đã thuyết phục họ đến với Chúa Giê-su. Những lời của Phao-lô nói với người A-thên giống như một báu vật đặc biệt dành cho hội thánh. Lòng của người A-thên rất kiêu hãnh. Vì vậy, nếu không cẩn thận, Phao-lô có thể đã nói những điều khiến người A-thên khó chịu. Nếu Phao-lô nói phạm đến các thần của họ thì sao? Lúc đó ông có thể sẽ có nguy cơ bị thảm sát giống như Socrates [Socrates bị ép uống thuốc độc vì những lời dạy của ông.] Lòng Phao-lô tràn ngập tình yêu thương dành cho người dân A-thên. Ông cẩn thận chỉ dẫn cho người A-thên thấy rằng thần của họ là hư không. Phao-lô đã làm điều này như thế nào? Ông làm chứng cho họ hiểu về Chúa của Thiên đàng. Ngài là Đức Chúa Trời mà họ không biết.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 240, 241, phỏng dịch.

Phao-lô đã kết bạn với những người ở A-thên. Ông đã tìm hiểu về văn hóa và lối sống của họ. Ông không ngừng khen ngợi và tôn trọng những thực hành tâm linh của người A-thên. Ông không gây khó khăn hay xúc phạm những người mà ông cần giao tiếp. Chỉ có Chúa mới có thể làm nên điều kỳ diệu này. Điều kỳ diệu này chính là “báu vật đặc biệt” mà Ellen G. White nói đến trong đoạn trích ở trên. Là những người bước theo Chúa, chúng ta rất cần những kiến thức này. Vì vậy, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến những gì Phao-lô đã làm ở A-thên và học hỏi từ ông.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

1. Điều đầu tiên chúng ta nên làm khi bắt đầu công việc Chúa tại một thành phố là gì? Phao-lô đã làm gì ở A-thên?

2. Cách tốt nhất để kết bạn với những người chưa biết Chúa là gì?

  1. Ngày nay người ta thờ một số thần hư không nào? Bạn nên tránh những gì khi bắt đầu làm việc với những người tôn thờ những thần này?

  2. Tại sao Phao-lô không ngừng rao giảng sau khi nói với người A-thên rằng Đức Chúa Trời yêu thương họ? Phao-lô nói với mọi người rằng Chúa Giê-su đã phục sinh từ cõi chết. Sau đó, người ta nghĩ rằng Phao-lô không được bình thường. Phao-lô có nên tiếp tục nói điều đó không? Giải thích câu trả lời của bạn.

Bài Học 9, 25 Tháng 11 — 1 Tháng 12

Sứ Mạng Cho Người Quyền Lực

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Đa-ni-ên 4; 2 Các Vua 5:1–19; Giăng 3:1–12; Giăng 7:43–52; Ma-thi-ơ 19:16–22; Giăng 19:38-42.

CÂU GỐC: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?” (Ma-thi-ơ 16:26).

Một số Cơ Đốc nhân tin rằng Đức Chúa Giê-su đã chết cho một nhóm người đặc biệt. Họ cho rằng chỉ nhóm này mới được cứu. Là những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm, chúng ta phải biết chắc rằng Đức Chúa Giê-su đã hy sinh cho cả nhân loại. “Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật” (1 Ti-mô-thê 2:4). “Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Giăng 2:2). Đó là lý do tại sao “trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 1:4). Và không phải ai cũng chấp nhận của lễ chuộc tội mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta. Nhưng có những người sẽ tin nhận. Trong số những người tin nhận này có nhiều người có quyền lực rất lớn. Chúng ta có thể tìm thấy một số người có sức ảnh hưởng lớn và tin nhận Chúa ở trong Kinh Thánh.

Trong Đa-ni-ên 4 có nói về Vua Nê-bu-cát-nết-sa. Điều gì đã xảy ra với nhà vua? Chúa đã cứu ông như thế nào?

Lúc đầu, Vua Nê-bu-cát-nết-sa không tin vào Chúa. Kinh Thánh cho thấy cách Đức Chúa Trời phán xét Vua Nê-bu-cát-nết-sa giống như cách Ngài phán xét và trừng phạt một số vua Y-sơ-ra-ên. (Bạn có thể đọc thêm về các vị vua này trong 2 Sử ký 32:25, 26; 1 Các Vua 14:21–31; 1 Sa-mu-ên 28.) Sau khi Đức Chúa Trời phán xét Nê-bu- cát-nết-sa, thì cách cư xử của vị vua này chẳng khác nào thú vật ngoài đồng. Móng tay, tóc và râu của ông dài ra. Ông ăn cỏ như loài bò. Và sau bảy năm, Đức Chúa Trời đã chữa lành tâm trí của Nê-bu-cát-nết- sa. Lúc bấy giờ nhà vua tin kính Chúa là Đấng Tạo Hóa của muôn loài vạn vật. Câu chuyện đầy ấn tượng của vua Nê-bu-cát-nết-sa cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời muốn cứu tất cả mọi người chứ không phải chỉ cứu những người yếu đuối và thiếu thốn. Chúa cũng muốn cứu những người giàu có và quyền lực. Vào thời điểm này, Vua Nê-bu-cát-nết-sa là người có quyền lực nhất thế giới. Nhà vua đã phải nói rằng, “Bây giờ, ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ngợi khen, tôn vinh, và làm cả sáng Vua trên trời; mọi công việc Ngài đều chân thật, các đường lối Ngài đều công bình; và kẻ nào bước đi kiêu ngạo, Ngài có thể hạ nó xuống” (Đa-ni-ên 4:37). Giá như tất cả những người có quyền lực và uy quyền trên trái đất này đều hiểu lẽ thật này của Kinh Thánh!

Chúng ta có thể học được gì từ câu chuyện này? Đầu tiên, Đức Chúa Trời dùng Đa-ni-ên để cảm động lòng vua. Cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ sử dụng chúng ta để cảm động lòng của nhiều người. Thứ hai, Chúa có thể làm những gì chúng ta không thể làm. Chúa có thể làm phép lạ để cứu một ai đó. Như chúng ta thấy, Ngài có nhiều cách để cất bỏ mọi sự kiêu ngạo đầy xấu xa ở trong lòng người.

Đọc câu chuyện của Na-a-man trong 2 Các Vua 5:1–19. Na-a-man xin hai điều gì? Câu chuyện của ông dạy chúng ta điều gì về lý do tại sao bạn và tôi phải kiên nhẫn và thông cảm với những tín đồ mới?

Trong 2 Các Vua 5:1–19, Na-a-man xin Ê-li-sê hai điều mà chúng ta có thể nghĩ là hơi lạ lùng. Đầu tiên, Na-a-man nói: “Tuy chẳng nhận lấy, tôi xin ông cho phép người ta ban cho kẻ tôi tớ ông đủ đất bằng hai con la chở nổi” (2 Các Vua 5:17). Na-a-man giải thích với Ê-li-sê rằng “vì từ rày về sau, kẻ tôi tớ ông chẳng muốn dâng của lễ thiêu hay là tế lễ chi cho thần nào khác hơn là Đức Giê-hô-va” (2 Các Vua 5:17). Na-a-man hiểu rằng chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng chân thật duy nhất. Đồng thời, Na-a-man tin rằng Đức Chúa Trời có một mối liên hệ đặc biệt nào đó với vùng đất Y-sơ-ra-ên và Ngài phải được thờ phượng trên vùng đất này. Vì vậy, Na-a-man muốn xin một ít đất từ Y-sơ-ra-ên để đem về Sy-ri. Qua câu chuyện của Na-a-man, chúng ta học được một bài học quan trọng về việc dẫn dắt người khác đến với Chúa Giê-su. Những người mới tin nhận Chúa cần có thời gian để thay đổi một số tín lý cũ của họ.
Kế đến, Na-a-man nói với Ê-li-sê về một việc mà thỉnh thoảng ông phải làm: “Song, nguyện Đức Giê-hô-va tha thứ cho kẻ tôi tớ ông điều nầy: Mỗi khi chủ tôi vào trong đền thờ Rim-môn đặng thờ lạy, thì chống trên cánh tay tôi, nên tôi cũng phải quì lạy trong đền thờ Rim-môn. Vậy, khi tôi quì lạy trong đền thờ Rim-môn, nguyện Đức Giê-hô-va tha thứ điều đó cho kẻ tôi tớ ông” (2 Các Vua 5:18). Có phải Na-a-man đang xin phép để ông được phạm tội trong tương lai? Có thật như vậy chăng?
Na-a-man biết rằng việc phụng sự Đức Chúa Trời sẽ không hề dễ dàng tại đất nước của ông. Na-a-man có phận sự phải đi cùng vua đến đền thờ Rim-môn. Khi nhà vua quì gối trước Rim-môn, thì cần chống trên cánh tay của Na-a-man nên Na-a-man cũng phải quì trong đền thờ lúc đó (2 Các Vua 5:18). Na-a-man không muốn bất cứ ai tin rằng ông cũng quì gối thờ lạy Rim-môn. Vì vậy, trước khi Na-a-man rời Y-sơ-ra-ên, ông đã chia sẻ nỗi lo lắng của mình với Ê-li-sê. Ê-li-sê lắng nghe Na-a- man và nói với ông, “Hãy đi bình yên” (2 Các Vua 5:19).
Chúng ta đừng hiểu lầm ý của Ê-li-sê khi ông nói, “Hãy đi bình yên,” không có nghĩa là ông đồng ý cho Na-a-man thờ thần giả dối. Nhưng ý nghĩa thật sự đó là Na-a-man nên đi về và đừng nghi ngại gì về tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Thời gian trôi qua, khi đức tin của Na- a-man lớn dần lên, Đức Chúa Trời sẽ chỉ cho ông những điều ông cần thay đổi trong đời sống mình. Cũng vậy, ngày hôm nay Đức Chúa Trời vẫn đang dẫn dắt những người mới tin nhận Chúa. Chúa biết thời điểm tốt nhất để kêu gọi những tín hữu mới phải thay đổi lề thói cũ của họ. Chúng ta phải ghi nhớ nguyên tắc quan trọng này khi chung tay với Đức Chúa Trời trong công cuộc cứu linh.

Ni-cô-đem là một người có nhiều tri thức. Kinh Thánh cho biết ông là một nhà lãnh đạo Do Thái (Giăng 3:1). Chúa Giê-su cho biết rằng Ni-cô-đem là giáo sư của Y-sơ-ra-ên (Giăng 3:10). Ni-cô-đem hiểu rõ Kinh Thánh. Ông cũng muốn tìm hiểu về Chúa. Đối với cách nhìn của chúng ta, Ni-cô-đem dường như là một môn đồ của Chúa. Ông giữ tất cả các điều răn. Và người Do Thái nể trọng ông. Và cũng là người rất quyền lực và giàu có. Nhiều người tin rằng sự giàu có và quyền lực của Ni-cô-đem là dấu hiệu cho thấy rằng Đức Chúa Trời ban phước cho ông. Nhưng Ni-cô-đem cảm thấy cuộc sống của ông còn thiếu vắng một điều gì đó.

Đọc câu chuyện của Ni-cô-đem trong Giăng 3:1–12. Câu chuyện này cho chúng ta thấy gì về nhu cầu thuộc linh của Ni-cô-đem? Đức Chúa Giê- su đáp ứng nhu cầu này ngay lập tức như thế nào?

Khi Ni-cô-đem đến với Đức Chúa Giê-su, ông cố tình giả vờ rằng đời sống thuộc linh của mình mọi thứ đều ổn và ông không thật sự cần bất cứ điều gì từ Chúa Giê-su. Nhưng Chúa biết tấm lòng của ông. Cũng vậy, Đức Chúa Trời biết tấm lòng và nhu cầu của những người giàu có và quyền thế ngày hôm nay. Ni-cô-đem đến với Đức Chúa Giê- su vì những lời dạy của Chúa đã chạm đến tấm lòng của ông. Lòng kiêu ngạo của Ni-cô-đem đã cản trở ông xưng nhận đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-su. Vì vậy, Ông đã đến gặp Đức Chúa Giê-su vào ban đêm. Đêm đó Chúa Giê-su đã giúp cho Ni-cô-đem được biến đổi thật sự. Sau cuộc gặp gỡ đó, ông đã không công khai xưng nhận đức tin nơi Chúa Giê-su. Nhưng ông đã trở thành một môn đệ của Đức Chúa Giê-su một cách thầm lặng.

Đọc Giăng 7:43–52 và Giăng 19:39. Những câu này cho chúng ta biết gì về Ni-cô-đem và Đức Chúa Giê-su?

Những câu này cho chúng ta thấy rằng cuộc đời của Ni-cô-đem đã được Đức Chúa Giê-su biến đổi. Ni-cô-đem đã cố gắng bảo vệ Đức Chúa Giê-su khi Ngài còn sống. Sau đó, Ni-cô-đem muốn tôn vinh Chúa khi Ngài hy sinh trên thập tự. Chắc chắn Đức Chúa Giê-su đã cảm động lòng của Ni-cô-đem. Người đàn ông quyền lực này, với tất cả tri thức và học vấn của mình, ông cũng phải tìm đến Đấng Cứu Rỗi. Và tất cả chúng ta cũng không ngoại lệ.

Vâng, chúng ta có lẽ thật Kinh Thánh. Nhưng tại sao chúng ta phải cẩn thận để không rơi vào “cái bẫy” để rồi nghĩ rằng những gì mình biết là đủ để cứu mình? Tại sao bạn và tôi cũng phải tiếp nhận Đức Chúa Giê-su là Chúa và Cứu Chúa của mình?

Tất cả chúng ta đều kinh nghiệm được rằng cuộc sống này thật sự khốn khổ như thế nào, có phải không? Có thể bạn sống ở một đất nước có nhiều người sùng bái tiền bạc. Hoặc có thể bạn sống ở một đất nước mà hầu hết mọi người đều rất nghèo. Bất cứ nơi nào bạn sống, đều có những người đang chịu đựng sự đau khổ. Nếu bạn có đọc báo hoặc xem tin tức, bạn sẽ biết rằng người dân ở các quốc gia giàu chi rất nhiều tiền để mua thuốc an thần nhằm giúp họ giải tỏa căng thẳng và buồn bã trong tinh thần. Tất cả những viên thuốc đắt tiền đó cho chúng ta thấy rằng tiền không mua được hạnh phúc hay sự bình yên.

Đọc câu chuyện về người trai trẻ giàu có trong Ma-thi-ơ 19:16–22. Hãy so sánh người trai trẻ này với Ni-cô-đem. Ni-cô-đem tin nhận Đức Chúa Giê-su, còn người trai trẻ giàu có thì không. Chúng ta có thể rút ra bài học nào từ câu chuyện của người trai trẻ này?

Câu chuyện kể về Đức Chúa Giê-su và người trai trẻ giàu có cho chúng ta thấy rằng sự thịnh vượng cũng có thể là một “cái bẫy” vô cùng nguy hiểm. Chúng ta phải cẩn thận trước cái bẫy này. Hãy xem những lời Chúa Giê-su cảnh báo về sự nguy hiểm của sự giàu có, “Ta lại nói cùng các ngươi, lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 19:24). Dĩ nhiên, Chúa Giê-su không phải nói rằng người giàu không thể được cứu. Nhưng họ phải cẩn thận để không yêu sự giàu có hơn yêu mến Đức Chúa Trời.

Cuối cùng, thì người giàu hay là người nghèo cũng phải đối diện với sự chết. Và người giàu luôn muốn dành dụm và tiết kiệm hơn bất kỳ ai khác. Tiền bạc có thể mua được nhiều thứ nhưng không thể mua được sự sống đời đời cho chúng ta. Chỉ có Chúa Giê-su mới có thể giải thoát chúng ta khỏi sự chết nếu chúng ta có đức tin thật sự vào phần thưởng sự sống đời đời của Ngài. Đức Chúa Giê-su phán, “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).

Đọc câu chuyện của Xa-chê trong Lu-ca 19:1–10. Câu chuyện này khác với câu chuyện của người trai trẻ giàu có như thế nào?

Xa-chê đã tiếp nhận Đức Chúa Giê-su, còn người trai trẻ giàu có thì từ chối làm theo lời Ngài. Bạn có thấy trong câu chuyện của Xa-chê, Chúa không bảo Xa-chê bán tất cả những gì mình có và đem tiền cho người nghèo không? Chúa cũng biết người trai trẻ rất yêu thích tiền của của mình. Vì vậy, Ngài yêu cầu người trai trẻ giàu có bán hết gia tài mà bố thí cho người nghèo.

Chúng ta không biết chi tiết những gì Đức Chúa Giê-su đã nói với Xa-chê khi Ngài đến thăm nhà ông. Nhưng chúng ta biết rằng Xa-chê biết mình cần phải sửa đổi một số điều trong đời sống của mình sau khi gặp gỡ Đức Chúa Giê-su.

“Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?” (Ma-thi-ơ 16:26). Đức Chúa Giê-su cảnh báo chúng ta về điều gì?

Đức Chúa Giê-su biết cách để làm bạn với những người có quyền thế. Nhiều người có quyền lực cũng yêu mến và tin kính Chúa Giê-su. Đồng thời cũng có những người có thế lực không thích Ngài. Những người có quyền lực trong Kinh Thánh đã đến với Chúa để được Ngài giúp đỡ. Họ cảm thấy Ngài quan tâm đến họ. Ngoài ra, nhiều người giàu có và quyền lực đã không đến với Chúa Giê-su ngay lập tức. Họ đợi cho đến khi biết chắc rằng Đức Chúa Giê-su thật sự là Con Đức Chúa Trời. Đó là điều đã xảy ra với Ni-cô-đem và Giô-sép người A-ri-ma-thê.

Đức Ma-thi-ơ 27:57–60 (cũng đọc Mác 15:43–47; Lu-ca 23:50–53; và Giăng 19:38–42). Câu chuyện này cho chúng ta biết gì về cách Chúa biến đổi cuộc đời của Giô-sép và dùng ông cho công việc Ngài?

Kinh Thánh không có nói gì về Giô-sép người ở thành A-ri-ma-thê trước thời điểm Chúa Giê-su bị chôn trong mồ mả. Sau đó, Giô-sép người A-ri-ma-thê đã được nhắc đến và Chúa đã dùng ông để làm ứng nghiệm lời hứa mà Ngài đã hứa trong thời Cựu Ước. Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục dùng những người có tài chánh để phát triển chương trình cứu rỗi của Ngài. Vì vậy, chúng ta phải chung tay với Đức Chúa Trời trong công cuộc cứu linh.

Làm thế nào để chúng ta kết bạn với những người có quyền lực? Lời khuyên tốt nhất là đừng bao giờ chủ động trong việc kết bạn với họ; hãy để họ tìm đến bạn. Đức Chúa Giê-su đã làm vậy. Những người giàu có và quyền lực đã làm chứng về sứ điệp của Đức Chúa Giê-su và quyền năng chữa lành của Ngài đến từ Đức Chúa Trời. Những người giàu có và quyền lực này tin rằng Đức Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời.

Những người có quyền lực có thể muốn giúp bạn làm công việc của Đức Chúa Trời vì nhiều lý do. Vì có thể họ muốn được góp phần đem đến những thay đổi tốt đẹp cho đời sống của mọi người. Và khi chúng ta thành công trong sự phục vụ Chúa họ sẽ càng tin tưởng rằng Chúa sẽ tiếp tục biến đổi họ.

Hãy bắt đầu làm công việc Chúa cùng với sự chung tay của những người giàu có và có sức ảnh hưởng trong xã hội. Dành thời gian để giúp đỡ cho những người giàu có và có quyền lực trong cộng đồng của bạn và để Chúa làm cho đời sống của họ được biến đổi ngày một tốt hơn.

THÁCH THỨC: Thêm vào danh sách cầu nguyện mỗi ngày của bạn tên của một người có quyền lực. Phải đảm bảo rằng người này không phải là tín đồ trong nhà thờ của bạn. Ngoài ra, người này phải là người mà bạn có thể có cơ hội được gặp thường xuyên.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Gửi thư tới một nhà lãnh đạo quyền lực. Đừng lo lắng nếu bạn chưa bao giờ gặp người lãnh đạo này. Và nhắn rằng tôi đang cầu nguyện cho ông.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Xin đọc thêm sách của Ellen G. White ở các chương như sau, “Ministry to the Rich,” The Ministry of Healing, tr. 209–216; “Captive Maid Shows Concern for Naaman,” Reflecting Christ, tr. 337.

Đức Chúa Giê-su yêu người nghèo khó cũng như yêu người giàu có và quyền thế. Ngài đã chết thay cho các vị hoàng tử và cũng như cho những người vô gia cư. Đức Chúa Giê-su biết cách tốt nhất để cảm động lòng người. Ngài cũng báo trước cho chúng ta, “Ta lại nói cùng các ngươi, lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 19:24). Qua bài học tuần này, chúng ta đã hiểu lý do tại sao phải chia sẻ phúc âm về Đức Chúa Giê- su với những người giàu có và quyền lực. Đôi khi những người giàu có và quyền lực có thể không biết rằng họ cần Chúa. Nhưng họ cũng cần đến lòng thương xót cứu rỗi của Chúa như bất cứ ai khác.

“Nhiều người nói rằng chúng ta cần phải giúp đỡ người nghèo. Vậy chẳng lẽ chúng ta không nên giúp đỡ người giàu hay sao? Nhiều người nghĩ rằng người giàu là xấu và họ không thể được cứu. . . Nhưng có hàng ngàn người giàu có đã chết mà không được báo trước về phúc âm cứu rỗi. Nhiều khi chúng ta nghĩ người giàu, có vẻ không quan tâm đến sự sống đời đời. Nhưng nhiều người trong số họ cũng đang rất cần phúc âm cứu rỗi của Ngài.”—Ellen G. White, The Ministry of Healing, tr. 210, phỏng dịch.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Đức Chúa Giê-su đã phá đổ bức tường ngăn cách giàu và nghèo. Làm thế nào để chúng ta với tư cách là những người Cơ Đốc Phục Lâm tiếp tục thực hiện công việc này?

  2. Chúng ta hiểu thế nào về lời phán của Đức Chúa Giê-su: “Kẻ nào chịu lấy hột giống nơi bụi gai, tức là kẻ nghe đạo; mà sự lo lắng về đời nầy, và sự mê đắm về của cải, làm cho nghẹt ngòi đạo và thành ra không kết quả” (Ma-thi-ơ 13:22)?

  3. Cùng với lớp học, hãy xem lại câu hỏi được đặt ra vào cuối buổi học hôm thứ ba nói về việc biết lẽ thật Kinh Thánh không đồng nghĩa với việc chúng ta được cứu nhờ lẽ thật đó. Tại sao ý tưởng này rất quan trọng? Nếu chỉ biết lẽ thật không phải là điều cứu chúng ta, thì chỉ điều gì mới có thể cứu chúng ta?

  4. Những lý do nào khác có thể giải thích tại sao người trai trẻ giàu có từ chối tin nhận Đức Chúa Giê-su trong khi Xa-chê chấp nhận Ngài?

Bài Học 8, 18 Tháng 11 — 24 Tháng 11

Giúp Đỡ Những Người Khó Khăn

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Lu-ca 5:17–26; Giăng 5:1–9; Phục truyền 10:19; Lê-vi Ký 23:22; Ma-thi-ơ 25:34-40; Giăng 15:13.

