Bài Học 13, 20 – 26 Tháng 12
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giô-suê 24; Sáng thế Ký 12:7; Phục truyền Luật lệ Ký 17:19; Phục truyền Luật lệ Ký 5:6; 1 Các Vua 11:2, 4, 9; 2 Ti-mô-thê 4:7, 8.
CÂU GỐC: “Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự…Nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 24:15).
“Giô-suê bèn nhóm hiệp các chi phái Y-sơ-ra-ên tại Si-chem, và gọi các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, các quan trưởng, các quan xét, và các quan tướng; họ đều ra mắt trước mặt Đức Chúa Trời” (Giô-suê 24:1).
Si-chem là nơi Áp-ra-ham đã dựng một bàn thờ khi ông đến vùng đất này, và là nơi Đức Chúa Trời lần đầu tiên đã hứa ban cho ông miền đất ấy (Sáng thế Ký 12:7). Bây giờ, khi những lời hứa ban cho Áp-ra-ham đã được hoàn tất, Y-sơ-ra-ên lập lại giao ước với Đức Chúa Trời cũng tại chính nơi lời hứa đầu tiên được ban cho. Lời kêu gọi của Giô-suê gọi lại lời của Gia-cốp: “hãy cất bỏ các thần ngoại bang ở giữa các ngươi” (Giô-suê 24:23; so sánh với Sáng thế Ký 35:2–4). Địa lý của sự kiện này truyền đạt lời kêu gọi dân sự hãy thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đức Giê-hô-va và từ bỏ mọi “thần” khác.
Đọc Giô-suê 24:2–13. Nội dung chính trong thông điệp của Đức Chúa Trời gửi đến Y-sơ-ra-ên là gì?
Đức Chúa Trời là chủ đề chính của quá khứ được ôn lại: “Ta đã lấy”, “Ta đã cho”, “Ta đã sai”, “Ta đã làm”, “Ta đã đưa các ngươi ra”, “Ta đã giải cứu các ngươi”, v.v… Y-sơ-ra-ên không phải là nhân vật chính mà chỉ là đối tượng của câu chuyện. Chính Chúa đã tạo ra Y-sơ-ra-ên. Nếu Ngài không can thiệp vào cuộc đời Áp-ra-ham, họ sẽ vẫn thờ các thần tượng. Sự tồn tại của Y-sơ-ra-ên như một quốc gia không phải là công lao của bất kỳ tổ tiên nào mà là ân điển của riêng Đức Chúa Trời. Người Y-sơ-ra-ên được định cư trên đất này không phải là lý do để khoe khoang mà là lý do chính tại sao họ nên thờ phượng Chúa.
Bài phát ngôn của Đức Chúa Trời bao gồm một sự thay đổi xảy ra năm lần giữa “các ngươi” và “họ” (các tổ phụ). Các tổ phụ và thế hệ này tại Si-chem được coi là một. Giô-suê đang tìm cách thể hiện điều mà Môi-se đã khẳng định trong Phục truyền 5:3, rằng Chúa không chỉ lập giao ước với các tổ phụ mà còn với tất cả những người có mặt tại thời điểm Giô-suê phát biểu. Phần lớn những người ở đó không trải qua cuộc Xuất hành. Không phải “tất cả” trong số họ đều ở Hô-rếp. Tuy nhiên, Giô-suê nói rằng tất cả họ đều ở đó. Tóm lại, những bài học trong quá khứ phải được mỗi thế hệ mới tiếp thu. Đức Chúa Trời đã làm việc cho tổ tiên trong quá khứ nay sẵn sàng hành động cho thế hệ hiện tại.
Là một hội thánh, chúng ta có những cách nào để ý thức hơn về trách nhiệm của tập thể; nghĩa là, phải nhận thức được rằng, những gì chúng ta làm đều ảnh hưởng đến mọi người trong hội thánh?
Giô-suê đã kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên làm gì? (Giô-suê 24:14, 15). Phục sự Đức Chúa Trời trong sự chân thành và trung tín có nghĩa gì?
Lời kêu gọi của Giô-suê nói rõ ràng rằng, Y-sơ-ra-ên phải quyết định: hoặc là giữ lòng trung thành với Đấng Tạo Hóa của họ, giữ sự độc đáo và sống trên đất này; hoặc là biến thành một trong nhiều dân tộc thờ hình tượng, không có bản sắc, mục đích, hay sứ mệnh rõ ràng. Sự lựa chọn là của họ.