CÂU GỐC: “Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy” (Ma-thi-ơ 25:40).

 

Một câu chuyện rất cảm động trong Kinh Thánh kể về một nhóm người đã hết mình giúp đỡ một người bạn đang bị đau ốm. Những người này khiêng bạn của mình đến gặp Chúa Giê-su để được chữa lành. Câu chuyện để lại cho chúng ta một bài học quan trọng. Đôi khi chúng ta phải hết lòng và sốt sắng để giúp đỡ những người gặp khó khăn.

Đọc câu chuyện trong Lu-ca 5:17–26 (cũng đọc trong Ma-thi-ơ 9:1–8; Mác 2:3–12). Chúng ta học được bài học nào từ bốn người trong câu chuyện này về hành động đầy tình yêu thương và biết giúp đỡ những người gặp khó khăn?

Một nhóm người đã đem bạn mình đến gặp Đức Chúa Giê-su. Họ có trách nhiệm phải chăm sóc cho người bạn của họ. Chúa muốn chúng ta phải giống như những người bạn của người đau bại này. Bạn và tôi phải dẫn dắt người khác đến với Chúa Giê-su. Chúng ta phải nhờ đức tin để làm được công việc này. Và phải kiên nhẫn và sẵn sàng làm bất cứ điều gì Chúa giao phó. Nhóm người này tìm đến Chúa Giê-su. Nhưng họ không thể đem người bạn đau bại của mình đến gặp Chúa Giê-su vì bị đám đông cản đường. Nhưng họ không bỏ cuộc. Họ đã tìm ra phương cách để đưa bạn mình đến với Ngài. Họ phá mái nhà và thả bạn mình từ từ xuống để gặp Chúa Giê-su! Lu-ca cho chúng ta thấy rằng Chúa không quở trách họ vì những gì họ đã làm (đọc Lu-ca 5:20). Đức Chúa Giê-su còn ban thưởng cho đức tin của họ.

Chúa muốn chúng ta đưa những người bạn đang gặp khó khăn của mình đến gặp Ngài. Kinh Thánh bày tỏ Đức Chúa Giê-su là vị Bác Sĩ Đại Tài. Ngài sẵn sàng tha thứ và chữa lành những người đang đau đớn, dù người đó có là ai đi chăng nữa.

Ellen G. White khuyên chúng ta nên giúp đỡ những người không nơi nương tựa: “Đừng đợi cho ai đó bảo bạn hãy giúp đỡ mọi người. Hãy để ý và quan sát xung quanh. Hãy để ý những người lân cận đang bơ vơ, đau khổ, và thiếu thốn. Có ai trong số chúng ta thể hiện trong đời sống của mình tôn giáo mà Gia-cơ đã nói đến không? Chúng ta có vượt qua được sự ích kỷ và tội lỗi không? Ai có thể làm mọi thứ để đồng công với Đức Chúa Trời trong công cuộc cứu linh?”—Testimonies for the Church, bộ 2, tr. 29, phỏng trích.

Đức Chúa Giê-su chỉ dẫn cho chúng ta cách để giúp đỡ những người không nơi nương tựa. Ngài muốn bạn và tôi chung tay trong công việc này. Đầu tiên, chúng ta phải làm bạn với những người đang khốn cùng này. Sau đó, tìm hiểu nhu cầu của họ. Cuối cùng, dẫn họ đến với Chúa Giê-su. Đức Chúa Giê-su là Đấng duy nhất có thể giúp họ. Nhóm người trong câu chuyện của sách Lu-ca đã làm những điều này. Chúng ta cũng cần phải làm như vậy, dù bất kỳ nơi nào đi chăng nữa. Bạn và tôi phải góp phần dìu dắt mọi người đến gặp Đấng duy nhất có thể cứu giúp họ, đó chính là Chúa Giê-su.

Những ai đang cần sự giúp đỡ ở xung quanh bạn? Bạn sẽ làm gì cho họ?

Đọc Những câu chuyện dưới đây dạy chúng ta điều gì về việc giúp đỡ những người gặp khó khăn?

Giăng 5:1–9 _________________________________________

Mác 1:23–28 _________________________________________

Ellen G. White giải thích cho chúng ta thấy rõ phương pháp của Đức Chúa Giê-su trong việc giúp đỡ những người gặp khó khăn. Phương pháp của Ngài có năm bước: “Chỉ có phương pháp của Chúa Giê-su mới đem lại kết quả thiết thực trong việc dẫn dắt người khác đến với Ngài. Đấng Cứu Rỗi đã dành thời giờ để tiếp xúc tha nhân. Ngài chứng tỏ cho họ thấy rằng Ngài muốn điều tốt nhất cho họ. Chúa Giê-su đã cho mọi người biết rằng Ngài thấu hiểu nỗi đau mà họ đang đối diện. Chúa Giê-su thỏa đáp nhu cầu của họ. Ngài nhận được lòng tin của họ. Và rồi Ngài kêu gọi: ‘Hãy theo ta.’”—The Ministry of Healing, tr. 143, phỏng dịch.

Hãy xem xét 5 bước bắt đầu bằng chữ T nói về phương pháp của Đức Chúa Giê-su trong công việc cứu linh.

Bước 1: Tiếp xúc tha nhân—Dành thời gian cho những người gặp khó khăn. Làm quen với họ. Tìm hiểu nhu cầu của họ là gì và cố gắng giúp đỡ họ. Hãy xem những gì Chúa Giê-su đã ứng xử với người đau bại nằm bên một cái ao gọi là Bê-tết-đa. Ngài đã ở đó và sẵn sàng giúp đỡ ông (Giăng 5:1–9).

Bước 2: Tìm hiểu nhu cầu—Chứng tỏ cho mọi người thấy sự quan tâm của bạn. Đôi khi rất khó để thể hiện cho những người khác thấy sự quan tâm của mình. Vì có những người tỏ vẻ tốt bụng để lấy lòng một ai đó. Sau đó, họ lạm dụng người này. Chúa muốn chúng ta phải thật sự bày tỏ lòng yêu thương và biết cảm thông. Đừng đòi hỏi bất kỳ sự đền đáp nào khi mình làm những điều tốt đẹp cho những người khác.

Bước 3: Thỏa đáp nhu cầu—Cung cấp cho mọi người những gì họ cần. Chúng ta phải làm nhiều hơn là nói những lời tốt đẹp với những người gặp hoàn cảnh khó khăn. Phải làm một điều gì đó để thỏa đáp nhu cầu của họ. Và phải học theo cách Chúa Giê-su đã đối đãi với người bị đau bại. Sau khi những người bạn của người đau bại đã giúp cho bạn mình xuống gặp Chúa Giê-su, Ngài đã hỏi người đau bại rằng ông mong muốn điều gì. Sau đó, Chúa Giê-su đã chữa lành cho người đau bại này. Trong câu chuyện về người bị quỷ ám, Chúa Giê-su cũng thỏa đáp mọi sự họ cần. Ngài đã chữa lành cho người bị quỷ ám vì người này vốn không thể làm gì khác để có thể tự cứu lấy mình.

Bước 4: Thu phục nhân tâm—Có được lòng tin của mọi người. Khi bạn và tôi giúp đỡ mọi người, họ sẽ tin tưởng chúng ta. Sau đó, họ sẽ để ý đến những gì chúng ta nói về Chúa Giê-su. Ngài không chỉ muốn chữa lành thể xác con người. Ngài còn muốn chữa lành tấm lòng của họ. Ngài muốn ban cho bạn và tôi sự sống đời đời (xin đọc Giăng 10:10).

Bước 5: Truyền bá tin lành—Dìu dắt mọi người đến với Chúa Giê- su. Chính bạn và người được giúp đỡ phải có đức tin nơi Chúa Giê-su để có thể thực hiện được sứ mạng mà Đức Chúa Trời đã giao phó.

Chúng ta thường không thể làm những phép lạ mà Chúa Giê-su đã làm. Nhưng chúng ta vẫn có thể phục vụ những người cần giúp đỡ bằng những cách nào?

Có rất nhiều bản tin thời sự ngày hôm nay cho biết có nhiều người ở nhiều nơi phải rời khỏi đất nước của họ để tránh khỏi sự chiến tranh, động đất, sóng thần và sự đói khổ. Hoặc có thể những người này rời khỏi quê nhà vì họ hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn trên đất khách. Hàng triệu người trên khắp thế giới đã rời bỏ nhà cửa của họ để đến sinh sống và làm việc ở những vùng đất xa lạ. Và bây giờ họ cần sự giúp đỡ để bắt đầu một cuộc sống mới.

Trong Ma-thi-ơ 2:13, 14, Đức Chúa Giê-su là một trong số những người này. Cha mẹ Ngài, Giô-sép và Ma-ri, phải rời Bết-lê-hem trong đêm. Họ đã bỏ chạy vì vua Hê-rốt muốn giết Chúa Giê-su. Kinh Thánh không có thuật lại cho chúng ta chi tiết những kinh nghiệm của họ tại Ai Cập. Nhưng chúng ta có thể tưởng tượng trong tâm trí rằng Chúa Giê-su và gia đình của Ngài đã kinh nghiệm giống như những người nước ngoài đang sinh sống nơi đất khách quê người. Kinh nghiệm của Đức Chúa Giê-su giúp chúng ta hiểu và thương xót cho nhiều người ngày nay rời bỏ quê hương vì họ bị hà hiếp hoặc bị tấn công vì niềm tin tôn giáo của họ.

Thật sự, rất dễ dàng để chúng ta kết bạn với những người có cùng một văn hóa. Và họ có thể là những người có cùng một ngôn ngữ hoặc thuộc cùng một chủng tộc. Cho nên, chúng ta có thể có nhiều điểm tương đồng. Nhưng chúng ta thường gặp khó khăn khi làm bạn với những người có ngoại hình và màu da khác với mình và còn khác ngôn ngữ. Hay là những người không có chung một tín lý tôn giáo và cách ăn uống cũng khác nhau. Nhưng điều quan trọng là Đức Chúa Giê-su đã truyền lệnh cho chúng ta phải phá đi “bức tường” ngăn cách giữa mình với những người khác. Bạn và tôi phải nhìn thấy những người đang đau khổ, bất kể họ là ai, ngay cả khi họ không có chung một chủng tộc với chúng ta.

Đọc Phục truyền Luật lệ Ký 10:19; Thi thiên 146:9; Rô-ma 12:13; và Lê-vi Ký 23:22. Những câu này cho chúng ta thấy ý tưởng quan trọng nào?

Làm thế nào chúng ta có thể giúp đỡ những người khách lạ? Đôi khi công việc này có thể khó khăn. Ở một số quốc gia, bạn không được phép dành thời gian với người nước ngoài hoặc giúp đỡ họ. Nhưng dù sao chúng ta cũng phải làm tất cả những gì có thể. Chúng ta phải giúp đỡ mọi người bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào mình có thể giúp. Chúng ta phải để ý, luôn có những người đang phải chịu đựng những điều vô cùng khó khăn. Vì vậy, họ cần sự giúp đỡ của bạn và tôi.

Chúng ta phải bắt đầu bằng cách cầu nguyện. Sau đó tìm hiểu về những người khách lạ từ các quốc gia khác đã chuyển đến địa phương của bạn. Nhiều trung tâm cung cấp chỗ ở tạm thời cho họ. Và bạn có thể chung tay với một trong những trung tâm này. Hoặc Trường Sa-bát của hội thánh địa phương mà bạn đang sinh hoạt có thể thành lập một trung tâm đặc biệt cho những người khách lạ này.

Tất cả chúng ta đều kinh nghiệm được rằng cuộc sống này thật sự khốn khổ như thế nào, có phải không? Có thể bạn sống ở một đất nước có nhiều người sùng bái tiền bạc. Hoặc có thể bạn sống ở một đất nước mà hầu hết mọi người đều rất nghèo. Bất cứ nơi nào bạn sống, đều có những người đang chịu đựng sự đau khổ. Nếu bạn có đọc báo hoặc xem tin tức, bạn sẽ biết rằng người dân ở các quốc gia giàu chi rất nhiều tiền để mua thuốc an thần nhằm giúp họ giải tỏa căng thẳng và buồn bã trong tinh thần. Tất cả những viên thuốc đắt tiền đó cho chúng ta thấy rằng tiền không mua được hạnh phúc hay sự bình yên.

“Thần của Chúa ngự trên ta; vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo, Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, kẻ mù được sáng, kẻ bị hà hiếp được tự do; và để đồn ra năm lành của Chúa” (Lu-ca 4:18-19). Câu này dạy chúng ta điều gì về công việc Chúa Giê-su đã làm và công việc của bạn và tôi phải làm cho những người xung quanh mình?

Chúa muốn chúng ta giúp đỡ những người lân cận. Chúng ta không biết liệu họ có tiếp nhận Chúa Giê-su hay không và khi nào họ mới tiếp nhận. Nhưng công việc quan trọng nhất mình có thể làm là dẫn người ta đến với Đức Chúa Giê-su. Đồng thời, bạn và tôi phải giúp đỡ những người gặp khó khăn vì họ cần được giúp đỡ. Chúng ta giúp đỡ họ vì bạn và tôi đã tin nhận Đức Chúa Giê-su là Chúa của chúng ta. Vì vậy, giúp đỡ người khác là một phần công việc Chúa muốn chúng ta thực hiện.

Bạn và tôi phải noi gương Đức Chúa Giê-su để giúp đỡ những người gặp khó khăn. Nguyên tắc yêu thương từ trong Kinh Thánh rất quan trọng. Chúng ta không biết liệu những người mình giúp đỡ có tiếp nhận Đức Chúa Giê-su hay không. Nhưng dù sao đi nữa chúng ta cũng phải giúp đỡ họ.

Nếu thật sự muốn giúp đỡ người khác, chúng ta cần tìm hiểu những gì họ cần. Tùy theo mỗi nhóm người mà có những cách thể hiện tình bạn khác nhau. Ở Ấn Độ, bạn có thể cung cấp thức ăn hoặc đồ uống cho những người khách lạ. Thật sự rất dễ dàng để chúng ta có thể viết một phiếu chuyển tiền và đề nghị giúp đỡ một người lạ mà chúng ta thậm chí không quen biết. Nhưng thật khó để có thể an ủi một người bạn vừa mất đi người thân. Cả hai nhóm này đều có nhu cầu cần sự giúp đỡ. Và điều mà bạn của bạn cần có thể không chỉ là tiền bạc hay những thứ tốt đẹp. Thường thì sự hiện diện hoặc lời lẽ khích lệ trong tình yêu thương mà bạn dành cho ai đó trong lúc mất đi người thân có thể hữu ích hơn rất nhiều.

Hãy nhớ nguyên tắc quan trọng này: Bạn là công cụ của Đức Chúa Giê-su. Giúp đỡ bạn bè của chúng ta phải bắt đầu bằng việc thể hiện tình yêu thương một cách chân thành. Cố gắng thấu hiểu nhu cầu của họ trước khi thật sự giúp đỡ họ. Hãy giúp đỡ khi họ cần, ngay cả khi bạn biết họ chưa sẵn sàng đi theo Đức Chúa Giê-su.

Sứ điệp cho chúng ta trong Ma-thi-ơ 25:34–40 là gì?

Luôn có nhiều người cần đến sự giúp đỡ của bạn, họ có thể là: Bạn thân, những người xa lạ ở xa, và những người phải rời bỏ đất nước của mình để tìm kiếm hy vọng vào một cuộc sống nơi đất mới. Bạn và tôi nên làm tất cả những gì mà chúng ta có thể làm để giúp đỡ họ bất cứ khi nào hay là nơi nào. Trong thời gian Đức Chúa Giê-su ở trên đất này, Ngài đã giúp đỡ mọi người. Đôi khi, Chúa đến với những người cần đến Ngài. Nhưng cũng có những lúc, người ta đến với Đức Chúa Giê-su, hoặc bạn bè của họ đưa họ đến với Ngài.

Đức Chúa Giê-su phán: “Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình” (Giăng 15:13). Làm thế nào chúng ta có thể áp dụng được nguyên tắc quan trọng này trong công việc phụng sự Đức Chúa Trời?

Một gia đình đi đến quần đảo Trinidad và Tobago ở vùng biển Caribe. Họ đã phụng sự Chúa ở đó trong sáu năm. Trong ba năm đầu tiên, gia đình sống trong một cộng đồng chủ yếu là người theo Ấn độ giáo và Hồi giáo. Nhiều người theo đạo Ấn độ giáo [Hin-đu] phàn nàn vì trước đây những người theo đạo Chúa đã từ chối đến dự lễ Tạ Ơn hằng năm của họ. Không lâu sau đó, gia đình Cơ Đốc giáo này trở thành bạn của một người theo đạo Hin-đu. Người bạn theo đạo Hin-đu đã mời họ tham dự một buổi lễ Tạ Ơn. Gia đình Cơ Đốc giáo này đã noi gương Chúa Giê- su. Vì Chúa Giê-su đến thăm bạn bè của Ngài khi họ mời Ngài đến dự những buổi lễ đặc biệt của họ. Thế là gia đình nhận lời. Bạn có biết rằng người theo đạo Hin-đu tin rằng sự hiện diện của những vị khách hoặc bạn bè sẽ mang lại phước hạnh cho gia đình của mình?

Tuần này, chúng ta hãy tìm một người bạn mới. Trước tiên, hãy để ý đến nơi mà bạn đang sinh sống. Bạn có quen biết với ai đến từ những nơi khác và đang sinh sống gần nhà bạn? Bạn có biết những người sống gần nhà của bạn không? Bạn có quen biết tất cả những người đó? Tất nhiên, kết bạn với một người lạ không phải là một việc dễ dàng. Hãy cầu xin Chúa giúp đỡ. Ngài biết tất cả mọi người và biết những người lạ sắp sửa sẽ trở thành bạn của bạn. Hãy luôn nhớ rằng, chúng ta phải làm bạn với mọi người để có thể dẫn họ đến với Chúa để được Ngài giúp đỡ.

THÁCH THỨC: Tìm hiểu về người nước ngoài hoặc những người ngoại đạo trong khu vực của bạn. Truy cập joshuaprojects.org để biết thêm thông tin.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Bạn đã gặp một người bạn mới sống gần nhà bạn chưa? Hãy cầu nguyện cho người này sau khi trả lời những câu hỏi sau:

-Tôi có làm bạn với người này như cách Chúa Giê-su đã làm bạn với mọi người không?

-Tôi có biết nhu cầu của người này không?

-Làm thế nào tôi có thể dẫn người này đến với Chúa Giê-su để được chữa lành?

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC:

Xin đọc chương, “A Few Days at Long Point,” Ellen G. White: The Australian Years: 1891–1900, tập 4, tr. 100–104.

Chúa Giê-su thân thiện với những người khách lạ vì Ngài muốn cứu họ (Ma-thi-ơ 8:28–34; Mác 5:1–20). Chúa cũng muốn chúng ta kết bạn và giúp đỡ những người khách lạ. Chúng ta phải ghi nhớ lẽ thật Kinh Thánh này: Chúa Giê-su chết cho mọi người. “Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Giăng 2:2).

“Khi chúng ta chỉ bày tỏ tình yêu thương đối với những người trong gia đình mình thì thật sự chúng ta không có làm theo điều mà Chúa muốn mình làm. . .

“Khi Chúa bảo chúng ta giúp đỡ những người không có họ hàng với mình, Ngài không muốn chúng ta ngừng yêu thương hoặc ngừng chăm sóc những người trong gia đình mình hoặc những người ở đất nước chúng ta. Chúa Giê-su không muốn bạn và tôi lãnh đạm với những người trong gia đình. Nhưng Ngài cũng muốn chúng ta yêu thương và giúp đỡ người khác. Chúa đã ban phước cho chúng ta. Ngài muốn bạn và tôi phải chia sẻ các phước lành này cho những người khác.”—Ellen G. White, The Advent Review and Sabbath Herald, ngày 15 tháng 10 năm 1895, phỏng trích.

Chúa muốn bạn và tôi trở thành nguồn phước cho những người không thuộc về gia đình của mình. Công việc này đôi khi có thể khó khăn. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Chúa Giê-su lệnh cho chúng ta làm công việc này (Công vụ các Sứ đồ 1:8; Mác 11:17). Vì vậy, bạn và tôi phải giúp đỡ những người đang khốn cùng và những người xa lạ xung quanh nếu chúng ta muốn trở thành những người noi theo bước chân của Đức Chúa Giê-su.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Đức Chúa Giê-su muốn chúng ta giúp đỡ mọi người. Bạn sẽ làm gì khi những việc bạn cần phải làm để giúp đỡ họ không phải lúc nào cũng dễ dàng? Tại sao bạn phải sẵn sàng để giúp đỡ họ?

  2. Một số người kiện cáo Đức Chúa Giê-su vì khi Ngài làm công việc của Đức Chúa Trời đã không theo truyền thống của họ: “Con người đến, hay ăn hay uống, thì họ nói rằng: Kìa, là người ham ăn mê uống, bạn bè với người thâu thuế cùng kẻ xấu nết. Song le, sự khôn ngoan được xưng là phải, bởi những việc làm của sự ấy” (Ma-thi-ơ 11:19). Tại sao người ta nói những điều này về Đức Chúa Giê-su? Ngài đang làm gì? Câu chuyện này dạy dỗ điều gì về công việc của chúng ta cho Đức Chúa Trời?

  3. Điều gì sẽ xảy ra nếu một người không phải là Cơ Đốc nhân yêu cầu bạn tham gia lễ kỷ niệm của họ. Bạn có nên đi không? Làm thế nào bạn có thể nhận lời mời của họ, đồng thời làm theo lẽ thật Kinh Thánh?

Bài Học 7, 11 Tháng 11 — 17 Tháng 11

Yêu Người Lân Cận

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Lu-ca 10:25–37; 2 Ti-mô-thê 3:16; Gia-cơ 2:17–22; Ma-thi-ơ 22:37–40; Ga-li-ti 5:14; Mi-chê 6:6-8.

CÂU GỐC: “Thưa rằng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và yêu người lân cận như mình” (Lu-ca 10:27).

Chúng ta là ai? Tại sao bạn và tôi được hiện diện trên hành tinh này? Điều gì xảy ra sau sự chết? Đây vốn là những câu hỏi quan trọng nhất mà chúng ta có thể hỏi. Trong Kinh Thánh, sách Lu-ca, có một người đến gặp Đức Chúa Giê-su với một câu hỏi rất quan trọng.

Thầy dạy luật đã hỏi Đức Chúa Giê-su điều gì? Tại sao ông lại hỏi như vậy? Xin đọc Lu-ca 10:25 để tìm câu trả lời?

Kinh Thánh cho biết thầy dạy luật hỏi vậy vì muốn thử Đức Chúa Giê-su. Nhiều người ngày nay cũng giống như thầy dạy luật này. Họ đến với Chúa trong sự nghi ngờ. Nhưng Chúa vẫn muốn cảm động lòng họ. Đây chính là điều mà Chúa Giê-su đã ứng xử với thầy dạy luật. Chúa Giê-su biết rằng chính câu hỏi của thầy dạy luật đã cho Ngài một cơ hội tốt để khích lệ chính vị thầy này và đám đông để họ tự xét lại lòng mình. Ngài biết lý do thúc đẩy thầy dạy luật đặt ra câu hỏi này. Nhưng Ngài vẫn ứng xử một cách nhã nhặn và trả lời câu hỏi của vị thầy này.

Chung quy lại, chúng ta còn có câu hỏi nào quan trọng hơn câu mà thầy dạy luật đã hỏi Chúa? “Thưa thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” (Lu-ca 10:25). Câu hỏi này chính là lý do cho mọi việc chúng ta đang làm. Không còn có câu hỏi nào có ý nghĩa hơn đối với con người chúng ta, là những người có sự sống “Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay” (Gia-cơ 4:14).

Đọc 1 Cô-rinh-tô 15:30–32. Sứ đồ Phao-lô đã nói gì trong những câu Kinh Thánh này? Những ý tưởng đó giúp bạn hiểu gì về tầm quan trọng của sự sống đời đời?

Lý do thúc đẩy thầy dạy luật đặt ra câu hỏi cho Đức Chúa Giê- su có thể không tốt. Nhưng Chúa Giê-su tìm mọi cơ hội để cứu rỗi mọi người. Ngài đã dùng câu hỏi để động chạm tấm lòng của những người trong đám đông đang sốt sắng và lắng nghe Ngài.

Làm sao để chúng ta có thể tận dụng mọi cơ hội đến với chúng ta để có thể rao báo tin lành của Chúa cho mọi người?

Kinh Thánh cho biết thầy dạy luật muốn thử Đức Chúa Giê-su. Ngài biết rõ lý do tại sao thầy dạy luật muốn hỏi Ngài. Đức Chúa Trời thấu hiểu cảm nghĩ trong lòng chúng ta hơn sự thấu hiểu hạn hẹp của chính chúng ta đối với lòng mình.

Đôi khi những người từ các tôn giáo khác hỏi về đức tin của chúng ta. Những người bạn từ đạo Hồi giáo có thể hỏi, “Ở chỗ nào trong Kinh Thánh, Đức Chúa Giê-su nói Ngài là Đức Chúa Trời?” Hoặc “Tại sao bạn nói có một Đức Chúa Trời và còn nói Đức Chúa Trời có ba ngôi riêng biệt?” Thông thường, chúng ta có thể cảm thấy rằng những người bạn này đang tấn công đức tin của mình khi họ hỏi những câu như thế này. Lúc đó bạn và tôi phải nhớ rằng đằng sau những câu hỏi đó có thể ẩn chứa một ước muốn sâu xa là họ muốn Đức Chúa Giê-su thỏa đáp thắc mắc trong lòng họ. Chúng ta không thể hiểu thấu lòng họ. Và bạn và tôi cũng không cần phải hiểu. Nhưng chúng ta phải cố gắng hết mình để giúp đỡ họ, bất kể lý do hay điều nào đã thúc đẩy họ đặt ra những câu hỏi khó đó cho chúng ta.

Đọc Ma-thi-ơ 26:56; Công vụ các Sứ đồ 17:11; 1 Cô-rinh-tô 15:3; và 2 Ti-mô-thê 3:16. Làm thế nào để những câu này giúp chúng ta hiểu câu trả lời của Đức Chúa Giê-su cho thầy dạy luật trong Lu-ca 10:26?

Đôi khi chúng ta muốn có câu trả lời từ Kinh Thánh, nhưng lại không siêng năng học Kinh Thánh. Đức Chúa Giê-su nói với thầy dạy luật, “Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc gì trong đó?” (Lu-ca 10:26). Chúa giúp chúng ta hiểu một phần rất quan trọng của việc nghiên cứu Kinh Thánh. Bạn và tôi phải tự nghiên cứu hơn là chỉ nghe đến những gì người khác nói với chúng ta. Chúng ta cần đọc Kinh Thánh cho chính mình. Câu trả lời đã được dành sẵn cho bạn và tôi. Đức Thánh Linh hành động trong tấm lòng và giúp chúng ta biết mình cần phải làm gì.

Đức Chúa Trời ban cho chúng ta Lời của Ngài là Kinh Thánh. Để bạn và tôi có thể hiểu được tất cả những lẽ thật mà chúng ta cần phải biết để sống và biết cách yêu thương người khác. Kinh Thánh cũng dạy chúng ta về sự sống đời đời. Thật sự, những người dạy Kinh Thánh và các nhà thuyết giảng là rất cần thiết. Nhưng quan trọng nhất, chúng ta phải tự mình tìm đến Kinh Thánh để tìm hiểu về những lẽ thật quan trọng cho đời sống của mình. “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi” (Thi thiên 119:105). Thật vậy, lời Chúa tốt lành vô cùng, còn quan trọng hơn những hình ảnh ẩn dụ như là ngọn đèn và ánh sáng. Thi thiên 119:105 chính là lẽ thật từ Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng Lời Đức Chúa Trời vô cùng quan trọng đối với đời sống chúng ta.

Đức Chúa Giê-su chính là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời trong thân xác con người. Đức Chúa Giê-su luôn khuyên mọi người phải đọc Kinh Thánh. Lời khuyên của Ngài cho chúng ta biết gì về lý do tại sao Kinh Thánh rất quan trọng? Tại sao chúng ta phải từ chối bất cứ ý tưởng nào khiến mình không tin cậy Kinh Thánh?

Câu trả lời của thầy dạy luật cho câu hỏi của chính mình là gì? Đọc Lu-ca 10:27, 28?

Thầy dạy luật đã đặt câu hỏi và sau đó trả lời: “Thưa rằng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình” (Lu-ca 10:27).

Chúa Giê-su nghĩ gì về câu trả lời này? “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đáp phải lắm” (Lu-ca 10:28). Sau đó, Ngài bảo ông phải thực hành những điều đó, “hãy làm điều đó, thì được sống” (Lu-ca 10:28).

Đối với hầu hết Cơ Đốc nhân, việc đưa ra câu trả lời chính xác về đức tin và sự dạy dỗ của Kinh Thánh là điều dễ dàng. Phần khó là làm những gì chúng ta biết là đúng và làm theo những gì mình tin tưởng. Rất nhiều người biết cần phải như thế nào để được cứu. Nhưng họ cũng sẽ bị hư mất vì họ đã không tuân theo những gì họ biết. Vì vậy, chủ đề này rất quan trọng. Bạn biết bạn phải yêu Chúa và người lân cận của bạn. Điều đó thật tuyệt vời! Nhưng biết thôi chưa đủ. Bạn phải cho họ thấy bạn yêu họ nhiều như thế nào!

Đọc Gia-cơ 2:17–22. Gia-cơ dạy chúng ta lẽ thật Kinh Thánh nào trong những câu này. Làm sao ý tưởng này lại giống với điều mà Đức Chúa Giê-su đã nói với thầy dạy luật?

Nếu yêu Chúa, chúng ta sẽ đọc Kinh Thánh, là Lời của Ngài. Chúng ta sẽ cầu nguyện, tuân theo các điều răn và hết lòng vâng lời Ngài. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta nói rằng tôi yêu mọi người, nhưng lại không có sự quan tâm đến các thành viên trong hội thánh? Hoặc chúng ta sẽ tự hỏi rằng, có gì xảy ra nếu tôi không quan tâm đến nhu cầu của người khác? Đức tin của tôi thật sự như thế nào? Đức tin Cơ Đốc giáo không phải chỉ là một tập hợp các tín lý. Nhưng Đức tin Cơ Đốc giáo là một lối sống mới. “Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng?” (Gia-cơ 2:15, 16).

Bạn quan tâm đến nhu cầu của người khác đến mức nào? Bạn làm theo lời của Phao-lô đến mức nào: “Mỗi một người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa” (Phi- líp 2:4). Làm thế nào chúng ta có thể nhờ sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời để chứng tỏ cho người khác thấy rằng mình quan tâm đến họ?

So sánh điều Chúa Giê-su phán trong Ma-thi-ơ 22:37–40, với câu trả lời của Ngài dành cho thầy dạy luật trong Lu-ca 10:27, 28?

Trong Ma-thi-ơ 22:37–40, Đức Chúa Giê-su phán rằng chúng ta thể hiện đức tin của mình khi chúng ta yêu mến Chúa và người lân cận. Trong Lu-ca 10:27-28, Đức Chúa Giê-su phán rằng khi con người làm hai điều này, họ sẽ có sự sống đời đời.

“Tình yêu thương là nguyên tắc quan trọng nhất trong chính quyền của Đức Chúa Trời ở trên trời và dưới đất. Tình yêu phải phát xuất từ trong lòng và hiện diện trong mọi tư tưởng, cảm nhận và hành động. Chỉ có tình yêu mới có thể giúp chúng ta trung tín với Chúa. Chỉ có tình yêu thương mới có thể cho bạn và tôi sức mạnh cần thiết để vượt qua thử thách và cám dỗ.”—Ellen G. White, Christ’s Object Lessons, tr. 49, phỏng dịch.

Đọc Ga-la-ti 5:14; Mi-chê 6:6–8; và 1 Giăng 4:20, 21. Những câu này giúp chúng ta hiểu điều Đức Chúa Giê-su đã dạy dỗ như thế nào?

Sứ đồ Phao-lô nói, “Vì cả luật pháp chỉ tóm lại trong một lời nầy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình” (Ga-la-ti 5:14). Phao-lô dạy rằng mọi người có thể thấy chúng ta rất yêu mến Đức Chúa Trời khi bạn và tôi biết bày tỏ tình yêu thương đối với những người xung quanh. Đời sống đức tin không phải là điều để che giấu hoặc không để người khác nhìn thấy. Phao-lô, Mi-chê và Giăng giải thích rằng những việc làm và cách cư xử cho thấy đức tin trong lòng chúng ta.

Trong 1 Cô-rinh-tô 13, Phao-lô giải thích về tình yêu thương thật sự. Mọi người có thể nói rằng họ có nhiều kiến thức. Họ có thể làm ra những điều lạ thường. Họ có thể có rất nhiều đức tin hoặc hy sinh đời sống của họ vì đức tin. Nhưng nếu những người này không có tình yêu thương, thì cuối cùng, họ “chẳng được gì cả” (1 Cô-rinh-tô 13:3).

Đọc lại trích dẫn của Ellen G. White ở trên. Bạn có thấy tác giả nói rằng chúng ta chỉ có thể nói không với tội lỗi nếu bản thân có tình yêu thương của Chúa ở trong lòng không? Ý tưởng này giúp bạn và tôi hiểu gì về mệnh lệnh yêu thương của Đức Chúa Trời không có nghĩa là chúng ta được cứu vì cách hành xử tốt của mình? Làm thế nào ý tưởng này cũng dạy chúng ta rằng tình yêu thương sẽ cho thấy đức tin mình có được nơi Đức Chúa Giê-su?

Sau khi thầy dạy luật đưa ra câu trả lời chính xác, Đức Chúa Giê-su phán rằng: “Ngươi đáp phải lắm; hãy làm điều đó, thì được sống” (Lu- ca 10:28). Với những lời này, Ngài cho chúng ta thấy điều gì ở trong lòng con người. Thầy dạy luật biết cách đưa ra tất cả các câu trả lời một cách chính xác. Nhưng hành động theo câu trả lời đó là cả một vấn đề. Nếu làm điều lành là một điều khó đối với thầy dạy luật này 2,000 năm trước, thì ngày nay nó cũng khó đối với chúng ta ra làm sao?Thầy dạy luật muốn thử Đức Chúa Giê-su và lên mình trước mặt mọi người. Ông muốn mọi người thấy rằng ông rất thông sáng. Vì vậy, ông hỏi Chúa một câu hỏi khác, “Ai là người lân cận tôi?” (Lu-ca 10:29).

Đọc câu chuyện trong Lu-ca 10:30–37. Đức Chúa Giê-su dạy chúng ta bài học gì trong những câu này? Có những người xung quanh chúng ta từng bị người khác làm tổn thương không? Bạn và tôi đã làm mọi thứ có thể để giúp họ chưa?

Đôi khi các mục sư, lãnh đạo hội thánh và các thành viên hội thánh không giúp đỡ những người cần giúp đỡ nhất. Đôi khi những người từ một hội thánh hoặc tôn giáo khác yêu thương những người trong cộng đồng của chúng ta hơn chúng ta. Bạn và tôi nói về việc yêu thương, nhưng những người khác có thể đáp ứng nhu cầu của những người đó theo cách mà chúng ta không đáp ứng được. Nếu thật sự bạn và tôi có đức tin, thì phải cố gắng giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn.

Đức Chúa Giê-su kết thúc câu chuyện về người Sa-ma-ri nhân lành bằng một câu hỏi. Ai trong số ba người ấy là người lân cận thực sự của người cần giúp đỡ?

“Đức Chúa Giê-su trả lời câu hỏi: ‘Ai là người lân cận của tôi?’ Ngài cho biết rằng, những người lân cận không chỉ là những người trong cùng hội thánh, không chỉ là những người có cùng một màu da hay cùng một chủng tộc, không chỉ là những người có cùng một đẳng cấp. Nhưng người lân cận chính là tất cả mọi người ở xung quanh đang cần sự giúp đỡ từ chúng ta. Họ là những người đã bị Sa-tan làm tổn thương. Người lân cận là tất cả mọi người đang được Đức Chúa Trời yêu thương và chăm gìn.”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 503, phỏng trích.

THÁCH THỨC: Mỗi ngày hãy cầu nguyện cho người chống đối bạn. Hoặc là cầu nguyện cho một người mà bạn không thật sự thích.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Lập danh sách ba người mà bạn biết không phải là tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm. Tìm hiểu nhu cầu của họ là gì? Làm thế nào bạn có thể đáp ứng nhu cầu của họ? Bạn có thể làm gì cho họ trong tuần tới? Hãy xin Chúa giúp bạn thỏa đáp nhu cầu của họ.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Xin đọc chương “Người Sa-ma-ri Nhân Lành” trong sách The Desire of Ages của Ellen G. White, tr. 497–505.

“Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là: thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian” (Gia-cơ 1:27). Đức Chúa Giê-su muốn chúng ta yêu thương và giúp đỡ mọi người. Ngài muốn chúng ta nói những lời yêu thương và làm hài lòng mọi người. Ngài muốn chúng ta thực hiện những hành động vị tha. Và yêu thương người nghèo khổ và thiếu thốn. Ngài muốn bạn và tôi giúp đỡ những người đang đau khổ. Tấm lòng của chúng ta phải có đầy dẫy lòng thương xót cho những người đang đau buồn và vô vọng. Bạn và tôi phải biết chia sẻ cho những người thiếu thốn. Chia sẻ quần áo cho người thiếu đồ mặc. Mời khách lạ vào nhà và tiếp đón họ một cách chân thành. Hãy dọn phòng và quan tâm đến họ. Khi bạn làm những điều này, thiên sứ sẽ ở ngay bên cạnh bạn, và các thiên sứ trên trời sẽ vô cùng vui mừng. Mỗi khi đối xử công bình với ai đó, hoặc bày tỏ lòng thương xót hay yêu thương một người nào đó, các thiên sứ trên trời sẽ cất tiếng reo mừng. Đức Chúa Trời ngự trên ngôi của Ngài ở trên trời. Ngài chứng kiến dân sự thực hiện những hành động đầy lòng thương xót này. Những dân sự làm được những điều này thì họ chính là châu báu quý giá nhất của Đức Chúa Trời. “Đức Giê-hô- va vạn quân phán, ‘Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình’ [Ma-la-chi 3:17]. Đối với Đức Chúa Trời, mọi hành động thương xót và đầy tình yêu thương mà chúng ta dành cho những người túng thiếu và đau khổ, là chúng ta đang làm cho Chúa Giê-su. Hãy ghi nhớ lẽ thật Kinh Thánh này khi bạn giúp đỡ người nghèo. Khi bạn bày tỏ lòng trắc ẩn đối với những người đau khổ và giúp đỡ trẻ mồ côi, thì mối tương giao của bạn với Chúa Giê- su càng trở nên sâu đậm và bền chặt.”—Ellen G. White, Testimonies for the Church, bộ 2, tr. 25, phỏng trích.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Chúng ta có một số cảm nghĩ xấu nào ở trong lòng về những người có sự khác biệt với mình? Làm thế nào bạn và tôi có thể học cách để từ bỏ nó?

  2. Bạn có thể tìm thấy những câu Kinh Thánh nào cho thấy mình cần bày tỏ lòng thương xót với người khác, bất kể họ là ai?

  3. Làm thế nào bạn và tôi có thể chắc chắn rằng chúng ta hiểu rõ việc làm theo mệnh lệnh yêu mến Đức Chúa Trời và yêu thương những người khác không đồng nghĩa với việc chúng ta đang tự cứu mình bằng cách đối xử tốt với mọi người?

Bài Học 6, 4 Tháng 11 — 10 Tháng 11

Động Lực và Chuẩn Bị Cho Sứ Mạng

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Lu-ca 24:1–12; Lu-ca 24:36– 49; Công vụ các Sứ đồ 1:12–26; Hê-bơ-rơ 10:24, 25; Công vụ các Sứ đồ 2:1–41; 1 Cô-rinh-tô 11:1.

CÂU GỐC: “Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các thi thiên phải được ứng nghiệm” (Lu-ca 24:44).

Đọc Lu-ca 24:1–12. Phản ứng của những người nghe nói về Đấng Christ phục sinh là gì?

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần lễ, sau khi Đức Chúa Giê-su chết, Lu-ca ghi lại rằng có các người đàn bà đã đến mộ Chúa. Họ mang theo các loại hương liệu, vì vậy rất có thể họ muốn đến tẩm liệm thi thể Chúa khi ngày Sa-bát đã qua. Tưởng sẽ thấy một ngôi mộ vẫn còn niêm phong, họ đã bị sốc khi thấy ngôi mộ trống rỗng. Không biết phải làm gì, họ sợ hãi khi có hai người nam trong bộ áo sáng chói xuất hiện. Tuy nhiên, những người nam này có một tin nhắn cho họ. Nhắc lại cho họ những lời của Đức Chúa Giê-su, hai người nam này nói với họ rằng Đức Chúa Giê-su thực sự đã sống lại, như Ngài đã phán Ngài sẽ sống lại. Vui mừng khôn xiết khi biết tin, các người đàn bà vội vã trở lại nơi các môn đồ và nhiều tín đồ khác của Đức Chúa Giê-su đang ở và thuật lại những điều họ đã mắt thấy tai nghe, vì họ không thể kìm nén được sự phấn khởi của họ. Đó là, họ đang chia sẻ với người khác những gì họ đã học được về Đấng Christ.

Bạn có thể tưởng tượng những người đàn bà này đã cảm thấy thế nào không? Họ vừa trải qua một kinh nghiệm đáng kinh ngạc, một kinh nghiệm chắc chắn khiến họ kinh sợ, nhưng các môn đồ gọi kinh nghiệm của họ là “chuyện hoang đường” và không tin. Vì thế, không biết có thể tin các bà này hay không, Phi-e-rơ đã chạy đến mộ để tận mắt chứng kiến.

Đối với Phi-e-rơ—và đối với nhiều người trong chúng ta—có sự do dự khi chấp nhận điều gì đó chỉ vì người khác nói điều đó. Mặc dù Phi- e-rơ lắng nghe những người phụ nữ nhưng mãi sau này ông mới chia sẻ kinh nghiệm của họ. Lúc đầu, tất cả những gì ông trải qua là một ngôi mộ trống, và điều đó, Lu-ca nói, chỉ khiến ông kinh ngạc (Lu-ca 24:12). Trải nghiệm của Phi-e-rơ tại ngôi mộ không giống với trải nghiệm của những người đàn bà.

Bỏ qua việc phản ứng của Phi-e-rơ, với các người đàn bà này, chúng ta thấy khi họ nghe tin mừng về Đức Chúa Giê-su đã sống lại, họ liệu muốn chia sẻ tin đó với những người khác. Còn động lực truyền giáo nào lớn hơn là cho người khác biết về những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho họ? Còn động lực nào lớn hơn là rao truyền tin mừng về sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-su, niềm hy vọng duy nhất mà bất kỳ ai trong chúng ta có?

Dĩ nhiên, chúng ta cần có kinh nghiệm cá nhân với Chúa trước khi có thể chia sẻ với người khác. Mong muốn chia sẻ với người khác những gì chúng ta vô cùng yêu thích phải là một phần quan trọng trong động lực truyền giáo của chúng ta. Cuối cùng, chúng ta không thể chia sẻ những gì mình không có, phải không?

Một số kinh nghiệm bạn đã có với thực tế về Chúa và tình yêu của Ngài là gì? Tại sao những thời gian này rất quý giá đối với bạn, và chúng thúc đẩy bạn rao truyền tin mừng cho người khác như thế nào?

Đọc Lu-ca 24:36–49. Điều gì đã xảy ra ở đây, và tại sao đây lại là một kinh nghiệm quan trọng đối với các sứ đồ?

Điều đáng lưu ý là lúc đầu các môn đệ không tin vì sợ hãi. Sau đó, sau khi nhìn thấy Đức Chúa Giê-su và biết chắc rằng Ngài thực sự sống lại, họ không tin vì quá vui mừng (Lu-ca 24:41). Bạn đã bao giờ cảm thấy rằng một cái gì đó là quá tốt để trở thành sự thật? Đây là kinh nghiệm của các môn đồ và những người khác trong phòng cao.

Tuy nhiên, nếu Đức Chúa Giê-su chỉ để lại cho họ kinh nghiệm này, thì khi Ngài ra đi, đức tin của họ có thể không bền vững. Theo thời gian, sức mạnh của trải nghiệm có thể phai nhạt; họ sẽ quên, hoặc có lẽ bắt đầu đặt câu hỏi về nó. Vì vậy, Chúa đã không dừng lại với việc cho họ thấy những vết sẹo của Ngài và ăn cá trước mặt họ. Thay vào đó, sau đó Ngài đưa họ vào Lời Chúa và chỉ cho họ nền tảng tiên tri cho công việc và chức vụ của Ngài. Nghĩa là, cho dù kinh nghiệm mà họ có với Ngài tuyệt vời đến đâu, Đức Chúa Giê-su vẫn muốn đức tin của họ đặt nền tảng trên Lời của Đức Chúa Trời.

“Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các thi thiên phải được ứng nghiệm” (Lu-ca 24:44).

Ở đây cũng vậy, chúng ta tìm thấy một động lực mạnh mẽ để đi làm chứng, để đi truyền giáo: Lời Chúa. Đức Chúa Giê-su biết rằng để củng cố kinh nghiệm của các môn đồ, họ cần hiểu tại sao Ngài phải chết và sự phục sinh của Ngài có ý nghĩa gì. Họ cần thế giới quan của họ được chuyển từ một vương quốc chính trị và trần gian sang giải pháp tuyệt vời cho tội lỗi và chiến thắng của Đấng Christ trên sự chết. Phúc âm không chỉ là đạt được chủ quyền chính trị cho Y-sơ-ra-ên. Nó tiết lộ chiến thắng của Đấng Christ đối với Sa-tan và bảo đảm rằng một ngày nào đó mọi điều tà ác trên thế giới sẽ bị hủy diệt, trái đất sẽ được tái tạo và Đức Chúa Trời sẽ ở giữa dân Ngài. Ngài “mở trí cho môn đồ” (Lu-ca 24:45) để họ có thể hiểu những lẽ thật này, mà họ phải chia sẻ với thế giới.