Lời kêu gọi của Giô-suê có hai mặt: Một mặt là, Y-sơ-ra-ên nên kính sợ Đức Chúa Trời và phục sự Ngài “trong sự thành tâm và trung tín”. Kính sợ Chúa không có nghĩa là sống lúc nào cũng run sợ và có cảm giác bất an. Thay vào đó, nó ám chỉ sự tôn kính và kính sợ bắt nguồn từ việc nhận ra sự vĩ đại, thánh khiết và vô hạn của Chúa. Mặt khác, nhìn thấy sự nhỏ bé, tội lỗi và sự hữu hạn của chúng ta. Kính sợ Đức Chúa Trời là nhận thức liên tục về tầm quan trọng của những đòi hỏi của Ngài, rằng Ngài không chỉ là Cha trên trời mà còn là Vua thiêng liêng của chúng ta. Nhận thức như vậy sẽ dẫn đến một cuộc sống vâng phục Chúa (Lê-vi Ký 19:14; Lê-vi Ký 25:17; Phục truyền 17:19; 2 Các Vua 17:34). Trong khi “sự kính sợ” mô tả thái độ nội tâm mà một người Y-sơ-ra-ên cần có, thì kết quả thực tế của sự tôn kính Đức Chúa Trời chính là phục sự Ngài.
Phục sự đòi hỏi ở dân Y-sơ-ra-ên được mô tả bằng hai thuật ngữ tiếng Do Thái: “thành tâm” và “trung tín”. Thuật ngữ đầu được dùng như một tính từ để mô tả sự hoàn hảo của con vật hiến tế. Thuật ngữ thứ hai mô tả sự phục vụ của Y-sơ-ra-ên là “sự chân thật” hoặc “lòng trung tín”. Thuật ngữ này thường ám chỉ sự kiên định và ổn định của Đức Chúa Trời, Đấng với cá tính sâu sắc của sự thành tín, đã tỏ bày cho Y-sơ-ra-ên.
Một người trung tín là người đáng tin cậy. Giô-suê ở đây yêu cầu Y-sơ-ra-ên luôn bày tỏ lòng trung thành với Đức Giê-hô-va, giống như Ngài đã tỏ bày với dân Ngài trong suốt chiều dài lịch sử của họ. Không chỉ là sự vâng lời bên ngoài đối với các mạng lịnh của Chúa, mà còn phải đến từ sự nhất quán bên trong của một tấm lòng không thay đổi. Cuộc đời của họ nên phản ảnh lòng biết ơn đối với Chúa vì những gì Ngài đã làm cho họ. Nói tóm lại, đó cũng là cách chúng ta ngày nay nên liên hệ với Chúa Giê-su.
Đối với bạn, phục sự Chúa “với lòng chân thành” và “trung tín” có nghĩa gì? Một số yếu tố gây xao lãng trong đời bạn và đã ngăn cản sự tận tụy trọn vẹn của bạn đối với Chúa là gì?
Là một nhà lãnh đạo trung tín và chân thật, Giô-suê tôn trọng sự tự do ý chí của dân mình và mong muốn Y-sơ-ra-ên sẽ phục sự Chúa theo sự tự do lựa chọn thay vì bị ép buộc. Đó là chủ ý việc dùng động từ “đã chọn” (xem Giô-suê 24:22). Đức Giê-hô-va đã chọn Y-sơ-ra-ên (Phục truyền 7:6,7; Phục truyền 10:15; Phục truyền 14:2). Y-sơ-ra-ên được tự do nói “không” với Đức Giê-hô-va sau khi họ được Chúa chọn, nhưng điều đó sẽ thật vô nghĩa và phi lý. Y-sơ-ra-ên có thể chọn Chúa và tiếp tục sống, hoặc họ có thể quay lưng lại với Ngài và không còn tồn tại nữa.
Y-sơ-ra-ên trả lời thế nào trước lời kêu gọi của Giô-suê? (Giô-suê 24:16–18). Theo bạn, tại sao Giô-suê lại phản ứng với câu trả lời của họ như thế? (Giô-suê 24:19–21).
Trong câu trả lời khẳng định tuyệt đối này, Y-sơ-ra-ên thừa nhận rằng, Đức Chúa Trời của các tổ phụ và của cha ông họ giờ đây cũng là “Đức Chúa Trời của chúng ta” (Giô-suê 24:17, 18), Đấng mà họ sẵn sàng phục sự với lòng trung thành tuyệt đối. Sau lời khẳng định không thể nghi ngờ như vậy về lòng trung thành của họ, chúng ta mong đợi những lời khẳng định và khích lệ từ Giô-suê. Tuy nhiên, không phải vậy. Cuộc đối thoại giữa Giô-suê và dân chúng có một bước ngoặt lớn khi Giô-suê dường như đóng vai trò như người biện hộ cho phe đối nghịch. Ông chuyển từ việc nói về sự quan phòng đầy ân điển của Đức Chúa Trời trong quá khứ, sang đe dọa dân Y-sơ-ra-ên với hình ảnh về một Đức Chúa Trời không dễ phục sự.