Những kinh nghiệm của chúng ta với Đức Chúa Giê-su không thể bền vững nếu không có nền tảng là Lời của Ngài, kể cả những lời tiên tri chỉ ra lịch sử và các sự kiện dẫn đến, và kể cả, lần giáng lâm thứ nhất và thứ hai của Đấng Christ. Khi đã hiểu rõ những lẽ thật này, chúng ta có thể sẵn sàng và có động lực để đi truyền giáo.

Bạn có nền tảng vững chắc như thế nào trong những lời tiên tri chỉ về Đấng Christ, cả lần giáng trần lần thứ nhất lẫn lần thứ hai của Ngài? Đặc biệt là trong những ngày sau cùng, tại sao chúng ta phải đặt nền tảng trên Lời của Đức Chúa Trời, gồm cả những lời tiên tri, và tại sao việc hiểu những lời này lại rất quan yếu, đặc biệt là cho công việc truyền giáo?

Lu-ca 24 kết thúc với việc Đức Chúa Giê-su thăng thiên (Lu-ca 24:50– 53). Nhưng đấy không phải là cái kết của câu chuyện. Tác giả Lu-ca tiếp tục viết sách Công vụ các Sứ đồ. Ngay trước khi Đức Chúa Giê-su thăng thiên, Ngài đã ban cho các môn đồ một sứ mạng, một lời hứa, và những chỉ dẫn ngay lập tức để chờ đợi “quyền năng từ trên cao” ở Giê-ru-sa-lem (Lu-ca 24:49; xin xem thêm Công vụ các Sứ đồ 1:4–8).

Đức Chúa Giê-su truyền cho các môn đồ hãy chờ đợi ở Giê-ru-sa- lem cho đến khi Ngài thực hiện lời hứa của Ngài là ban Lời Hứa của Đức Chúa Cha (là lời hứa về Đức Thánh Linh), Đấng sẽ ban quyền cho họ để trở thành nhân chứng ở Giê-ru-sa-lem, Giu-đê, Sa-ma-ri và xa hơn nữa.

Đọc Công vụ các Sứ đồ 1:12–26. Các môn đồ, hiện có khoảng 120 người nam và nữ, đang làm gì trong khi chờ đợi?

Đức Chúa Giê-su đã giao cho các môn đồ một sứ mạng rõ ràng: họ phải làm chứng nhân cho Ngài trước mặt thế gian. Vì vậy, trong khi chờ đợi, họ đã chuẩn bị cho sứ mạng của mình theo hai cách. Trước hết, Lu- ca viết rằng họ tiếp tục hiệp nhất cầu nguyện và nài xin. Không có câu hỏi nào trong tâm trí họ về sứ mạng mà Đức Chúa Giê-su đã giao cho họ là gì, và mỗi người đều đã chấp nhận sứ mạng đó. Điều này thôi thúc họ hiệp nhất trong lời cầu nguyện. Lu-ca không chia sẻ họ đang cầu nguyện điều gì, nhưng chắc chắn rằng họ đang cầu xin sự khôn ngoan, sức mạnh và lòng can đảm để cùng nhau hoàn thành sứ mạng. Thật là một gương cho chúng ta.

Điều thứ hai họ làm trong khi chờ đợi là chuẩn bị hậu cần cho nhiệm vụ của mình. Giu-đa đã nộp Đức Chúa Giê-su để Ngài bị hành quyết rồi Giu-đa đã tự kết liễu đời mình. Điều này đã để lại một chỗ trống trong số mười hai người. Vì vậy, trong khi chờ đợi, các môn đồ tìm cầu sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời và chọn người thay thế. Trên thực tế, các môn đồ đang tự tổ chức và lên kế hoạch bắt đầu sứ mạng của họ. Trong tiến trình đưa ra những quyết định này, Phi-e-rơ đóng vai trò lãnh đạo. Không ai thách thức việc này của người; tất cả họ đều nhìn thấy sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong đó. Có một sự hiểu biết và tin tưởng rằng Chúa đang hành động, làm việc và di chuyển giữa họ. Thời gian chờ đợi của họ không nhàn rỗi mà tràn đầy mục đích và hành động theo sứ mạng.

Trong khi chờ đợi sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh giúp chúng ta hoàn thành sứ mạng vĩ đại của Đức Chúa Trời, chúng ta phải đoàn kết khích lệ lẫn nhau (Hê-bơ-rơ 10:24, 25), cầu xin sự giáng xuống của Đức Thánh Linh Đức Chúa Trời. Ngoài ra, chúng ta nên sắp xếp bản thân và hội thánh của mình theo ưu tiên của Đức Chúa Trời—cứu những người lạc mất.

Đức Chúa Trời yêu cầu bạn hy sinh gì—hoặc sẵn sàng thực hiện— để chia sẻ tình yêu của Ngài với người khác? Bạn hoàn toàn tin tưởng như thế nào rằng Ngài sẽ thực hiện lời hứa của Ngài để làm phong phú cuộc sống của bạn thông qua sự hy sinh?

Công vụ các Sứ đồ đoạn 2 ghi lại sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh vào Lễ Ngũ Tuần. Khi các môn đồ của Đức Chúa Giê-su đang cầu nguyện, những lưỡi lửa ngự trên đầu họ. Họ nhận ra rằng quyền năng đã hứa của Đức Thánh Linh đã được ban cho.

Đọc Công vụ các Sứ đồ 2:1–41. Điều gì đã xảy ra với các môn đồ sau khi nhận được Đức Thánh Linh vào Lễ Ngũ Tuần?

Các môn đồ bắt đầu nói các thứ tiếng khác “theo như Đức Thánh Linh cho mình nói” (Công vụ các Sứ đồ 2:4). Điều quan trọng ở đây là Đức Chúa Trời đã trao quyền cho mỗi người vì lợi ích của những người chưa tin. Phước lành không chỉ dành cho lợi ích của riêng họ. Đó không phải là một ơn phước để khiến họ xứng đáng hơn với thiên đàng, hay một ơn phước để việc họ làm kinh doanh bằng ngoại ngữ trở nên dễ dàng hơn. Phước lành đã được ban cho để hoàn thành sứ mạng của Đức Chúa Trời cho những người lạc mất. Ngày nay, Chúa kêu gọi mỗi tín đồ của Ngài sử dụng những ân tứ cá nhân của họ vì lợi ích của sứ mạng Ngài cho những người chưa tin. Chúng ta đã được ban cho những món quà: Còn lời kêu gọi truyền giáo nào lớn hơn là sử dụng những gì chúng ta đã được ban cho để tiếp cận những người khác?

Sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh khiến nhiều người ăn năn về việc họ đã từ chối Đấng Mê-si, vì chắc chắn một số người trong số họ đã ở Giê-ru-sa-lem khi Ngài chết. Hãy nghĩ về quyền lực ở đây: Phi-e-rơ cáo buộc một số người trong số họ đã đóng đinh Đấng Christ. Rõ ràng, họ nhận ra điều mình đã làm và khi bị kết án, họ kêu lên: “Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?” (Công vụ các Sứ đồ 2:37).

Và thậm chí họ vẫn có thể nhận được sự tha thứ. Phi-e-rơ đã nói với họ: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh” (Công vụ các Sứ đồ 2:38).

Làm việc cùng nhau, hòa hợp với Đức Thánh Linh và với nhau, những người theo Đức Chúa Giê-su rao giảng sự ăn năn và sự tha tội—ngay cả đối với những người có thể đã trực tiếp tham gia vào việc đóng đinh Đức Chúa Giê-su! Đó là sức mạnh của phúc âm. Nếu thông điệp đó không thúc đẩy chúng ta đi truyền giáo, thì còn điều gì sẽ làm được? Chúng ta được kêu gọi để rao truyền Tin Lành cho thế giới, một thế giới tội lỗi, sa ngã, đồi bại với những con người tội lỗi, sa ngã và đồi bại. Công việc của chúng ta không phải là phán xét; công việc của chúng ta là làm chứng cho quyền năng cứu rỗi của Đức Chúa Giê-su.

Tại sao ý tưởng cho rằng ngay cả một số người đồng lõa với việc giết Đấng Christ cũng được cứu rỗi (1) lại khuyến khích chúng ta vì chính linh hồn mình, và (2) khuyến khích chúng ta làm chứng cho người khác, bất kể họ có vẻ xấu xa như thế nào?

Đọc Công vụ các Sứ đồ 2:41–47. Hình ảnh nào về hội thánh đầu tiên chúng ta thấy đây?

Công vụ các Sứ đồ đoạn 2 kết thúc với một bức tranh thật đẹp về hội thánh đầu tiên trông như thế nào. Công vụ các Sứ đồ 2:41 nói rằng những người chịu phép báp-têm được “thêm vào hội thánh.” Chúng ta có thể đọc điều này để nói rằng ai đó đã làm phép toán và cộng số tín đồ mới với số tín đồ hiện có và thiết lập tổng số thành viên mới cho nhóm. Nhưng đó là sự hiểu biết nông cạn. Ẩn trong từ ngữ là ý tưởng rằng những tín đồ mới được báp-têm này trở thành một phần của nhóm một cách bình đẳng.

Trong khi đó, một chức năng cốt lõi của hội thánh Cơ Đốc giáo đầu tiên là môn đồ hóa. Khi các thành viên mới được thêm vào, họ được môn đồ hóa theo ba cách. Thứ nhất, họ tiếp tục được dạy dỗ qua giáo lý và sự thông công của các sứ đồ. Các từ “giáo lý” và “thông công” trong bản văn này có nghĩa đen là “sự hướng dẫn” và “quan hệ đối tác.” Công việc rao giảng của các sứ đồ là đối đầu với những niềm tin sai lầm và đưa ra những lời giải thích mới cho những gì người ta đang thấy và trải nghiệm. Nhưng điều đó không dạy họ cách sống theo chân lý mới đó trong cuộc sống của họ. Thay vào đó, việc áp dụng lẽ thật vào cuộc sống của một người xảy ra trong mối quan hệ với tư cách là một phần của nhóm. Những tín đồ mới được môn đồ hóa một cách cẩn thận và có chủ ý thông qua việc giảng dạy trực tiếp, cũng như thông qua việc tham gia vào cuộc sống hàng ngày của các tín đồ khác, tất cả đều dưới sự giám sát và lãnh đạo của các sứ đồ trưởng thành và vững chắc về mặt thuộc linh.

Việc rao giảng chỉ cho người ta biết phải làm gì chứ không phải làm như thế nào là một bài giảng kém cỏi. Tuy nhiên, ngay cả khi một người đọc sách hướng dẫn hoặc nghe các bài giảng giải thích cách làm, thì cũng không thể thay thế việc nhìn thấy mọi người làm việc đó và sau đó bắt chước họ. Phao-lô biết điều này và hướng dẫn những người theo ông bắt chước ông như ông đã bắt chước Đức Chúa Giê-su (1 Cô-rinh-tô 11:1). Khi những người khác có thể nhìn thấy bạn và thực tế kinh nghiệm của bạn với Đấng Christ, điều đó cũng sẽ tác động đến họ.

THÁCH THỨC: Hãy nghĩ về một người nào đó trong cuộc sống của bạn mà bạn muốn họ trở thành tín đồ. Hãy cầu nguyện mỗi ngày để người ấy có được kinh nghiệm cá nhân với Đức Chúa Giê-su.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Bạn đang môn đồ hóa ai và dẫn dắt ai vào mối quan hệ với Đức Chúa Giê-su? Hãy tìm cách để đưa người ấy vào mối thông công với các tín đồ khác.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Công việc truyền giáo của chúng ta phải xuất phát từ tình yêu và lòng biết ơn sâu xa đối với những gì Đức Chúa Giê-xu đã và đang làm trong cuộc sống của chúng ta. Bất kỳ động lực nào khác là sai lầm. Luôn đắm chìm trong Lời Chúa và đồng điệu với Lời Chúa là chìa khóa để tiếp cận và truyền giáo thành công.

“Cuộc sống của chúng ta gắn liền với cuộc sống của Đấng Christ; chúng ta phải không ngừng thâu nhận từ Ngài, dự phần với Ngài, Bánh hằng sống từ trời xuống, rút ra từ nguồn luôn luôn tươi mới, luôn tuôn ra những kho tàng dư dật của nó. Nếu chúng ta luôn để Chúa ở trước mặt chúng ta, để tâm hồn chúng ta cảm tạ và ngợi khen Ngài, thì chúng ta sẽ có một sự tươi mới liên tục trong đời sống thuộc linh của mình. Những lời cầu nguyện của chúng ta sẽ có hình thức trò chuyện với Chúa như chúng ta nói chuyện với một người bạn. Ngài sẽ đích thân nói những mầu nhiệm của Ngài cho chúng ta. Thường thì chúng ta sẽ có một cảm giác vui mừng ngọt ngào về sự hiện diện của Đức Chúa Giê-su. Lòng của chúng ta sẽ thường xuyên nóng cháy khi Ngài đến gần để giao tiếp với chúng ta như Ngài đã làm với Ê-nóc. Khi thực sự đây là kinh nghiệm của Cơ Đốc nhân, thì người ta thấy trong đời sống của người ấy một sự đơn sơ, khiêm nhường, nhu mì và hạ mình xuất phát từ trong lòng, điều đó chứng tỏ cho tất cả những người mà người ấy kết giao thấy rằng mình đã ở với Đức Chúa Giê-su và học biết về Ngài.” —Ellen G. White, Christ’s Object Lessons, tr. 129, 130.

“Không thể nào có được sự tăng trưởng hay hiệu quả trong cuộc sống chỉ tập trung vào bản thân. Nếu bạn đã tiếp nhận Đấng Christ là Đấng Cứu Rỗi cá nhân, bạn phải quên chính mình và cố gắng giúp đỡ người khác. Nói về tình yêu thương của Đấng Christ, nói với [những người khác về sự hy sinh của Ngài vì lợi ích của họ]. . . . Khi bạn nhận được Thánh Linh của Đấng Christ—Thánh Linh của tình yêu thương vị tha và sự lao nhọc vì người khác—bạn sẽ lớn lên và đơm hoa kết trái. . . . Đức tin của bạn sẽ gia tăng, niềm tin chắc chắn của bạn sẽ sâu sắc hơn, tình yêu thương của bạn sẽ trở nên trọn vẹn.”—Christ’s Object Lessons, tr. 67, 68.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Bạn hiểu thế nào về những lời của Phao-lô trong thư Phi-líp về việc Đấng Christ được rao giảng vì lòng đố kỵ, tranh chấp hoặc tham vọng ích kỷ? Làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn rằng chính chúng ta không phạm tội khi làm điều đó?

  2. Kinh nghiệm cá nhân của bạn về thực tại của Chúa và tình yêu của Chúa là gì? Nghĩa là, dựa trên kinh nghiệm của bản thân, bạn có thể rao giảng cho người khác một cách chân thành và trung thực về lòng tốt và tình yêu thương của Đức Chúa Trời không? Lời chứng của bạn sẽ là gì?

  3. Kinh nghiệm của bạn trong việc trông đợi Chúa là gì, và điều đó đã dạy bạn điều gì về việc tin cậy nơi Ngài và về đức tin nói chung?

Bài Học 5, 28 Tháng 10 — 3 Tháng 11

Trốn Tránh Sứ Mạng

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU:Giô-na 1–4; Na-hum 1:1; 2 Các Vua 17:5, 6; Thi Thiên 24:1; Gia-cơ 1:27; Ê-sai 6:1–8.

CÂU GỐC:“Đoạn, tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa rằng: Có tôi đây; xin khãy sai tôi” (Ê-sai 6:8).

Đọc Na-hum 1:1; Na-hum 3:1–4; và 2 Các Vua 17:5, 6; 2 Các Vua 19:32–37. Các câu này bày tỏ điều gì về Ni-ni-ve và mối quan hệ giữa A-si-ri và Y-sơ-ra-ên? Mối quan hệ này có thể đã tác động thế nào đến quyết định đi Ta-rê-si của Giô-na?

Một trong những lý do Giô-na có thể không muốn đến Ni-ni-ve là vì sợ. Người A-si-ri là một kẻ thù ghê gớm, và Ni-ni-ve là thủ đô của vương quốc ấy.

“Trong số các thành phố của thế giới cổ đại vào thời Y-sơ-ra-ên bị chia đôi, một trong những thành phố vĩ đại nhất là Ni-ni-ve, thủ đô của vương quốc A-si-ri. . . .Vào thời thịnh vượng dầu chỉ ngắn ngủi của nó, Ni-ni-ve là trung tâm của tội ác và sự tà ác. Lời được soi dẫn đã mô tả nó là ‘thành phố đẫm máu, . . .đầy dẫy dối trá và trộm cướp.’ Bằng ngôn ngữ tượng hình, nhà tiên tri Na-hum đã so sánh dân Ni- ni-ve với một con sư tử hung ác và háu ăn. Ông hỏi, ‘Khốn thay cho thành đổ máu! Nó đầy dẫy những sự dối trá và cường bạo, cướp bóc không thôi . . . vì ai là kẻ chẳng từng chịu luôn sự hung ác của ngươi?’ Na-hum 3:1, 19.”—Ellen G. White, Prophets and Kings, tr. 265.

Ni-ni-ve là một thành phố tráng lệ. Các nhà sử học cho chúng ta biết rằng San-chê-ríp đã mở rộng thành phố rất nhiều, gồm cả việc xây dựng cung điện khổng lồ phía tây nam mà chỉ riêng nó đã đo được là 1,650 feet x 794 feet (503 x 242 mét) và có ít nhất 80 phòng. Ông ta cũng xây 18 con kênh để dẫn nước đến thành phố từ khoảng cách 40 dặm Anh (65 km). Chỉ kích thước của nó không thôi cũng thật đáng nể phục.

Nhưng người A-si-ri cũng rất tàn nhẫn. Trong các hồ sơ của mình về cuộc chinh phục Ba-by-lôn, San-chê-ríp đã khoe rằng ông ta đã chất đầy đường phố Ba-by-lôn bằng xác chết của dân cư thành đó, già và trẻ, và những bức phù điêu được tìm thấy trong quá trình khai quật mô tả cảnh binh lính hành quyết các nạn nhân. Đây không phải là những người mà bạn muốn đối mặt; họ không ngại ngần việc dùng bạo lực, và cũng tàn nhẫn vô cớ đối với những người họ không thích. Thật vậy, khi nghĩ đến việc đi giữa đám đông dân chúng ở Ni- ni-ve, hẳn Giô-na đã run sợ.

Bất chấp tất cả những điều này, chúng ta thường đọc câu chuyện của Giô-na với thái độ không tán thành vì ông ta đã để sự sợ hãi cản trở việc thực hiện những lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời. Điều mà chúng ta không nhận ra là chúng ta có thể làm điều tương tự, tức là để cho nỗi sợ hãi của mình thay vì để Đức Chúa Trời kiểm soát chúng ta.

Hãy nhớ lại thời điểm mà bạn cảm thấy mạnh mẽ rằng Chúa đang hướng dẫn bạn làm điều gì đó mà bạn thực sự không muốn làm vì sự sợ hãi. Những bài học bạn đã học được từ kinh nghiệm đó?

Khi cơn bão đến, Giô-na tự trách mình (Giô-na 1:1–12). Thái độ của ông ta cho chúng ta thấy được thế giới quan và sự hiểu biết về Đức Chúa Trời hay “các thần” mà nhiều người thời bấy giờ đã có. Trong khi họ tin rằng các vị thần khác nhau cai trị các vùng đất khác nhau của họ, thì biển được coi là vùng cai trị đầy hỗn loạn của các loài ma quái. Trong thế giới quan của những người đi biển, dâng của lễ hy sinh [hay con sinh tế] là cần thiết để xoa dịu cơn thịnh nộ của ma quỷ. Mặc dù Giô-na là người Hê-bơ-rơ, nhưng rất có thể, ông ta cũng có một thế giới quan chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống vào thời của ông.

Đọc Giô-na 2:1–3, 7–10. Các câu này tiết lộ điều gì về việc Giô-na bắt đầu hiểu sự quan phòng của Đức Chúa Trời như thế nào?

Mặc dù Giô-na đang chạy trốn khỏi khu vực mà người ta xưng nhận Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ, nhưng ông đã học được (một cách khó khăn) rằng ngay cả khi ông du hành đến các nền văn hóa nước ngoài, Đức Giê-hô-va vẫn có quyền tể trị. Sóng và gió thuộc về Chúa. Con cá cũng vậy. “Đất và muôn vật trên đất, thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 24:1). Trái tim của Giô-na đã hướng về Chúa tể của đất liền và biển cả, vì vậy ông đã xưng tội và được cứu.

Chúng ta cũng có thể có những hiểu lầm về Đức Chúa Trời và những gì Ngài kỳ vọng nơi chúng ta. Một sự hiểu lầm thông thường là nghĩ rằng Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta chỉ tập trung vào sự cứu rỗi của chính mình và cho chúng ta rời xa khỏi sự gian ác của thế giới xung quanh. Tuy chúng ta được hướng dẫn để giữ cho mình “khỏi sự ô uế của thế gian” (Gia-cơ 1:27), chúng ta nên tập trung vào cách mình có thể mang phước lành và hy vọng của Đức Chúa Trời đến cho những người có nhu cầu.

Một sự hiểu lầm khác khiến chúng ta không chấp nhận lời kêu gọi của Chúa để đi truyền giáo là tin rằng thành công phụ thuộc vào chính cá nhân mình. Chúng ta không thể cứu một linh hồn nào hơn Giô-na có thể cứu Ni-ni-ve. Chúng ta có thể có một ý tưởng mình là “cứu tinh” về sứ mạng. Sự kêu gọi cho chúng ta không phải là làm sự cứu rỗi mà là hợp tác với Đức Chúa Trời trong công việc cứu rỗi của Ngài. Chúng ta làm chứng ngợi khen Đức Chúa Trời về những cách cụ thể mà Ngài đang thay đổi chúng ta, nhưng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể kéo người ta đến với Ngài. Chúng ta có thể gieo hạt giống chân lý, nhưng chỉ có Chúa mới hoán cải được tâm hồn. Chúng ta thường lẫn lộn vai trò của mình với vai trò của Chúa, điều này đủ để khiến bất kỳ ai cũng tìm cớ để không làm chứng. Đúng, Đức Chúa Trời đã dùng Giô-na, nhưng chỉ có Đức Chúa Trời, không phải Giô-na, đã xoay chuyển Ni-ni-ve.

Cứu linh là điều khó, quá khó để con người có thể tự mình làm được. Thay vào đó, làm thế nào chúng ta có thể học cách để Chúa chinh phục các linh hồn qua chúng ta, qua đời sống và sự làm chứng của chúng ta?

Kinh nghiệm của Giô-na trong bụng cá (xem Giô-na 2) là một sự thể hiện tuyệt vời về tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, và lời cầu nguyện của Giô-na bày tỏ rằng ông đã không bỏ lỡ sứ điệp yêu thương của Đức Chúa Trời. Nhưng chỉ vì ông đã có một cuộc gặp gỡ phi thường với Đức Chúa Trời không có nghĩa là những thói quen hay thái độ suy nghĩ cũ của ông sẽ dễ dàng thay đổi, mặc dù ông đã đến Ni-ni-ve.

Đọc Giô-na 3. Dân chúng phản ứng thế nào trước những gì Giô-na rao giảng? Chúng ta có những bài học nào về việc làm chứng?

Bất kể cảm xúc cá nhân của Giô-na về dân Ni-ni-ve, ông đã rao giảng những gì Đức Chúa Trời bảo ông làm, và kết quả thật đáng kinh ngạc. Dân Ni-ni-ve cảm động ăn năn! Vâng, Giô-na đã phải trải qua rất nhiều, để làm điều mà ông không muốn làm, nhưng khi ông làm điều đó, Đức Chúa Trời đã được vinh hiển.

Vì vậy, sứ mạng của Đức Chúa Trời được thực hiện trên vai của những người sẵn sàng hy sinh, ngay cả khi miễn cưỡng. Các giá trị của chúng ta phải nhường chỗ cho sự ưu tiên của Đức Chúa Trời dành cho những người hư mất. Giống như Giô-na, đôi khi chúng ta nuôi dưỡng những thành kiến khiến mình không thể tiếp cận với một người hoặc một nhóm người.

Khi đối mặt với những định kiến đòi hỏi chúng ta phải khiêm tốn. Sứ mạng cũng đòi hỏi thời gian và tình cảm dồi dào. Đầu tư vào cuộc sống của người khác và thực sự quan tâm đến họ có thể thật mệt mỏi. Trong thời đại mà chúng ta căng thẳng với cuộc sống và các vấn đề của cá nhân mình, việc hỗ trợ tình cảm dường như quá mệt mỏi.

Và cuối cùng, việc tham gia vào sứ mạng thường đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách chúng ta cảm nhận và sử dụng tiền bạc của mình. Cho dù liên quan đến việc chăm sóc người khác, mua sách và tài liệu tiếp cận cộng đồng, hoặc trả tiền cho các dịch vụ hoặc tiện nghi để có thời gian rảnh cho công việc truyền giáo, đều có những chi phí liên quan đến truyền giáo. Dù nó có thể xảy ra dưới hình thức nào, công việc truyền giáo đòi hỏi sự hy sinh.

Tin tốt là bất chấp những khuyết điểm của Giô-na, Đức Chúa Trời đã hành động mạnh mẽ để khiến dân Ni-ni-ve ăn năn. Đáng buồn thay, Giô-na đã không chia sẻ niềm vui của thiên đàng.

Đức Chúa Trời yêu cầu bạn hy sinh gì—hoặc sẵn sàng thực hiện— để chia sẻ tình yêu của Ngài với người khác? Bạn hoàn toàn tin tưởng như thế nào rằng Ngài sẽ thực hiện lời hứa của Ngài để làm phong phú cuộc sống của bạn thông qua sự hy sinh?

“Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi cầu xin Ngài, ấy há chẳng phải là điều tôi đã nói khi tôi còn ở trong xứ tôi sao? Vì đó nên tôi lật đật trốn qua Ta-rê-si vậy. Bởi tôi biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn, và đổi ý không xuống tai vạ” (Giô-na 4:2). Đúng là một lời cầu nguyện đẹp đẽ của Giô-na. Đúng vậy không?

Đọc Giô-na 4. Điều bất thường nào về con người này?

Giô-na có lòng căm thù sâu đậm đối với những người mà Đức Chúa Trời sai ông đến, đến nỗi ông cảm thấy thà chết còn hơn bị mất mặt khi thất bại trong việc rao giảng về ngày tận thế chống lại Ni-ni-ve rốt lại không xảy đến. Giô-na muốn Ni-ni-ve mang cùng mộ số phận như Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Ông ta đang hy vọng sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên những người bị ghét bỏ này. Khi điều đó không xảy ra, thế giới quan của ông đã bị lung lay đến tận cùng, và Giô-na thà chết chứ không để thế giới của mình bị đảo lộn.

Lần thứ hai trong câu chuyện về Giô-na, Đức Chúa Trời đối diện với ông, không phải bằng một bài giảng hay một câu nói mà bằng một kinh nghiệm. Thế giới quan không được hình thành theo yêu cầu. Chúng cũng không thay đổi bởi vì chúng ta nghe thấy điều gì đó mới mẻ hoặc khác biệt. Thế giới quan thường được hình thành và thay đổi dựa trên kinh nghiệm sống và cách chúng được hiểu hoặc giải thích.

Trải nghiệm mới mà Chúa ban là giúp Giô-na nhận ra thế giới quan méo mó của chính mình. Đức Chúa Trời làm cho một cây lớn lên một cách thần kỳ trong một ngày để có đủ bóng mát che Giô-na khỏi ánh nắng chói chang. Giô-na biết ơn, không phải vì Chúa, Đấng đã thực hiện phép lạ, mà vì cái cây. Thay vì coi đây là một phép lạ không đòi hỏi sự xứng đáng của mình, ông ta coi đó là một phước lành thích hợp và xứng đáng theo sau những việc làm tốt của mình. Khi cái cây chết, đó là một điều không may đã khiến Giô-na trở nên tức giận và bất an về giá trị bản thân, và tư tưởng ông nảy sinh ý định tự tử.

Sau kinh nghiệm này là tiếng sửa dạy nhẹ nhàng của Đức Chúa Trời, giúp Giô-na thấy rằng thật dại dột khi ông coi trọng một cái cây hơn sinh mạng của hàng ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ em ở Ni-ni-ve, cũng như các loài thú họ có.

Câu chuyện không kết thúc bằng sự ăn năn của Giô-na. Thay vào đó, câu chuyện còn dang dở xoay quanh chúng ta. Chúng ta sẽ làm gì trước sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với kẻ ác, kẻ bắt nạt, đối với những người chưa được tiếp cận trên toàn cầu?

Câu chuyện của Giô-na không chỉ là một câu chuyện lạ thường. Việc Đức Chúa Trời có thể cứu dân Ni-ni-ve bất chấp lời chứng kém cỏi của Giô-na là một lời nhắc nhở rõ ràng rằng vai trò của chúng ta chỉ là làm cầu nối cho Đức Chúa Trời, Đấng duy nhất có thể cáo trách và hoán cải lòng người. Đó là một lời nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời chỉ tìm kiếm những sứ giả sẵn lòng và chịu hạ mình, những người sẽ tuân theo sự hướng dẫn của Ngài.

Đọc Ê Sai 6:1–8. Ý tưởng chính thể hiện trong phần Kinh Thánh này là gì?

Sự kêu gọi đã có rồi. Chúa đang tìm kiếm những tình nguyện viên sẵn sàng. Chúng ta phải đáp lại lời kêu gọi đó bằng cách phục tùng sự lãnh đạo của Ngài, lắng nghe tiếng nói của Ngài và sau đó chọn tuân theo bất cứ điều gì Ngài phán bảo chúng ta.

Câu chuyện về Giô-na cũng bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho những người sống ở nơi mà tình yêu của Ngài không được người ta biết đến hay cảm nhận và tiếng của Ngài không được lắng nghe. Giống như Đức Chúa Trời đã thương xót Ni-ni-ve, Ngài thương xót hàng triệu dân cư ở các thành phố ngày nay, nơi các tòa nhà thay thế cây cối và hoa lá, và tiếng ồn liên tục khiến người ta khó có thể yên lặng và lắng nghe. Về Ni-ni-ve Đức Chúa Trời phán, họ “không biết phân biệt tay hữu hay tay tả” (xem Giô-na 4:11). Đức Chúa Trời cần những sứ giả sẵn sàng mang sứ điệp hy vọng của Ngài đến cho những người đang chìm ngập trong sự bận rộn và xấu xa của cuộc sống.

Tiên tri Ê-sai nghe một tiếng gọi với câu hỏi, “Ai sẽ đi?” Phần bạn, phản ứng của bạn sẽ là gì?

THÁCH THỨC: Hãy lập một danh sách 10 người mà bạn biết họ không phải là người tin Chúa. Viết tên họ trên một tờ giấy trắng hoặc trong nhật ký cầu nguyện của bạn. Chúng ta hãy tạm gọi họ là “môn đệ” của bạn. Hãy giữ danh sách này bên mình, và trong thời gian còn lại của ba tháng này, hãy cầu nguyện hàng ngày cho mỗi người trong số 10 môn đệ ấy của bạn. Hãy cầu nguyện để Chúa giúp bạn trở thành bạn không xa lạ với với những người mình chỉ quen sơ. Hãy cầu nguyện để bạn có thể phát triển tình bạn sâu sắc hơn, gần gũi hơn, đáng tin cậy hơn với những người bạn bình thường của mình. Khi bạn làm các mối quan hệ của mình thân tình hơn, hãy cẩn thận quan sát và lắng nghe để bạn có thể xác định những nhu cầu, tổn thương và nỗi đau cụ thể của họ. Sau đó cầu nguyện rằng Đức Chúa Trời sẽ gặp họ trong lãnh vực họ có nhu cầu ấy.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Chọn một thành phố gần bạn cũng như một thành phố ở nơi khác trên thế giới. Bắt đầu cầu nguyện cho những người sống và làm việc trong mỗi nơi ấy. Hãy cầu xin rằng Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một sự hiện diện mạnh mẽ của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm để có thể chia sẻ lẽ thật mà chúng ta biết—lẽ thật về sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Ellen G. White có lời cảnh báo mạnh mẽ cho những ai đang phấn đấu đi theo tiếng gọi của Chúa Giê-su để làm chứng cho những người xung quanh. 

“Nhiều người bào chữa hoặc biện hộ cho việc không làm công việc của Chúa không làm trách nhiệm của họ thuyên giảm, và nếu họ chọn không làm công việc này, họ đã bỏ bê những linh hồn mà Đấng Christ đã chết cho họ, bỏ bê trách nhiệm mà Đức Chúa Trời đã giao cho họ, và tên họ đã ghi vào danh sách của thiên đàng là những người đầy tớ bất trung. Những người làm sứ giả cho Chúa có làm việc như Thầy mình đã làm, để trở thành sức mạnh và phước lành cho tha nhân, khi họ đóng sập cửa đối với những người cần sự giúp đỡ của họ không? Họ có phải là sức mạnh và phước lành cho người khác không? Những người từ chối quan tâm đến người khác trở nên ích kỷ. Điều gì sẽ giúp họ thay đổi? Họ cần dành thời gian cho anh chị em để họ hiểu được tâm tư, nỗi lòng của họ. Khi đó họ sẽ biết cách chăm sóc dân sự của Đức Chúa Trời. Họ sẽ ban cho dân Chúa những thứ họ cần nhất vào thời điểm cần nhất. Những người không làm công việc này cho thấy rằng họ cần phải thay đổi. Khi làm như vậy, họ sẽ hiểu rằng họ đã không làm tròn phần công việc của Đức Chúa Trời.”—Ellen G. White, The Advent Review and Sabbath Herald, ngày 30 tháng 8 năm 1892.

Nghiên Cứu Bổ Túc: Ellen G. White có lời cảnh báo mạnh mẽ cho những ai đang phấn đấu đi theo tiếng gọi của Chúa Giê-su để làm chứng cho những người xung quanh.

Tuy đây là những lời rất mạnh mẽ cho chúng ta thấy tầm quan trọng mà Đức Chúa Trời đặt trên sứ mạng của Ngài, nhưng chúng ta phải nhớ rằng chúng ta không phải là không có hy vọng. “Đức Chúa Trời đã giao cho Giô-na một công tác quan trọng. Trách nhiệm của công việc ấy quá nặng nề cho Giô-na. Đấng đã sai Giô-na ra đi có đủ quyền năng để chăm sóc Giô-na và giúp ông thành công. Nếu Giô-na vâng lời Đức Chúa Trời mà không thắc mắc, Giô-na đã tránh được nhiều kinh nghiệm cay đắng. Đức Chúa Trời cũng sẽ ban phước cho Giô-na qua nhiều cách. Tuy nhiên, trong giờ phút tuyệt vọng của Giô- na, Chúa đã không bỏ rơi ông. Trải qua một loạt thử thách và những sự sắp đặt kỳ lạ, niềm tin của nhà tiên tri nơi Đức Chúa Trời và quyền năng cứu rỗi vô hạn của Ngài đã được hồi sinh trong ông.”—Ellen G. White, Prophets and Kings, tr. 266.

Cũng giống như Giô-na, chúng ta có thể dễ dàng bào chữa cho việc không tham gia truyền giáo. Động lực chúng ta có cho các viện cớ này có thể là một trong số rất nhiều. Tuy nhiên, tiếng gọi truyền giáo của chúng ta cũng cụ thể không kém tiếng gọi của Giô-na. Câu hỏi đặt ra là bạn sẽ chọn cách trả lời như thế nào.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Bạn đã viện cớ nào để không tham gia truyền giáo? Ni-ni-ve của bạn là gì?

  2. Hãy suy nghĩ về lẽ thật quý giá biết bao mà chúng ta, những tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm, có được. Hãy nghĩ xem bạn thật may mắn biết bao khi có được những lẽ thật này. Điều gì đang cản trở bạn chia sẻ với người khác những gì chúng ta vô cùng yêu thích?

  3. Bằng cách nào bạn có thể học hỏi nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, để vượt qua bất kỳ nỗi sợ hãi nào mà bạn có thể có về việc làm chứng và truyền giáo?

Bài Học 4, 21 Tháng 10 — 27 Tháng 10, 2023

Sứ Mạng Truyền Giáo

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 18; Gia-cơ 5:16; Rô-ma 8:34; Hê-bơ-rơ 7:25; Sáng thế Ký 19:1–29; Sáng thế Ký 12:1–9.

CÂU GỐC: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ” (Ma-thi-ơ 28:19).

Đọc Sáng thế Ký 18:1–15. Những yếu tố nào của lòng hiếu khách được thể hiện trong phản ứng của Áp-ra-ham đối với khách viếng của ông?

Áp-ra-ham đang ngồi ở cửa lều của mình trong cái nóng của ban ngày. Đây là một hành động khá bất thường. Vào thời điểm đó trong ngày vào mùa hè, khi mặt trời lên đến đỉnh điểm, mọi người đều tìm kiếm bóng râm và một làn gió mát. Nhưng, có lẽ, Áp-ra-ham đã sẵn lòng chịu đựng cái nóng hầu giúp đỡ bất cứ ai có thể đi ngang qua.

Khi ngồi ở đó, ông nhìn thấy ba người lữ hành. Ông có thể có thói quen là tiếp đãi khách lạ. Đây là lý do cuộc gặp gỡ được chủ động từ Áp-ra-ham: trong lời Kinh Thánh được kể, ông chạy về phía họ từ lối vào lều của mình. Điểm này rất là quan trọng: Áp-ra-ham đã chủ động gặp họ ngay cả trước khi họ đến với ông.

“Xin các đấng hãy cho phép người ta lấy chút nước rửa chân các đấng, và xin hãy nằm nghỉ mát dưới cội cây nầy. Tôi sẽ đi đem một miếng bánh cho các đấng ăn vững lòng, rồi sẽ dời gót lên đường; vì cớ ấy, nên mới quá bộ lại nhà kẻ tôi tớ các đấng vậy” (Sáng thế Ký 18:4, 5).

Áp-ra-ham ý thức sứ mạng của mình, đó là chia sẻ cho mọi người sự hiểu biết về Chúa trong một thế giới đang lặn ngụp trong tà giáo, thờ hình tượng và đa thần. Như chúng ta có thể thấy trong sự việc này, cách trực tiếp nhất để hoàn thành sứ mạng cứu linh của ông là bởi lòng hiếu khách đối với những người lạ này, những người dường như vừa xuất hiện ở chân trời.

Trong khi đó, “gia cang của Áp-ra-ham có cả hơn ngàn người, nhiều người trong số đó là gia trưởng của gia đình họ, và không ít là những người mới cải đạo từ tà giáo. Một đại gia cang như vậy đòi hỏi phải có một bàn tay vững vàng điều hành. Một bàn tay yếu ớt, dễ dao động làm sao có thể kham nổi. . . .Và Áp-ra-ham cũng để tầm ảnh hưởng của mình nới rộng ra ngoài gia đình ông. Hễ đến một trạm dừng chân nào mà ông dựng lều, thì ông lập bàn thờ thờ phượng Đức Chúa Trời và để dâng của lễ cho Ngài. Khi lều được dỡ bỏ, bàn thờ vẫn còn; và nhiều người Ca-na-an đi ngang qua đấy, có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời nhờ đời sống của Áp-ra-ham, tôi tớ của Ngài, và họ cũng đã nán lại bàn thờ đó để dâng của-lễ cho Đức Giê-hô- va.”—Ellen. G. White, Education, tr. 187.

Ngay từ đầu, Áp-ra-ham đã hiểu rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông để thi hành sứ mạng truyền giáo, và việc ông đi đến Đất Hứa không phải để đi nghỉ mát mà là để mang lại phước lành cho những người chung quanh ông và qua dòng dõi của ông, cho cả thế gian.

Các nguyên tắc nào về tấm gương hiếu khách của Áp-ra-ham mà bạn có thể noi theo trong cuộc sống của mình?

Đọc Sáng thế Ký 18:16–33. Làm thế nào Áp-ra-ham thể hiện đức tính yêu thương cao cả đối với mọi người mà không phân biệt chi phái, chủng tộc hay dân tộc?

Phẩm chất thứ hai của Áp-ra-ham được rút ra từ Sáng thế Ký đoạn 18 là tình yêu thương của ông dành cho mọi người, ngay cả đối với những người mà ông không quen biết. Đây là một bài học lớn cho mỗi chúng ta. Dân cư của hai thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ là những kẻ tội lỗi, khác xa các giá trị của ông, nhưng trái tim ông tràn đầy tình yêu thương dành cho mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.

Sau đó, Đức Chúa Trời tiết lộ cho Áp-ra-ham quyết định của Ngài là hủy diệt các thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ. “Đức Giê-hô-va phán rằng: Tiếng kêu oan về Sô-đôm và Gô-mô-rơ thật là quá, tội lỗi các thành đó thật là trọng. Ta muốn ngự xuống, để xem xét chúng nó ăn ở có thật như tiếng đã kêu thấu đến ta chăng; nếu chẳng thật, thì ta sẽ biết” (Sáng thế Ký 18:20, 21).

Với sự hạ mình và tôn kính, Áp-ra-ham đã cầu xin Đức Chúa Trời: “Không lẽ nào Chúa làm điều như vậy, diệt người công bình luôn với kẻ độc ác; đến đỗi kể người công bình cũng như người độc ác. Không, Chúa chẳng làm điều như vậy bao giờ! Đấng đoán xét toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?” (Sáng thế Ký 18:25).

Bởi lòng yêu thương của mình, Áp-ra-ham trông mong sẽ cứu được tất cả những người trong các thành phố này, không phải chỉ cho những người công chính không thôi. Chắc chắn, Áp-ra-ham biết những người sống ở đó độc ác và gian ác như thế nào. Chúng ta không biết các câu chuyện về cư dân hai thành ấy và đời sống họ là thế nào mà Áp-ra-ham nghe được. Nhưng từ những gì chúng ta biết về các dân ấy, như đã được ghi lại trong chương kế tiếp của sách Sáng thế Ký, với câu chuyện kinh tởm về đám đông bên ngoài nhà Lót (xem Sáng thế Ký 19:1–11), thì họ quả là những con người rất ác.

Tuy nhiên, Áp-ra-ham, tự mình biết được tình yêu của Đức Chúa Trời, đã kêu cầu Ngài cho họ. Áp-ra-ham biết rằng con người luôn luôn có thể trở về với Đức Chúa Trời trong sự ăn năn. Đối với Áp- ra-ham, việc cứu cư dân của những thành phố này sẽ cho họ cơ hội ăn năn.

Cuối cùng, Áp-ra-ham dâng lời cầu xin của mình dựa trên những gì cá nhân ông biết về tình yêu thương Đức Chúa Trời có cho nhân loại. Bản thân ông, ông có lòng yêu thương với những người tội lỗi, và ông biết rằng bao lâu còn có sự sống thì còn có hy vọng được cứu rỗi.

Tại sao lời cầu thay lại rất quan trọng trong đời sống cầu nguyện của chúng ta? Làm thế nào việc cầu nguyện cho những người đang gặp khó khăn có thể giúp chúng ta trưởng thành về mặt thuộc linh và kinh nghiệm nhiều hơn về thực tế tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho tội nhân?

Đọc Sáng thế Ký 18:23–32 và Gia-cơ 5:16. Chúng ta học được điều gì về quyền năng của lời cầu thay?

Cuộc đối thoại giữa Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời là hình thức hoặc sự tượng trưng của lời cầu thay. Áp-ra-ham được trình bày trong chương này với tư cách là người cầu thay trước mặt Đức Chúa Trời cho dân thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Ông đang cầu xin cho họ, cầu thay cho họ; nghĩa là, theo một cách nào đó, ông hành động như một hình bóng, một biểu tượng về Đức Chúa Giê-su với tư cách là Đấng Cầu Thay cho chúng ta trước mặt Đức Chúa Cha. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay sẽ chỉ thành công nếu chúng ta xúc tiến với những loại cầu nguyện này.

Áp-ra-ham đã học cách yêu thương cư dân của Sô-đôm, Gô-mô- rơ và các thành lân cận khác. Đây là lý do vì sao lời cầu nguyện của ông là trung thực và chân thành. Ông ta đã chiến đấu chống lại một số các vua từ các nơi khác đã bao vây và đánh bại các vua của Sô- đôm và Gô-mô-rơ. Sau chiến thắng của Áp-ra-ham, Bê-ra, Vua của Sô-đôm, đến gặp Áp-ra-ham và Mên-chi-xê-đéc. Bê-ra xin cho dân của thành mình được trở về nhà của họ: “Hãy giao người lại cho tôi, nhưng hãy giữ lấy của cải cho ông’” (Sáng thế Ký 14:21). Đây là một dấu hiệu cho thấy tình yêu của vì vua này đối với người dân của mình. Và bởi vì một trong những đức tính tuyệt vời của Áp-ra-ham là lòng yêu thương, ông yêu mến các vị vua của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, và ông cầu nguyện cho họ và dân tộc của họ. “Tình yêu dành cho những linh hồn hư mất đã mang cảm hứng cho lời cầu nguyện của Áp-ra- ham.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 140.

Áp-ra-ham đã thể hiện sự hạ mình và nhẫn nại trong lời cầu nguyện của mình. Ngay sau khi Đức Chúa Trời chấp nhận yêu cầu đầu tiên, để cứu thành phố miễn là 50 người công chính đang sống ở đó, ông ta vẫn cứ tiếp tục cầu thay.

Sứ mạng của chúng ta không thể thành công nếu không có lời cầu nguyện và lời cầu thay. Sau khi gặp gỡ ai đó, sau khi giảng hay học hỏi Kinh Thánh, chúng ta phải cầu nguyện cho những người mình tiếp xúc. Đức Chúa Trời quan tâm đến những lời cầu nguyện này bằng cách chạm đến lòng của những người mà chúng ta tiếp xúc. Không phải lời nói hay tài hùng biện của chúng ta sẽ cải đạo bạn bè hay người quen của chúng ta—mà chính là Đức Thánh Linh. Đây là lý do tại sao trong bất kỳ sứ mạng nào mà chúng ta đang tham gia, chúng ta phải cầu nguyện cho từng cá nhân.

Đọc Rô-ma 8:34 và Hê-bơ-rơ 7:25. Các câu này cho chúng ta biết gì về những gì Đức Chúa Giê-su làm cho chúng ta, và lẽ thật này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn vai trò của mình như thế nào với tư cách là người cầu thay cho người khác?

Đọc Sáng thế Ký 19:1–29. Kết quả của tinh thần hiếu khách, yêu thương và cầu nguyện của Áp-ra-ham là gì?

Các câu Kinh Thánh này cho chúng ta một dấu hiệu thú vị về địa vị của Lót tại thành Sô-đôm: “Lót đang ngồi ở cổng thành Sô-đôm” (Sáng thế Ký 19:1). Điều này có nghĩa là ông là một nhân vật quan trọng trong thành phố, chắc chắn là một viên chức, bởi vì ngồi ở cổng là đặc ân của các quan lại, quan xét và vua chúa (2 Sa-mu-ên 19:8, Giê-rê-mi 38:7, Ru-tơ 4:1).

Sáng thế Ký đoạn 19 gần như song song với đoạn 18 và câu chuyện về các thiên sứ với Áp-ra-ham. Áp-ra-ham và Lót mỗi người đang ngồi ở lối vào hoặc cổng (Sáng thế Ký 18:1, Sáng thế Ký 19:1); Áp-ra- ham và Lót mỗi người đều mời những người khách lạ đến nghỉ tại nhà của họ (Sáng thế Ký 18:3, 4; Sáng thế Ký 19:2); Áp-ra-ham và Lót mỗi người chuẩn bị thức ăn cho những vị khách của họ (Sáng thế Ký 18:4–8, Sáng thế Ký 19:3). Dầu có lỗi lầm nào chăng nữa, thì dường như Lót cũng có một số đức tính tốt.

“Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó (Sáng thế Ký 19:24, 25).

Chúng ta không biết có bao nhiêu người đang sống ở các thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ vào thời điểm của lời tường thuật này, nhưng trong số hàng ngàn người này, chỉ có bốn người rời khỏi thành phố và chỉ có ba người được cứu. Trận lụt Sáng thế Ký cũng vậy. Chúng ta không biết có bao nhiêu người đang sống lúc đó, nhưng chúng ta biết rằng hầu hết họ không được cứu.

Số người nhỏ nhoi đã được cứu trong toàn số cư dân của Sô-đôm có ý nghĩa đối với sứ mạng của chính chúng ta: không phải ai cũng sẽ được cứu. Chúng ta muốn mọi người chấp nhận Đức Chúa Giê-su và chương trình cứu rỗi của Ngài, nhưng mỗi người đều có ý chí tự do. Nhiệm vụ của chúng ta là mời càng nhiều người càng tốt để họ có cơ hội chọn Đức Chúa Giê-su. Trong khi chúng ta thi hành sứ mạng, Đức Chúa Trời hỗ trợ chúng ta qua Đức Thánh Linh, nhưng Ngài không bao giờ làm trái ý muốn của bất cứ ai. Ý chí tự do có nghĩa là, cuối cùng, bất kể chúng ta làm gì, bất kể chúng ta cầu nguyện bao nhiêu, thì sự cứu rỗi vẫn đến từ sự lựa chọn của mỗi cá nhân.

Làm thế nào chúng ta có thể học cách không nản lòng nếu không nhìn thấy được cái kết quả như lòng mình mong muốn khi thực hiện công tác truyền giáo?

Đọc Sáng thế Ký 12:1–9. Các câu này dạy gì về việc tuân theo ý muốn của Đức Chúa Trời, ngay cả khi con đường phía trước dường như không rõ ràng?

Một trong những đức tính chính của Áp-ra-ham là vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Tất cả các kinh nghiệm của Áp-ra-ham với Đức Chúa Trời đều được biểu lộ rõ ràng sự thuận phục này.

Sự kêu gọi của Áp-ra-ham: Ông nhận được một lời kêu gọi đầy thách thức từ trên trời: “Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho” (Sáng thế Ký 12:1). Khi nghe thấy một tiếng nói từ trời, phản ứng đầu tiên của ông ta có thể là coi thường tiếng nói này, nghĩ rằng mình đang gặp ảo giác. Hoặc ông ta có thể thách thức thông điệp ấy, trả lời, có thể là, Tôi không muốn đi; Tôi thích chỗ tôi đang ở. “Đến xứ ta sẽ chỉ cho” nghe quả là mơ hồ và kỳ lạ về một nơi chốn ông phải đến! Nhưng Áp-ra-ham đã nhận lời kêu gọi ấy. Ông quy phục ý muốn của mình theo ý muốn của Đức Chúa Trời và rời bỏ gia đình và xứ sở của cha mình: “Rồi, Áp-ram đi, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dạy” (Sáng thế Ký 12:4).

Lựa chọn vùng đất: Một cuộc cãi vã và tranh chấp xảy ra giữa các gia nô của Lót và các gia nô của Áp-ra-ham, nhưng Áp-ra-ham không phải là người muốn giành giựt tranh đấu với người ruột thịt mình. Ông phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời, là Đấng ban phước cho ông một lần nữa: “Sau khi Lót lìa khỏi Áp-ram rồi, Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Hãy nhướng mắt lên, nhìn từ chỗ ngươi ở cho đến phương bắc, phương nam, phương đông và phương tây: Vì cả xứ nào ngươi thấy, ta sẽ ban cho ngươi và cho dòng dõi ngươi đời đời” (Sáng thế Ký 13:14, 15).

Sự hủy diệt của Sô-đôm và Gô-mô-rơ: Khi Đức Chúa Trời bày tỏ cho Áp-ra-ham biết số phận của hai thành này, Áp-ra-ham với lòng yêu thương đã cố gắng cứu chúng. Bởi vì dầu chỉ cần có mười người công chính trong hai thành ấy, cũng không có đủ nên hai thành đã bị tiêu diệt. Áp-ra-ham phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời và chấp nhận sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với Sô-đôm và Gô-mô-rơ.

Chúa đã có thể dùng Áp-ra-ham vì ông đầu phục Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta cũng cần phải giống như vậy ngày nay.

THÁCH THỨC: Tại các thành phố của chúng ta ngày nay, chúng ta đối diện với những trở ngại trong việc rao giảng phúc âm một cách thích hợp và hiệu quả. Chúng ta cần nài xin chúa can thiệp.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Tìm cách nối kết với ai đó đang bị ảnh hưởng trực tiếp bởi một tình huống khó khăn tương tự như của bạn. Hãy nói với người đó rằng bạn đang cầu nguyện cho họ và xin chúa chỉ cho bạn những gì bạn có thể làm để giúp đỡ.

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Tình yêu dành cho những linh hồn hư mất đã truyền cảm hứng cho lời cầu nguyện của Áp-ra-ham. Trong khi ghê tởm tội lỗi của thành phố bại hoại đó, ông mong muốn những kẻ tội lỗi có thể được cứu. Sự quan tâm sâu sắc của ông dành cho Sô-đôm cho thấy chúng ta nên cảm thấy lo lắng cho kẻ không ăn năn. Chúng ta nên ấp ủ sự căm ghét tội lỗi, nhưng thương xót và yêu thương những con người có tội. Chung quanh chúng ta là những linh hồn đang đi xuống đến sự hủy diệt vô vọng, khủng khiếp như những gì đã xảy ra với Sô-đôm. Mỗi ngày thời kỳ ân điển đang sắp dần kết thúc. Mỗi giờ có những người đang bước ra ngoài tầm với của lòng thương xót. Và đâu là những tiếng nói cảnh báo và van xin để bảo vệ tội nhân thoát khỏi sự diệt vong đáng sợ này? Đâu là những bàn tay vươn ra để kéo kẻ ấy trở lại từ cái chết? Những người khiêm nhường và đức tin kiên trì đang cầu xin Đức Chúa Trời cho kẻ ấy đang ở đâu?

“Tinh thần của Áp-ra-ham là tinh thần của Đức Chúa Cơ Đốc. Con Đức Chúa Trời chính là Đấng Cầu Thay vĩ đại thay cho tội nhân. Đấng đã trả giá cứu chuộc biết giá trị của linh hồn con người. Với sự đối kháng với cái ác duy chỉ có thể tồn tại trong một bản chất trong sạch không tì vết, Đấng Christ đã biểu lộ cho tội nhân một tình yêu thương mà chỉ có lòng nhân lành vô biên mới có thể có được. Trong nỗi thống khổ của sự đóng đinh, chính Ngài mang gánh nặng tội lỗi khủng khiếp của cả thế giới, Ngài đã cầu nguyện cho những kẻ phỉ báng và sát nhân Ngài: ‘Lạy Cha, xin tha thứ cho họ; vì họ không biết việc họ làm.’ Lu-ca 23:34.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 140.

“Áp-ra-ham được các quốc gia xung quanh tôn vinh là một ông hoàng hùng mạnh, một thủ lãnh khôn ngoan và có năng lực. Ông đã không đóng cửa của tầm ảnh hưởng mình với những người lân cận mình. Đời sống và cá tính của ông, tương phản rõ rệt với đời sống và tính cách của những người thờ thần tượng, đã cho thấy một ảnh hưởng đáng kể của một đức tin chân chính. Lòng trung thành của ông đối với Đức Chúa Trời là không lay chuyển, trong khi tính dễ mến và lòng nhân từ của ông đã truyền cảm hứng cho lòng tin và tình bạn và sự vĩ đại không suy mòn của ông khiến ông được kính trọng và tôn vinh.”—Patriarchs and Prophets, tr. 133, 134.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Những thí dụ nào khác từ Kinh Thánh cho chúng ta thấy một cá nhân đã hoàn tất sự kêu gọi của sứ mạng truyền giáo của mình? Còn Giăng Báp-tít thì sao? Bạn có xem ông ta có thành công trong sứ mạng mình không?

  2. Đọc Sáng thế Ký 19:30–36. Điều này cho chúng ta biết gì về cá tính của một số người được cứu khỏi Sô-đôm?

  3. Chúng ta có thể học được những bài học nào khác từ gương của Áp-ra-ham về sứ mạng và cách thực hiện sứ mạng?

  4. Hãy suy nghĩ về điều này: Bạn cho rằng sự cầu thay của Áp- ra-ham cho Sô-đôm và Gô-mô-rơ là thành công hay thất bại?

Bài Học 3, 14 Tháng 10 — 20 Tháng 10, 2023

Lời Kêu Về Sứ Mạng Truyền Giáo

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 11:1–9, Sáng thế Ký 12:1–3, Đa-ni-ên 9:24–27, Ma-thi-ơ 1:21, Sáng thế Ký 12:10–13:1, Công vụ các Sứ đồ 8:1–4, Công vụ các Sứ đồ 1:8.

CÂU GỐC: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ các Sứ đồ 1:8).

Để đến với người khác, Đức Chúa Trời dự định cho chúng ta vượt ra khỏi vùng thoải mái của mình. Mong muốn chỉ ở lại với đồng loại và chủng tộc hoặc xã hội của chúng ta có thể dẫn đến sự ích kỷ, thậm chí đó là điều tệ hại. Mối nguy hiểm này là một trong những bài học rút ra từ câu chuyện Ba-bên.

Đọc Sáng thế Ký 11:1–9. Ý định của mọi người là gì? Họ muốn làm gì, và tại sao Đức Chúa Trời lại cản trở điều đó?

Câu chuyện về những người ở Tháp Ba-bên cho thấy tham vọng lớn lao của họ. Họ đưa kế hoạch xây dựng một công trình đồ sộ— một thành phố và một tòa tháp không giống như một nơi nào khác trên thế giới có thể có được: “chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh” (Sáng thế Ký 11:4).

Ngày nay người ta có thường tìm cách làm như vậy không? Chúng ta thấy điều ấy thường xuyên trong bất kể lãnh vực nào, từ chính trị, nghệ thuật, kinh doanh, thậm chí là tôn giáo, . . . Có những người muốn tạo dựng tên tuổi cho mình. Cuối cùng, những nỗ lực của họ là vô ích và vô nghĩa biết bao. (Xem Truyền đạo 2:1–11.)

Kinh Thánh nói trong Sáng thế Ký 11:4 rằng những người này muốn xây tháp để tránh bị phân tán trên mặt đất. Họ muốn ở gần cùng nhau vì những lý do ích kỷ của riêng họ. Nhưng Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch khác.

Những người này cũng đã đồng lòng đoàn kết cho công việc này. Nhưng Chúa phán, “Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được” (Sáng thế Ký 11:6). Trên thực tế, kế hoạch đầy tham vọng này của người ta là xấu xa.

Tuy Kinh Thánh không nói điều đó một cách rõ ràng, nhưng Ellen White nói rằng họ không tin lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ không bao giờ hủy diệt trái đất bằng nước nữa (Sáng thế Ký 9:14, 15). Họ dự định xây dựng vì sự an toàn mà họ cảm nhận được hơn là tin cậy Lời Đức Chúa Trời. Dù động lực tối hậu của họ là gì chăng nữa, Đức Chúa Trời biết rằng ý định của họ không trong sáng mà chứa đầy tham vọng ích kỷ, và vì vậy Ngài đã ngăn cản họ đạt được những mục tiêu họ dự tính.

Có phải bạn là thành viên của một nhóm hoặc cộng đồng sắc tộc, và cảm thấy thoải mái hơn khi sống ở giữa họ, đúng không? Bạn có thể tương tác với những người khác không thuộc chủng tộc, dân tộc hoặc quốc tịch của bạn theo những cách nào?

Đọc Sáng thế Ký 12:1–3. Sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời cho Áp-ram là một lời kêu gọi đi truyền giáo theo cách nào?

Đức Chúa Trời yêu cầu Áp-ram (người mà sau này Ngài đổi tên thành Áp-ra-ham) rời bỏ quê hương và dân tộc của mình để đi đến một vùng đất khác. Tất cả đều nằm trong kế hoạch của Đức Chúa Trời nhằm sử dụng Áp-ra-ham như một phương tiện để hoàn thành các mục đích thiêng liêng của Ngài trên thế gian. Và Áp-ra-ham đã đi, theo Lời Chúa. Nếu Đức Chúa Trời có một kế hoạch cho bạn, thì đócóthểlàlờikêugọibạnrờibỏđạigiađìnhvàdântộccủamìnhđể đến một nơi mà Ngài đang mở ra cho bạn phục vụ Ngài, để bạn có thể trở thành nguồn phước cho người khác.

Đọc các câu Kinh Thánh sau đây. Mỗi câu nói gì về giao ước của Đức Chúa Trời, lời hứa của Ngài dành cho chúng ta?

Sáng thế Ký 3:15 _____________________________________

Sáng thế Ký 17:19 ____________________________________

Dân số Ký 24:17 ______________________________________

Ê-sai 9:6 ____________________________________________

Đa-ni-ên 9:24–27 ____________________________________

Ma-thi-ơ 1:21 _________________________________________

Từ những câu Kinh Thánh trên, rõ ràng là Đức Chúa Trời sẽ thực hiện lời hứa, được lập trong Vườn Ê-đen, rằng Một Đấng sẽ đến như một giải pháp cho vấn đề tội lỗi. Giải pháp này, Đức Chúa Giê-su Christ, Đấng Mê-si, đã đến từ dòng dõi của Áp-ra-ham và Y-sác (bởi Sa-ra). Hê-bơ-rơ 11:9 nói rằng Y-sác và Gia-cốp là người thừa kế lời hứa của ơn phước mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham.

Chúng ta không biết chính xác Áp-ra-ham đã biết hoặc hiểu bao nhiêu về cách Dòng Dõi đã hứa sẽ đến qua ông, dầu vậy ông cũng đã ra đi trong đức tin. “Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu” (Hê-bơ-rơ 11:8).

Thật là một tấm gương cho chúng ta!

Giả sử bạn được Đức Chúa Trời gọi để đi, “không biết” bạn sẽ đi đâu? Bạn trả lời thế nào, và tại sao?

Theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời, Áp-ra-ham đã vào xứ như Ngài đã truyền cho ông. Tuy nhiên, ngay từ đầu, mọi việc dường như không suôn sẻ mấy cho ông. Ông đến nơi Đức Chúa Trời bảo ông phải đi, nhưng theo Kinh Thánh, “lúc đó dân Ca-na-an đang ở trong xứ” (Sáng thế Ký 12:6)—những người ngoại giáo nổi tiếng tàn ác và hung bạo. Thảo nào mà ngay sau khi Áp-ra-ham đến đó, Chúa đã hiện ra với ông và phán, “Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất nầy!” (Sáng thế Ký 12:7). Chắc chắn Áp-ra-ham cần sự khích lệ! Dầu vậy mọi việc cũng còn nhiều gian nan!

Đọc Sáng thế Ký 12:10–13:1. Điều gì đã xảy ra với ông sau đó, và người của Đức Chúa Trời này đã mắc lỗi lầm gì?

Điều đó hẳn đã khiến ông nản lòng biết bao: từ bỏ cuộc sống thoải mái và rất có thể thịnh vượng ở quê hương, chỉ để ra đi, “không biết mình đi đâu” (Hê-bơ-rơ 11:8). Và một trong những điều đầu tiên ông phải đối diện là nạn đói! Nạn đói này tồi tệ đến nỗi ông phải rời bỏ nơi mà ông đã được Chúa bảo phải định cư và đến một nơi khác. Và sau đó mọi điều lại còn tồi tệ hơn nữa.

“Trong thời gian trú ngụ ở Ê-díp-tô [Ai Cập], Áp-ra-ham đã cho thấy bằng chứng rằng ông không tránh khỏi sự yếu đuối và bất toàn của con người. Khi che giấu sự thật rằng Sa-ra là vợ mình, ông đã phản bội sự chăm sóc của Đức Chúa Trời; ông đã bày tỏ sự thiếu đức tin cao cả và lòng dũng cảm vốn thường được nêu gương một cách cao quý trong cuộc sống của ông. . . . Do sự thiếu đức tin của Áp-ra- ham, Sa-ra bị đặt vào tình thế nguy hiểm. Vua Ai Cập, được tin về vẻ đẹp của nàng, đã đưa nàng vào cung điện của mình, định cưới nàng làm vợ. Nhưng CHÚA, với lòng thương xót bao la của Ngài, đã bảo vệ Sa-ra bằng cách mang sự đoán phạt đến với hoàng gia”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 130.

Chưa ai dám nói rằng công việc truyền giáo là dễ dàng, và bằng cách nói láo, bằng cách lừa dối, Áp-ra-ham chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn. May mắn thay, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời kiên nhẫn, và Ngài đã không bỏ rơi kẻ tôi tớ của Ngài vì lỗi lầm của ông, tuy đáng tiếc là đây không phải là điều duy nhất mà Áp-ra-ham vấp phạm. Nhưng cũng thật an ủi khi biết rằng ngay cả khi chúng ta lầm lỗi, nhưng nếu chúng ta bám lấy Chúa trong đức tin và sự quy phục, giống như Áp-ra-ham, thì không những sự vấp phạm, tội lỗi và lỗi lầm của chúng ta sẽ được tha thứ, mà Chúa vẫn có thể sử dụng chúng ta cho sứ mạng của Ngài.

Chúng ta có thể rút ra bài học nào từ câu chuyện của Áp-ram ở Ai Cập?

Đọc Công vụ các Sứ đồ 8:1–4. Trong hội thánh đầu tiên, điều gì đã khiến các tín đồ bị phân tán ra khỏi vùng an toàn của họ?

Cho đến thời điểm này, hội thánh đầu tiên vẫn chỉ ở vùng Giê-ru- sa-lem (hoặc trong lãnh thổ của người Do Thái và giữa vòng người Do Thái). Khi cuộc bắt bớ bắt đầu, trong đó có Sau-lơ, một người Do Thái sùng đạo và là một người Pha-ri-si, tích cực tham gia, hội thánh ở Giê-ru-sa-lem sau đó bị phân tán khắp xứ Giu-đê và Sa-ma- ri. Đức Chúa Giê-su đã tiên đoán trong Công vụ các Sứ đồ 1:8 rằng “các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê- ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri.” Lời tuyên bố này đã được ứng nghiệm, như được ghi trong Công vụ các Sứ đồ 8:4, rằng “những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành.”

Ngay cả sau khi hội thánh bắt đầu di chuyển ra bên ngoài Giê-ru- sa-lem, các tín đồ vẫn rao giảng trong các vùng của người Do Thái hoặc trong các khu dân cư người Do Thái trú ngụ ở các thành phố khác. Công vụ các Sứ đồ 11:19 chỉ ra rằng hội thánh đã bị phân tán đến tận Phoenicia (tức Lebanon ngày nay) và Cyprus, nhưng ở giai đoạn này họ không rao giảng sứ điệp cho bất kỳ ai khác ngoài người Do Thái. Các môn đệ của Đức Chúa Giê-su và hội thánh sơ khai không có ý định nhìn thấy dân ngoại, mà chỉ có người Do Thái, tìm đến với Chúa. Họ vẫn có những quan điểm rất hạn hẹp về sứ mạng của hội thánh.

Phi-e-rơ, một môn đồ của Đức Chúa Giê-su và là một trong những nhân vật hàng đầu của hội thánh đầu tiên, không thích mang sứ điệp phúc âm đến cho dân ngoại, ngay cả sau khi Phao-lô đã bắt đầu làm như vậy. Phi-e-rơ được biết đến như một sứ đồ cho những người được cắt bì (có nghĩa là người Do Thái) và Phao-lô là sứ đồ cho dân ngoại (Ga-la-ti 2:8). Ngay từ đầu, Phi-e-rơ thậm chí không muốn xuất hiện cùng với dân ngoại (Ga-la-ti 2:11, 12). Tuy nhiên, Chúa đã đưa Phi-e-rơ ra khỏi vùng an toàn của mình và thay đổi tấm lòng của ông. Ông bắt đầu hiểu về sứ mạng phúc âm thực sự đòi hỏi điều gì và cái chết của Đức Chúa Giê-su có ý nghĩa gì đối với toàn thế giới.

Đọc Công vụ các Sứ đồ 10:9–15, 28, 29. Sứ điệp mà Chúa ban cho Phi-e-rơ là gì, và trong thời đại của chúng ta, chúng ta phải áp dụng nguyên tắc này như thế nào vào công việc truyền giáo?

Đọc Công vụ các Sứ đồ 1:8. Đức Chúa Giê-su đã đưa ra nguyên tắc nào khi thực hiện công việc chia sẻ hoặc làm nhân chứng của Ngài cho thế giới?

Đây là nguyên tắc do chính Đức Chúa Giê-su đặt ra cho chúng ta thấy mình cần hành động như thế nào với tư cách là môn đồ của Ngài, là người có tin mừng để chia sẻ với người khác. Chia sẻ lẽ thật không phải là thuyết phục người khác rằng họ đã sai như thế nào, mà là chia sẻ về Đức Chúa Giê-su như được miêu tả trong thông điệp của ba thiên sứ trong Khải huyền 14:6–12.

Tuy nhiên, có một số nguyên tắc trong lời của Đức Chúa Giê-su trong Công vụ các Sứ đồ 1:8.

Trước hết, “các ngươi làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem.” Như chúng ta đã thấy (nhưng đáng để nhắc lại), chúng ta phải là nhân chứng của Ngài tại nơi mình đang cư trú. Điều này có thể bao gồm nhà riêng của mình, hội thánh của mình, khu phố và cả cộng đồng chúng ta đang sống. Chúng ta, trước tiên, cần phải là nhân chứng của Ngài ở nơi mình đang ở, trong khu vực mà Ngài đã đặt chúng ta từ đầu—nhà riêng hoặc nơi làm việc—và trở thành nhân chứng của Ngài cho những người kề cận chúng ta nhất. Đó có thể là gia đình thân thiết hoặc đại gia đình, người trong nhà thờ, đồng nghiệp, hàng xóm và cộng đồng.

Đôi khi người ta chỉ quan tâm đến việc đi đến một đất nước xa lạ và nền văn hóa xa lạ để làm nhân chứng cho Chúa. Nhưng họ không làm chứng cho những người xung quanh họ lúc này. Chúng ta nên bắt đầu từ nơi mình đang ở và tiến ra từ đó khi Chúa dẫn dắt chúng ta.

Kế tiếp, “Xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8). Một lần nữa, Đức Chúa Giê-su khẳng định thực tế rằng việc làm chứng liên quan đến việc vượt qua ranh giới văn hóa. Bắt đầu từ nơi chúng ta đang ở, chúng ta có thể được kêu gọi di chuyển đến các khu vực khác để tiếp cận với các nhóm xã hội, sắc tộc và tôn giáo khác nhau. Nếu tôi thuộc một nhóm dân tộc hoặc ngôn ngữ nào đó, tôi có thể làm chứng cho họ dễ dàng hơn nhiều vì có thể vượt qua những rào cản văn hóa tối thiểu. Ở một số khu vực trên thế giới, chỉ có một bộ tộc hoặc bộ lạc được đại diện trong khuôn khổ của hội thánh. Tuy nhiên, Đại Mạng Lệnh của Đức Chúa Giê-su nói với chúng ta rằng, với tư cách là nhân chứng của Ngài, việc bước ra khỏi vùng an toàn của chúng ta và đầu tư nguồn lực của chúng ta cho những nhóm người như vậy là rất quan trọng. Họ cũng cần thông điệp của phúc âm.

THÁCH THỨC: Xác định và lập danh sách những nhóm người có nhu cầu đặc biệt trong cộng đồng của bạn, những người mà hội thánh chưa nỗ lực tiếp cận.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Bắt đầu cầu nguyện cho một cơ hội trong tương lai gần để tham gia truyền giáo cho những người có nhu cầu đặc biệt.

Đọc Ellen G. White, “The Great Commission,” tr. 25–34, và “A Seeker for Truth,” tr. 131–142, trong The Acts of the Apostles.

“Trước khi về trời, Đấng Christ đã ủy nhiệm nhiệm vụ cho các môn đồ. Ngài nói với họ rằng họ phải là những người thi hành ý muốn của Ngài mà qua đó Ngài đã để lại cho thế giới những kho báu của sự sống đời đời. Các ngươi đã là nhân chứng cho cuộc đời hy sinh của ta vì thế gian, Ngài đã nói với họ như thế. Các ngươi đã thấy công lao của Ta vì Y-sơ-ra-ên. Và tuy dầu dân của Ta không đến cùng Ta để họ có được sự sống, tuy dầu các thầy tế lễ và những người cai trị đã làmchoTanhưhọđãnêulên,tuydầuhọđãtừchốiTa,nhưnghọvẫn sẽ có một cơ hội để chấp nhận Con của Đức Chúa Trời. Ngươi đã thấy rằng tất cả những ai đến với ta để xưng tội lỗi của họ, ta đều tiếp nhận họ không đòi hỏi gì cả. Kẻ nào đến với Ta, Ta sẽ không từ bỏ họ đâu. Với các ngươi, là môn đồ của Ta, Ta gửi thông điệp của lòng thương xót này cho các con. Nó cần được mang đến cho cả người Do Thái và Dân Ngoại—trước tiên là cho Y-sơ-ra-ên, sau đó là cho tất cả mọi quốc gia, ngôn ngữ và dân tộc. Tất cả những ai tin sẽ được quy tụ vào một hội thánh.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 27, 28.

Đại Mạng Lệnh rất rõ ràng: “Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân” (Ma- thi-ơ 28:19). Do đó, nó chắc chắn là đi đến những người khác, đặc biệt là các quốc gia khác.

“Mạng lệnh mang tin lành rao báo là hiến chương truyền giáo vĩ đại của vương quốc Đấng Christ. Các môn đồ phải sốt sắng làm việc cứu linh, đưa ra lời mời gọi của lòng thương xót đối với mọi linh hồn. Họ không đợi người ta đến với họ; họ phải đi đến với mọi người với thông điệp của họ.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 28.

“Có nhiều người trong thế giới của chúng ta đang đền gần vương quốc Đức Chúa Trời hơn chúng ta tưởng. Trong thế giới tội lỗi đen tối này, Chúa có nhiều viên ngọc quý, Ngài sẽ hướng dẫn các sứ giả của Ngài đến với họ. Khắp nơi đều có những người sẽ đứng lên vì Đấng Christ. Nhiều người sẽ đánh giá cao sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời hơn bất kỳ lợi thế nào của trần gian, và sẽ trở thành những người mang ánh sáng trung thành.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostles, tr. 140.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Bạn định nghĩa cụm từ “sứ mạng cứu linh” như thế nào khi bạn áp dụng nó vào cuộc sống của mình?

  2. Hàng ngày, bạn có thể thể hiện sứ mạng của Chúa trong thái độ và hành vi của mình bằng những cách nào? Làm thế nào để bạn có thể quan tâm đến sứ mạng hơn trong các công việc hàng ngày của mình?

  3. Việc chúng ta xem xét lòng mình và tìm kiếm quyền năng từ trên cao để loại bỏ thành kiến đối với những người không giống mình quan trọng như thế nào?

Bài Học 2, 7 Tháng 10 — 13 Tháng 10, 2023

Sứ Mạng Dành Cho Chúng Ta: Phần 2

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giăng 20:21, 22; Ma-thi-ơ 28: 16–20; Khải huyền 14:6, 7; Phục truyền 7:6, 11, 12; Khải huyền 7:9, 10.

CÂU GỐC: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ” (Ma-thi-ơ 28:19).

Sứ mạng của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh phải có Đức Chúa Giê-su đứng đầu và là trọng tâm của con đường duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi. Chính Đấng Christ đã tuyên bố: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6). Nhưng Đức Chúa Giê-su cũng giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của Ba Ngôi Đức Chúa Trời đối với sứ mạng của Ngài.

Mọi điều Đấng Christ đã làm đều là vì hoặc từ Cha Thiên Thượng của Ngài (xem Giăng 4:34; Giăng 5:30; Giăng 12:45). Tuy nhiên, chúng ta phải luôn nhớ rằng sứ mạng của Đức Chúa Giê-su không bắt đầu khi Ngài đến thế gian. Ngài đã nhận nó từ Đức Chúa Cha ngay cả trước khi thế gian của chúng ta được tạo dựng (so sánh với Ê-phê-sô 1:4, 1 Phi-e-rơ 1:20).

Do đó, Đức Chúa Trời đã lập kế hoạch tiếp cận nhân loại ngay cả trước khi Ngài đặt nền móng cho hành tinh của chúng ta, và Ngài chủ ý bước vào lịch sử nhân loại để hoàn thành mục đích này.

Con là đấng đã sáng tạo thế gian (Giăng 1:3) và khi “kỳ hạn đã được trọn” (Ga-la-ti 4:4), Đức Chúa Trời đã bày tỏ tình yêu của Ngài bằng cách sai Con đến đây (Giăng 3:16, 17). Đức Chúa Con đến thế gian, chết trên thập giá và chiến thắng sự chết. Sau đó, được sai đến từ Đức Chúa Cha, Đức Thánh Linh đến đây (Giăng 14:26, Giăng 16:7), cáo trách thế gian (Giăng 16:8–11), và ngày nay tiếp tục sứ mạng của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bằng cách ban quyền năng và sai dân Chúa đi truyền giáo (Giăng 14:26; Giăng 16:13, 14).

Đọc Giăng 20:21, 22. Việc hiểu sứ mạng bắt nguồn từ Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Linh sẽ định hình sứ mạng của chúng ta như thế nào?

Mặc dù cụm từ “ba ngôi” không được tìm thấy trong Kinh Thánh, nhưng có rất nhiều bằng chứng cho thấy sứ mạng thiên thượng liên hệ đến cả Ba Ngôi của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, sau khi sống lại, Đấng Christ hiện đến với các môn đồ của Ngài và hứa với họ: “Ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa, còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao” (Lu-ca 24:48, 49). Ở đây, chúng ta tìm thấy thực tế về sứ mạng của Đức Chúa Trời trong một câu: lời hứa của Đức Chúa Cha, sự bảo đảm của Đức Chúa Con về việc thực hiện lời hứa, và chính lời hứa, sự giáng xuống của Đức Thánh Linh với các môn đồ (xem Lu-ca 3:16; Công vụ các Sứ đồ1:4 , 5, 8).

Chúng ta học được từ điều này rằng sứ mạng không phải của chúng ta. Nó thuộc về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Vì vậy, sứ mạng ấy sẽ không thất bại.

Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Linh đều tham gia vào công việc cứu rỗi các linh hồn. Tại sao bạn thấy đây là một điều mang sự an lòng đến cho mình?

Đọc Ma-thi-ơ 28:16–20. Các yếu tố nào của vai trò môn đồ mà bạn có thể nhận ra được trong đoạn này?

Ma-thi-ơ 28:16–20 tuyên bố mạng lệnh trong Kinh Thánh, thường được gọi là Đại Mạng Lệnh (Ma-thi-ơ 28:18–20), trong đó Chúa Giê- su chỉ bảo các môn đồ của Ngài phải bước tiến ra ngoài và đào tạo môn đồ, dạy dỗ họ trong đức tin và vỡ lòng họ vào sự thông công của kẻ đồng môn. (Xin xem thêm Mác 16:15, 16; Lu-ca 24:44–49; Giăng 20:21–23; Công vụ các Sứ đồ 1:8).

Các thành phần căn bản của Ma-thi-ơ 28:16–20 có thể được nhìn thấy trong bốn khía cạnh đơn giản: (1) Đức Chúa Giê-su ra lệnh cho các môn đồ của Ngài đi đến Ga-li-lê để gặp Ngài (Ma-thi-ơ 28:16, 17), (2) Đức Chúa Giê-su đến với họ , công bố thẩm quyền và quyền tể trị của Ngài (Ma-thi-ơ 28:18), (3) Sau đó, Đức Chúa Giê-su giao cho các môn đồ của Ngài một nhiệm vụ cụ thể—tức là đào tạo môn đồ (“dạy dỗ muôn dân”)—(Ma-thi-ơ 28:19, 20); và cuối cùng, (4) Đức Chúa Giê-su hứa ở cùng các môn đồ cho đến tận thế (Ma-thi-ơ 28:20).

Đào tạo môn đồ là trọng tâm chính của Đại Mạng Lệnh, và là nhiệm vụ chính của sứ mạng truyền giáo. Theo nghĩa đen, trong nguyên ngữ Hy Lạp, phần đầu của (Ma-thi-ơ 28:18) mục tiêu nói rằng vậy hãy đi đào tạo môn đồ. Chữ “vậy” ở đây muốn nhấn mạnh quyền năng, thẩm quyền và quyền tể trị của Đức Chúa Giê-su—tất cả những điều này đến từ chiến thắng đạt được trong sự phục sinh của Ngài.

Điều quan trọng cần nhấn mạnh là động từ hành động duy nhất có sự bắt buộc trong Đại Mạng Lệnh là “đào tạo môn đồ.” Giảng dạy mọi người, làm phép báp-têm cho họ và chia sẻ những lời dạy của Đức Chúa Giê-su cho toàn thế giới là những đặc điểm của quá trình môn đồ hóa. Ở đây, Đức Chúa Giê-su rõ ràng đang hướng các môn đồ của Ngài đến một mục đích: đào tạo môn đồ. Đây thực sự là một trong những đoạn nói về công việc truyền giáo vĩ đại nhất trong toàn bộ Kinh Thánh. Nó kết thúc với lời hứa của Đức Chúa Giê-su về sự Ngài sẽ luôn luôn ở cùng với những người theo Ngài.

Rõ ràng, Đại Mạng Lệnh không chỉ dành cho các môn đồ đầu tiên trong thời điểm duy nhất ấy. Họ không thể tự mình đi đến “muôn dân” để hoàn thành sứ mạng mới được giao phó là đào tạo môn đồ. Do đó, sứ mạng này có phạm vi phổ quát: mọi tín đồ chân chính của Đức Chúa Giê-su Christ phải tham gia vào việc đào tạo môn đồ. Hơn nữa, sứ điệp được truyền đạt—phúc âm hay tin lành đời đời của Đức Chúa Giê-su Christ—là dành cho toàn thế giới, không có giới hạn về địa lý, xã hội hay sắc tộc.

Sứ mạng của Chúa là “đào tạo môn đồ.” Nhiệm vụ này của Ngài ảnh hưởng đến cách bạn sống và phục sự người khác như thế nào? Bạn có thể làm gì để tham gia nhiều hơn vào những gì mình đã được kêu gọi để làm?

Đọc Khải huyền 14:6, 7. Bạn có thể nhận ra những khía cạnh nào trong sứ mạng của Đức Chúa Trời trong “tin lành đời đời” do thiên sứ đầu tiên trong sứ điệp của ba thiên sứ?

Đây là chỗ duy nhất trong Kinh Thánh mà trạng từ “đời đời” và danh từ “phúc âm” được liên kết với nhau. Phúc âm là tin mừng về ân điển được ban cho mọi người qua Đức Chúa Giê-su Christ. Ngài đến thế gian để bày tỏ cho chúng ta “ân điển và lẽ thật” (Giăng 1:14). Ngài đã sống một cuộc đời vô tội và chết trên thập tự giá như một sinh tế thay thế để gánh lấy hình phạt tội lỗi của chúng ta (Ê-sai 53:4, 5; 1 Phi- e-rơ 3:18). Ngài sống lại, về trời, được Cha tôn cao, và ngày nay Ngài đang cầu thay cho chúng ta trong đền thánh trên trời (Khải huyền 1:18, Công vụ 2:33, Hê-bơ-rơ 7:25). Ngài sẽ sớm thực hiện lời hứa vĩ đại nhất của Ngài—sẽ trở lại trong uy nghi và vinh quang, và cuối cùng, sau một ngàn năm để thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời trên thế gian (Giăng 14:1–4, Công vụ 1:11, Khải huyền 21:1–4). Đây là tất cả những thực tế thiết yếu của tin lành [hay phúc âm] đời đời.

Tuy nhiên, sự thật rằng thông điệp này là đời đời vĩnh cửu là điều đáng kinh ngạc. Chỉ có một phúc âm có thể cứu chúng ta. Nó sẽ vẫn như vậy cho đến khi sứ mạng của Chúa được hoàn thành trọn vẹn. Sẽ không có phúc âm nào khác. Những sự dạy dỗ và giáo lý lầm lạc đến rồi đi (Ê-phê-sô 4:14), nhưng sứ điệp cứu rỗi, phúc âm vĩnh cửu, không thay đổi, và những ai tin và sống theo nó trong sự vâng phục sẽ được ban thưởng (xem Phục truyền Luật lệ Ký 5:33, Rô-ma 2:6).

Chúng ta ngày nay cũng được trao sứ mạng đó như các môn đệ đầu tiên. Chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ đào tạo môn đồ cho Đấng Christ khắp mọi nơi. Nhưng loại môn đồ nào? Tốt bụng, trung thực, tận tụy, yêu thương mọi người? Các đặc điểm ấy là cần thiết, nhưng chưa đủ. Sự đào tạo môn đồ của chúng ta phải tập trung vào tất cả các yếu tố trong Kinh Thánh về vai trò môn đồ (Lu-ca 9:23; Giăng 13:34, 35; 2 Cô-rinh-tô 5:17) với mục đích tối hậu: họ phải được chuẩn bị để chuẩn bị những người khác cho sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su.

“Việc tuyên bố vào sự phán xét [Khải huyền 14:6, 7] là lời loan báo về sự tái lâm của Đấng Christ như sắp đến. Và lời tuyên bố này được gọi là tin lành đời đời. Do đó, việc rao giảng về sự tái lâm của Đấng Christ, thông báo về sự cận kề của nó, được cho thấy là một phần thiết yếu của thông điệp phúc âm.”—Ellen G. White, Christ’s Object Lessons, tr. 227, 228.

Khái niệm về sự phán xét được liên kết như thế nào với “tin lành đời đời” trong thông điệp của vị thiên sứ đầu tiên? Tại sao phúc âm phải là trung tâm của ý tưởng về sự phán xét?

Trong suốt lịch sử, Đức Chúa Trời luôn có những người trung thành đại diện cho đặc tính của Ngài và tuân theo các mục đích của Ngài bằng sự vâng lời. Dân sự của Đức Chúa Trời là những người đã được kêu gọi và đã chấp nhận lời mời của Ngài để trở thành những người dự phần ân điển của Ngài. Tất cả họ đã là—và tiếp tục là—công cụ của Đức Chúa Trời để hoàn thành sứ mạng của Ngài.

Đọc Sáng thế Ký 12:1–3 và Phục truyền Luật lệ Ký 7:6, 11, 12. Mục đích ban đầu của Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài trong Cựu Ước là gì?

Giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham và con cháu của ông có một mục đích cụ thể. Họ được kêu gọi, được dựng nên và được ủy thác để trở thành những người đại diện cho sứ mạng của Đức Chúa Trời—những con kênh dẫn phước lành đến cho các quốc gia (so sánh với Phục truyền 28:10, Ê-sai 49:6). Tuy nhiên, họ được chọn trong mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời, dựa trên điều kiện ngụ ý về đức tin và sự vâng lời (Sáng thế Ký 22:16–18; Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5, 6; Phục truyền Luật lệ Ký 28:1, 2; 2 Sử ký 7:14). Tiến trình này, là tiến trình để thu hút các quốc gia xung quanh đến với Y-sơ-ra-ên, là “chiến lược truyền giáo” của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước.

Trong Tân Ước, sứ mạng của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục. Giờ đây, Chúa, Đấng đã phục sinh và cũng là Đấng Cứu Rỗi, đã khai triển một “chiến lược truyền giáo” mới (xem Ma-thi-ơ 28:18–20, Công vụ các Sứ đồ 1:8). Chiến lược ấy là, các môn đồ của Đấng Christ—chính là hội thánh—ra đi truyền giáo khắp thế giới, chứ không như Y-sơ-ra- ên của thời cổ đại, thế gian phải được thu hút vào. Truyền giáo không bắt nguồn từ hội thánh. Trái lại, hội thánh hiện hữu ấy là vì Đức Chúa Trời vẫn có sứ mạng cần phải hoàn thành và Ngài đang dùng hội thánh của Ngài để hoàn thành sứ mạng ấy.

Tuy vậy, vẫn còn một câu hỏi: Sứ mạng của hội thánh là gì? Nó cũng là cùng sứ mạng của Đấng đã thiết lập hội thánh: “Vì Con Người đến tìm và cứu kẻ bị hư mất” (Lu-ca 19:10). Mặc dù không ai trong hội thánh chúng ta có thể cứu bất cứ ai, nhưng chúng ta có thể và phải chỉ cho người khác biết Đấng duy nhất có thể cứu họ, ấy là Đức Chúa Giê-su Christ.

“Sứ mạng của hội thánh của Đấng Christ là cứu những tội nhân đang hư mất. Đó là bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời cho loài người và thu phục họ đến với Đấng Christ bằng hiệu quả của tình yêu thương đó.”—Ellen G. White, Testimonies for the Church, bộ 3, tr. 381. Thật là một đặc ân và trọng trách vĩ đại!

Truyền giáo đối với hội thánh chẳng khác nào không khí đối với sự sống của chúng ta. Không có không khí, chúng ta chết. Không truyền giáo, giáo hội chết. Cá nhân bạn có thể làm gì để duy trì sự sống của hội thánh mình?

Đọc Khải huyền 7:9, 10. Đoạn này gợi ý gì về phạm vi địa lý rộng lớn của sứ mạng Đức Chúa Trời?

Bài học tuần này chủ ý thảo luận về hai phân đoạn Kinh Thánh truyền giáo quan trọng nhấn mạnh đến trọng tâm của việc môn đồ hóa trong Đại Mạng Lệnh và sứ điệp của phúc âm đời đời. Thật thú vị, cả hai phần Kinh Thánh đều có ít nhất một điểm kết nối chung: “nơi chốn” của sứ mạng. “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân” (Ma-thi-ơ 28:19), “những người sống trên đất—đến mọi nước, mọi chi phái, mọi thứ tiếng, và mọi dân tộc” (Khải huyền 14:6).

Nói cách khác, phúc âm của Đấng Christ phải đến với mọi tầng lớp, mọi quốc gia, mọi thứ tiếng và mọi dân tộc. Ảnh hưởng của phúc âm là đoàn kết những người được cứu trong một tình huynh đệ vĩ đại. Chúng ta chỉ có một kiểu mẫu để bắt chước, đó là Đấng Christ. Nếu chúng ta chấp nhận sự thật như nó vốn có nơi Đức Chúa Giê-su, thì những định kiến và phân biệt chủng tộc sẽ bị phá bỏ, và tinh thần của lẽ thật sẽ hòa quyện trái tim chúng ta thành một.

Khi Đức Chúa Giê-su phán, “Các ngươi sẽ làm chứng cho ta” (Công vụ các Sứ đồ1:8), Ngài đã nghĩ đến ba lãnh vực địa lý khác nhau:

Lãnh vực 1: “Các ngươi sẽ là nhân chứng của ta tại Giê-ru-sa-lem.” Vào thời điểm đó, các môn đồ của Ngài đang ở rất gần Giê-ru-sa- lem. Vì vậy, trên căn bản, Chúa đang nói: “Hãy bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm của bạn với Đức Chúa Trời cho những người thân thiết gần gũi với bạn.” Sứ mạng bắt đầu từ gia đình, với gia đình, với hàng xóm, với bạn bè. Đây là điểm khởi đầu của chúng ta trong sứ mạng.

Lãnh vực 2: Sau đó, Ngài tiếp: “ở khắp Giu-đê và Sa-ma-ri.” Sứ mạng của chúng ta cũng liên quan đến những người ở một khía cạnh nào đó gần gũi nhưng đồng thời cũng xa cách chúng ta. Trong nhóm này có những người có thể nói cùng ngôn ngữ với chúng ta—những người có nền văn hóa tương tự, nhưng không sống hoặc chia sẻ cùng một thực tế như chúng ta. Đây là nơi tiếp theo của chúng ta với sứ mạng.

Lãnh vực 3: Xa khỏi những điểm trên, Đấng Christ phán: “và cho đến đầu cùng đất.” Sứ mạng của Chúa kêu gọi chúng ta tiếp cận với các cá nhân từ mọi nơi, quốc gia, nhóm người, ngôn ngữ và sắc tộc. Đó là điểm tối hậu của chúng ta trong sứ mạng.

THÁCH THỨC: Cầu nguyện mỗi ngày trong tuần này cho cộng đồng nơi bạn sinh sống. Chúa đã đặt bạn ở đó vì một lý do.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Nghiên cứu thành phần dân số trong khu vực của bạn (loại người sống xung quanh bạn)—nền tảng tôn giáo và sắc tộc, già, trẻ, nghèo, giàu, nói ngôn ngữ nào, v.v. . Cầu nguyện xin Chúa cho bạn làm dòng nối kết mang tình yêu của Ngài đến với họ.

Để làm chứng cho muôn dân. “Những lời của Đấng Cứu Rỗi, ‘Các ngươi là sự sáng của thế gian,’ cho thấy rằng Ngài đã giao cho các môn đồ của Ngài một sứ mạng trên toàn thế giới. Như những tia nắng mặt trời được Chúa tạo dựng để chiếu đến những góc xa xôi nhất của địa cầu, thì tương tự, Đức Chúa Trời cũng tạo cho ánh sáng của phúc âm lan tỏa đến mọi linh hồn trên thế gian. Nếu hội thánh của Đấng Christ đang hoàn thành mục đích của Chúa chúng ta, thì ánh sáng sẽ chiếu rọi trên tất cả những ai ngồi trong bóng tối và trong vùng và bóng sự chết; thay vì tụ tập lại với nhau và trốn tránh trách nhiệm và gánh vác thập giá, các thành viên của hội thánh sẽ phân tán đến mọi vùng đất, để ánh sáng của Đấng Christ tỏa lan từ họ, làm việc như cách Ngài đã làm để cứu rỗi các linh hồn, và ‘phúc âm của thiên đàng’ sẽ nhanh chóng được mang đến khắp thế giới.

“Từ tất cả các quốc gia, tiếng gọi của người Ma-xê-đoan đang vang lên, ‘Hãy đến và giúp chúng tôi.’ Đức Chúa Trời đã mở ra những cánh đồng trước mắt chúng ta. Các thiên thể đã hợp tác với con người. Sự quan phòng đang đi trước chúng ta, và sức mạnh thiêng liêng đang hoạt động qua nỗ lực của con người. Quả thật, phải là những con mắt mù lòa mới không nhìn thấy công việc của Chúa, và là những đôi tai bị điếc mới không nghe thấy tiếng gọi của Người Chăn Chiên thật cho đàn chiên của mình. Có những người đã nghe tiếng gọi của Chúa và đã đáp lại. Hãy làm cho mọi trái tim đã được xưng công bình đáp lại, bằng cách tìm cách để công bố sứ điệp mang sự sống. Nếu mọi người, nam cũng như nữ, biết hạ mình và trung thành đảm nhận công việc do Đức Chúa Trời chỉ định, ban cho, thì quyền năng thiêng liêng sẽ được tiết lộ qua con số của những người cải đạo theo lẽ thật. Kết quả các nỗ lực của họ sẽ thật tuyệt vời.”—Ellen G. White, The Advent Review and Sabbath Herald, ngày 14 tháng 11 năm 1912.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Sự tin cậy về ảnh hưởng của hội thánh trong cộng đồng thật sự chỉ được xác định bởi mức độ mà chúng ta—là thân thể của Đấng Christ—thể hiện tình yêu thương của Đức Chúa Trời qua đời sống của chúng ta trong việc hoàn thành sứ mạng của Ngài. Làm thế nào để bạn, trong tư cách cá nhân, đáp ứng với thách thức này?

  2. Bạn nghĩ hội thánh của bạn được những người hàng xóm không phải người Cơ Đốc nhìn thấy và hiểu như thế nào? Làm sao bạn biết? Nếu được họ nhìn cách tích cực, bạn có thể làm gì để củng cố nó nhiều hơn? Nếu họ nhìn hội thánh bạn cách tiêu cực, bạn có thể làm gì để thay đổi?

  3. Tại sao việc giữ “phúc âm đời đời” làm trọng tâm sứ mạng của chúng ta đối với thế giới là rất quan trọng? Ích lợi gì chúng ta mang lại cho bất cứ ai, ở bất cứ đâu, nếu chúng ta không tập trung vào niềm hy vọng lớn lao mà mình có nhờ phúc âm và tin mừng về những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho nhân loại trên thập tự giá?

Please login for access. Login

Bài Học 1, 1 Tháng 10 — 8 Tháng 10, 2023

Sứ Mạng Dành Cho Chúng Ta: Phần 1

KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 3:9-15; Sáng thế Ký 28:15; Xuất Ê-díp-tô Ký 29:43, 45; Ma-thi-ơ 1:18-23; Giăng 1:14-18; Giăng 3:16; Giăng 14:1-3.

CÂU GỐC: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam mà phán Shỏi rằng: Ngươi ở đâu?” (Sáng thế Ký 3:9).

Đức Chúa Trời đã tạo dựng chúng ta giống như Ngài và theo hình ảnh của Ngài. Ngài đã ban cho chúng ta một thế giới hoàn hảo, và mục đích của Ngài là chúng ta sẽ sống trong mối tương quan hoàn hảo với Ngài, một mối quan hệ tập trung vào thuộc tính quý giá nhất của Ngài: tình yêu thương. Nhưng để thể hiện tình yêu rõ hơn, Đức Chúa Trời còn ban cho chúng ta một món quà quý giá khác: ý chí tự do—sự tự do lựa chọn con đường để đi theo. Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn rõ ràng cho A-đam và Ê-va về sự nguy hiểm và hậu quả chết người của việc không vâng lời (Sáng thế Ký 2:16, 17). Ngược lại, Sa-tan thuyết phục Ê-va một cách lừa bịp rằng bà có thể ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác mà không gây ra bất kỳ hậu quả bất lợi nào. Ngược lại, hắn còn tuyên bố rằng họ sẽ “giống như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác” (Sáng thế Ký 3:5). Thật không may, Ê-va đã chọn ăn và đưa trái cây cho A-đam, người cũng chọn làm điều tương tự. Kể từ đó, vật thọ tạo hoàn hảo đã bị vấy bẩn bởi tội lỗi.

Khoảnh khắc đó đã thay đổi kế hoạch và mục đích ban đầu của Đức Chúa Trời đối với hành tinh Địa cầu mà Ngài vừa tạo dựng. Sứ mạng cứu rỗi, vốn đã được thiết kế “từ trước khi sáng thế” (Ê-phê-sô 1:4), giờ đây phải được thực hiện.

Đọc Sáng thế Ký 3:9-15. Những lời đầu tiên của Đức Chúa Trời nói với A-đam sau khi ông và Ê-va sa ngã là gì, và tại sao lời nói đó rất quan trọng về mặt thần học ngay cả ngày nay?

Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời biết chính xác họ đang ở đâu. Bị nỗi sợ hãi chi phối, A-đam và Ê-va là những người cần xem chuyện gì đang xảy ra. Nhưng họ cũng cần phải đương đầu để có thể hiểu được hậu quả khủng khiếp của tội lỗi họ gây ra. Sa-tan cũng cần phải bị đánh bại. Vì thế, Đức Chúa Trời bắt đầu trình bày sứ mạng của Ngài: kế hoạch cứu chuộc (xem Sáng thế ký 3:14, 15)—hy vọng duy nhất là “làm cho thế gian được hòa thuận với Ngài” (2 Cô-rinh-tô 5:19).

Tuy nhiên, chúng ta cần hết sức chú ý đến sự kiện là trước khi có sự đối đầu và lời hứa làm hòa, Đức Chúa Trời đã tìm đến con người sa ngã. Bất chấp tình huống dường như vô vọng, trên căn bản, Đức Chúa Trời đã giải quyết hai vấn đề trong câu hỏi của Ngài dành cho A-đam: tình trạng sa ngã của chúng ta và bản chất rao truyền sứ mạng của Ngài. Chúng ta bị hư mất và đang rất cần sự cứu rỗi. Ngài là Đấng tìm đến chúng ta với quyết tâm cứu vớt và ở cùng chúng ta.

Trong suốt toàn lịch sử, Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục hỏi: “Ngươi ở đâu?” Theo kinh nghiệm cá nhân của bạn, điều này có ý nghĩa gì đối với bạn, và bạn đã trả lời Ngài như thế nào?

Đọc Sáng thế Ký 17:7, Sáng thế Ký 26:3, và Sáng thế Ký 28:15. Trọng tâm chính của lời hứa của Đức Chúa Trời cho Áp-ra-ham và dòng dõi của ông trong các câu này là gì?

Trong lời trình thuật của Cựu Ước, Đức Chúa Trời tiếp tục hành động theo bản chất truyền giáo của Ngài để hoàn thành các mục đích của Ngài. Thí dụ, sau Nước Lụt, người ta đã tập hợp lại một nơi để xây tháp Ba-bên, là một tòa tháp họ muốn lên cao đến tận trời. Nhưng Đức Chúa Trời đã can thiệp và Ngài khiến ngôn ngữ của họ bị lộn xộn với mục đích phân tán họ đi khắp thế giới (Sáng thế Ký 11:1-9). Và từ đó, Ngài mở rộng sứ mạng của Ngài, kêu gọi Áp-ram (người sau này gọi là Áp-ra-ham) trở thành “con rạch” để dẫn các phước lành của Ngài cho toàn thế giới (Sáng thế Ký 12:1-3). Những lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho Áp-ra-ham và con cháu của ông thì đa dạng, nhưng có một điều nổi bật hơn tất cả. Nhiều lần Đức Chúa Trời đã tuyên bố chắc chắn với họ rằng, “Ta sẽ là Đức Chúa Trời [các ngươi]” “Ta sẽ ở bên ngươi” “Ta ở cùng ngươi” (xem Sáng thế ký 17:7, 8; 26:3; 28:15).

Và lịch sử tiếp diễn, Giô-sép kết cuộc đến ở Ê-díp-tô, nhưng chính là một công cụ cứu rỗi cho dân Đức Chúa Trời. Trong mỗi bước kinh nghiệm của Giô-sép—kể cả trong những thời khắc khó khăn nhất của đời ông—Kinh Thánh khẳng định rằng “Chúa ở cùng” ông (Sáng thế Ký 39:2, 21, 23). Rồi nhiều thế hệ sau, để hoàn thành sứ mạng của mình, Đức Chúa Trời đã gửi Môi-se đến gặp Pha-ra-ôn với tư cách là người giải cứu dân Ngài khỏi ách nô lệ của người Ê-díp-tô. Trong thời gian Môi-se nhận lãnh trọng trách làm công việc Chúa, Đức Chúa Trời phán với ông, “Ta sẽ ở cùng ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:12). Hết lần này đến lần khác, Đức Giê-hô-va xác nhận ước muốn sâu xa của Ngài là được ở với dân Ngài.

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 29:43, 45. Một trong những mục đích chính của đền thánh trong Cựu Ước là gì? Đức Chúa Trời đã quyết định ở với con cái của Ngài theo một cách khác. Trong việc xây dựng đền tạm, Ngài đã xác nhận với Môi-se rằng Ngài khao khát được ngự giữa vòng con cái Y-sơ-ra-ên; và đó để thiết lập một hệ thống rất có chủ ý và mục đích, ấy là sẽ hướng về công cụ tối hậu cho sứ mạng của Ngài: Đức Chúa Giê-su Christ. “Các của lễ hy sinh, và chức tế lễ của hệ thống Do Thái, được thiết lập để tượng trưng cho cái chết và chức vụ hòa giải của Đấng Christ. Tất cả những nghi lễ đó đều không có ý nghĩa và không có giá trị gì nếu chúng không liên quan đến Đấng Christ.”—Ellen G. White, The Advent Review and Herald of the Sabbath, ngày 17 tháng 12 năm 1872.

Có những cách nào để bạn kinh nghiệm được sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống của mình?

Phao-lô viết thư Ê-phê-sô để được đọc to trong các nhà thờ tư gia của những tín đồ ở toàn vùng Ê-phê-sô. Trong những năm từ khi Phao-lô rời Ê-phê-sô, phong trào Cơ Đốc giáo ở Ê-phê-sô đã phát triển và số các điểm nhóm tại tư gia đã tăng lên gấp bội. Đối với những tín đồ lúc ban đầu, có được Ty-chi-ớt, là người đại diện thân cận của sứ đồ sáng lập Phao-lô có mặt giữa vòng họ và chia sẻ một bức thư từ ông là một sự kiện quan trọng. Theo như đề nghị của chính bức thư, nhóm người tập họp có thể bao gồm các thành viên của gia đình chủ nhà—cha, mẹ, con cái và các kẻ nô lệ (Ê-phê-sô 5:21–6:9). Vào thời điểm đó, một hộ gia đình bao gồm cả những người khác—các thân chủ (những người tự chủ nhưng phụ thuộc vào chủ hộ để được hỗ trợ) và thậm chí cả khách hàng. Vì vậy, những người này cũng có thể có mặt, cũng như các thành viên của các hộ gia đình khác.

Cùng với dàn bài của bức thư dưới đây, hãy đọc toàn bức thư tín, tốt nhất là đọc to (sẽ mất khoảng 15 phút để làm như vậy). Những chủ đề nào vang vọng qua toàn bức thư?

I. Lời đạt và chào thăm (Ê-phê-sô 1:1, 2)
II. Lời chúc phước (Ê-phê-sô 1:3–14)
III. Cầu nguyện cho các tín đồ nhận được sự khôn ngoan hiểu trọn Đấng Christ (Ê-phê-sô 1:15–23)
IV. Đã chết về mặt tâm linh; Nay giờ được tôn cao với Đấng Christ (Ê-phê-sô 2:1–10)
V. Sự thiết lập hội thánh bởi Đấng Christ từ người Do Thái và dân ngoại (Ê-phê-sô 2:11–22)
VI. Phao-lô với tư cách là Người rao giảng về Đấng Christ cho dân ngoại (Ê-phê-sô 3:1–13)
VII. Cầu nguyện cho các tín hữu cảm nghiệm được Tình yêu của Đấng Christ (Ê-phê-sô 3:14–21)
VIII. Giữ vững sự hiệp nhất do Thánh Linh soi dẫn (Ê-phê-sô 4:1–16)
IX. Sống đời sống mới, nuôi dưỡng sự hiệp nhất (Ê-phê-sô 4:17–32)
X. Bước đi trong Tình yêu, Ánh sáng và Sự khôn ngoan (Ê-phê-sô 5:1–20)
XI. Thực hành đời sống theo hình ảnh vóc dạng như Đấng Christ trong Gia đình Cơ Đốc (Ê-phê-sô 5:21–6:9)
XII. Sát cánh cùng nhau:Hội thánh với tư cách là Quân đoàn của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 6:10–20)
XIII. Lời chào kết thúc (Ê-phê-sô 6:21–24)

Chủ đề quan trọng nào dường như được gửi đến trong bức thư này? Nó nói gì với bạn? Những điểm cụ thể hoặc những điểm nào bạn thấy liên hệ với mình?

Cựu Ước trình bày cách Đấng Tạo Hóa bắt đầu thực hiện một kế hoạch qua một dân tộc được chọn để làm đại diện cho bản chất và mục đích của Ngài đối với thế gian. Mọi việc Đức Chúa Trời thực hiện đều theo chiến lược truyền giáo của Ngài. Qua nhà tiên tri Ê-sai, Chúa đã phán, “Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như Ta. Ta đã rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên, và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên. Ta phán rằng: Mưu của Ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý” (Ê-sai 46:9, 10). Tuy nhiên, trong Tân Ước, ước muốn của Đức Chúa Trời ở với nhân loại mang một tầm vóc mới. Qua sự nhập thể của Đấng Christ, điều chỉ là một lời hứa trong Vườn Ê-đen (Sáng 3:15) đã trở thành hiện thực.

Đọc lại trong Ma-thi-ơ 1:18-23 về lời loan báo về sự giáng sinh của Đức Chúa Giê-su. Lời tường thuật này cho chúng ta biết những điều yếu tố nào về Đức Chúa Trời?

Em-ma-nu-ên tức là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.” Đức Chúa Trời đã ngự giữa dân Ngài trong đền thánh, và bây giờ Ngài cư ngụ giữa vòng họ trong con người thể chất của Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét. Thật vậy, với sự giáng sinh của Đức Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã thể hiện một cách cụ thể ước muốn liên tục của Ngài là ở với chúng ta trong bản chất và sứ mạng: Con Chúa Trời hoàn toàn là con người và hoàn toàn là thiên thượng, và Ngài là Đấng đã khẳng định: “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).

Đọc Giăng 1:14-18. Bạn có thể học được gì về sứ mạng của Đức Chúa Trời đối với chúng ta qua sự nhập thể của Đấng Christ?

Đức Chúa Trời xúc tiến sứ mạng của Ngài, và sau đó, qua Đức Chúa Giê-su Christ, hiện diện bằng xương bằng thịt giữa vòng các con cái của Ngài. “Vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha” (Giăng 1:14), đã ứng nghiệm các lời tiên tri trong Cựu Ước và đúng theo kế hoạch thiên thượng, trở nên một với chúng ta, Đức Chúa Trời trong thân xác con người. Đức Chúa Trời của sứ mạng đang tiếp tục hoàn tất mục đích của Ngài.

Hãy nghĩ xem tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta lớn đến nỗi Ngài phải đến với chính nhân tính của loài người. Chúng ta nên đáp lại tình yêu này như thế nào, đặc biệt là trong sứ mạng đối với người khác?

Đọc Giăng 14:1-3. Theo những cách nào nó liên quan đến thông điệp về thời kỳ cuối cùng được tìm thấy trong Kinh Thánh?

Trong thời gian hành đạo của Ngài trên đất, một trong những lời hứa quý giá nhất của Đấng Christ, niềm hy vọng phước hạnh, một lần nữa phản ảnh ước muốn của Đấng Tạo Hóa là được ở với chúng ta đời đời. Đức Chúa Giê-su đã khẳng định, “Ta sẽ trở lại và đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:3).

Theo sứ đồ Giăng, lời hứa cuối cùng sẽ trở thành thực tế. “Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng” (Khải huyền 21:3).

“Công việc cứu chuộc sẽ hoàn tất. Ở nơi mà tội lỗi đầy dẫy, thì ân điển của Đức Chúa Trời càng dư dật hơn nhiều. Chính trái đất, chính cánh đồng mà Sa-tan tuyên bố là của hắn, không chỉ được chuộc mà còn được tôn cao. . . . Nơi đây, nơi Con Chúa Trời ngụ giữa nhân loại; nơi mà Vị Vua vinh quang đã sống, chịu thống khổ và chết,—tại đây, khi Ngài làm cho vạn vật trở nên mới, đền tạm của Đức Chúa Trời sẽ ở với loài người. . . . Và qua vô số thời đại khi những người được cứu chuộc bước đi trong ánh sáng của Chúa, họ sẽ ca ngợi Ngài về Món quà khôn tả của Ngài—Em-ma-nu-ên, ‘Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.’ ”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 26.

Ở đây chúng ta tìm thấy bức tranh đẹp nhất về Sự Cứu chuộc. Chung cuộc, Đức Chúa Trời của sứ mạng sẽ hoàn thành ước muốn của Ngài là ở với con cái Ngài mãi mãi. Thật là một đặc ân to lớn khi được là một phần của thực tế này!

Thách Thức Hằng Tuần. Trong suốt ba tháng này, bạn sẽ được mời tham gia vào sứ mạng cứu linh của Chúa. Đây sẽ là cơ hội để nhìn thấy và trải nghiệm sứ mạng của Ngài đang hành động trong cuộc sống của bạn. Tận dụng thời điểm này để suy gẫm để sẵn sàng chia sẻ những gì bạn đã học được với lớp của mình hằng tuần. Ngoài ra, Việc Thực hiện Thách thức sẽ khuyến khích bạn tăng cường tham gia vào sứ mạng của Chúa.

THÁCH THỨC: Hãy cầu nguyện mỗi ngày trong tuần tới để Chúa mở lòng bạn trở thành một phần trong sứ mạng của Ngài.

THỰC HIỆN THÁCH THỨC: Tìm hiểu tên của một người nào đó trong cuộc sống của bạn mà bạn chưa biết—một người hàng xóm, đồng nghiệp, chủ cửa hàng, tài xế xe buýt, người gác cổng, v.v. Bắt đầu cầu nguyện cho họ mỗi ngày.

“Kế hoạch cứu chuộc chúng ta không phải là một kế hoạch ra đời sau khi có một sự suy nghĩ lại, một kế hoạch chỉ được hình thành sau sự sa ngã của A-đam. Nhưng nó là sự mặc khải về ‘sự mầu nhiệm đã được giữ kín từ đời đời.’ Rô-ma 16:25. . . . Đó là sự phô bày các nguyên tắc mà từ các thời đại vĩnh cửu đã là nền tảng cho ngôi Đức Chúa Trời. Ngay từ đầu, Đức Chúa Trời và Đấng Christ đã biết về sự bội đạo của Sa-tan, và về sự sa ngã của con người do quyền lực lừa dối của kẻ bội đạo. Đức Chúa Trời không chỉ định rằng tội lỗi phải hiện hữu, nhưng Ngài đã thấy trước sự hiện hữu của nó, và Ngài đã cung cấp để đáp ứng tình trạng khẩn cấp khủng khiếp. Tình yêu thương của Ngài dành cho thế gian lớn đến nỗi Ngài đã giao ước ban Con một của Ngài, ‘hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.’ Giăng 3:16.”—Ellen G. White, The Desire of ages, tr. 22.

“Đấng Christ không nói với các môn đồ của Ngài rằng công việc của họ sẽ dễ dàng. . . . Nhưng họ sẽ không bị bỏ lại để chiến đấu một mình. Ngài bảo đảm với họ rằng Ngài sẽ ở cùng họ; và rằng nếu họ tiến lên trong đức tin, họ nên di chuyển dưới tấm khiên của Đấng Toàn Năng. . . . Miễn là họ tuân theo lời Ngài, và làm việc trong mối liên hệ với Ngài, thì họ không thể thất bại. Đi đến tất cả mọi dân tộc, Ngài nói với họ. Hãy đi đến nơi tận cùng trái đất và hãy an lòng biết rằng Ta sẽ ở cùng các ngươi. Hãy làm việc trong đức tin và lòng tự tin; vì ta sẽ không bao giờ lìa bỏ các ngươi. Ta sẽ luôn ở bên ngươi, giúp ngươi thực hiện bổn phận của mình, hướng dẫn, an ủi, thánh hóa, nâng đỡ ngươi, giúp ngươi thành công trong việc nói những lời để thu hút lòng người để tâm đến thiên đàng.”—Ellen G. White, The Acts of the Apostle, tr. 29.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

  1. Hãy nghĩ xem vì sao những lời đầu tiên của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại sa ngã không phải là “Ngươi đã làm gì?” Hay “Tại sao ngươi không vâng lời Ta?” Mà thay vào đó, lời đầu tiên của Chúa là, “Ngươi đang ở đâu?” Lẽ thật này sẽ mang lại cho chúng ta niềm an ủi nào về ý định của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta và những người thân yêu của chúng ta?

  2. Hãy nghĩ về ý nghĩa của việc chính Đức Chúa Trời, qua con người Đức Chúa Giê-su, đã đến thế gian này để cứu chúng ta. Đấng Christ trên thập tự giá là sự bày tỏ tối hậu của Đức Chúa Trời trong tư cách là Đức Chúa Trời của sứ mạng cứu linh. Điều này cho chúng ta biết gì về bản chất của Ngài?

  3. Sứ mạng thuộc về Chúa. Vì vậy, Ngài sẽ trang bị và trao quyền cho mọi người để thực hiện nhiệm vụ. Trước thực tế này, khi bạn nhìn vào những thách thức của việc truyền giáo trên toàn thế giới, bạn đối phó thế nào với những cảm giác và thái độ rằng mình chưa đủ khả năng hoặc sợ hãi?