Giô-suê biết tính không kiên định của thế hệ đầu tiên, những người đã hứa sẽ vâng lời Đức Chúa Trời theo những điều khoản tương tự (Xuất 19:8; Xuất 24:3; Phục truyền 5:27), nhưng lại quên mất lời hứa của mình khi lời vẫn còn trên môi (Xuất 32). Vì vậy, Giô-suê với tài hùng biện, muốn người Y-sơ-ra-ên nhận thức được rằng: Trước hết, quyết định phục vụ Chúa là một quyết định nghiêm túc. Nó sẽ phải định hình toàn cả quốc gia theo sự mặc khải của Ngài. Những phước lành khi theo đuổi mục tiêu đó là hiển nhiên, nhưng hậu quả của sự bất tuân cũng phải được hiểu đầy đủ. Được tha thứ tội lỗi không phải là quyền bất khả xâm phạm của nhân loại, mà là phép lạ của ân điển Đức Chúa Trời.
Thứ hai, quyết định của Y-sơ-ra-ên phục sự Chúa phải là quyết định của chính họ, không phải là điều ép buộc bởi nhà lãnh đạo, dầu là Giô-suê.
Thứ ba, Y-sơ-ra-ên phải ý thức rằng, con người không thể phục sự Đức Chúa Trời bằng sức mình. Hầu việc Chúa không đạt được bởi sự tuân theo cách máy móc những quy định giao ước, nhưng bởi có được một mối liên hệ cá nhân với Chúa Cứu Rỗi của chúng ta (so sánh Xuất 20:1, 2; Phục truyền 5:6,7).
Đọc Giô-suê 24:22–24. Tại sao Giô-suê cần phải nhắc lại lời kêu gọi của mình với dân Y-sơ-ra-ên để họ loại bỏ các thần tượng?
Mối đe dọa của việc thờ thần tượng không phải là một đe dọa lý thuyết. Trước đó, trên đồng bằng Mô-áp, trong một bối cảnh tương tự, Môi-se đã yêu cầu cùng một quyết định (Phục truyền 30:19, 20). Các thần mà dân sự thấy hiện nay không phải là các thần của Ai Cập, hay các thần bên kia sông, nhưng là “ở giữa họ”. Do đó, Giô-suê cầu xin dân sự mình hướng lòng về Đức Chúa Trời. Tiếng Hê-bơ-rơ được dùng ở đây là natah, có nghĩa là “đưa thẳng ra,” hay “cúi xuống.” Điều này mô tả một Đức Chúa Trời sẽ cúi xuống và lắng nghe lời cầu nguyện của dân sự (2 Các Vua 19:16; Thi thiên 31:2, 3; Đa-ni-ên 9:18), và đó cũng là thái độ mà các tiên tri sau này đòi hỏi dân Y-sơ-ra-ên phải tuân theo (Ê-sai 55:3; Giê-rê-mi 7:24). Những từ ấy cũng được dùng để chỉ sự bội giáo của Sa-lô-môn, khi lòng ông hướng về các thần ngoại bang (1 Các Vua 11:2, 4, 9). Tấm lòng tội lỗi của con người không có khuynh hướng tự nhiên để cúi xuống và lắng nghe tiếng Chúa. Chúng ta phải đưa ra những quyết định có ý thức, để hướng lòng mình đến việc thực hiện theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Câu trả lời của dân Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen là: “Chúng tôi sẽ lắng nghe tiếng Ngài.” Câu nói này nhấn mạnh khía cạnh tương giao của sự vâng lời. Dân Y-sơ-ra-ên không buộc phải tuân theo các quy tắc vô hồn một cách máy móc. Giao ước là về mối quan hệ sống động với Chúa, điều này không thể được diễn đạt đầy đủ bằng các quy định đơn thuần. Tôn giáo của Y-sơ-ra-ên không bao giờ có ý định trở thành pháp lý; mà thật ra, đó là một cuộc trò chuyện liên tục trong đức tin và tình yêu với một Đấng Cứu Rỗi thánh khiết và nhân từ.
Ngay cả sau khi dân sự ba lần hứa sẽ phục vụ Đức Giê-hô-va—lời hứa bao hàm, theo mệnh lệnh của Giô-suê, việc loại bỏ các thần ngoại bang khỏi giữa vòng họ—thì cũng không có ghi chép nào cho thấy điều đó thực sự đã xảy ra. Suốt cả sách Giô-suê, việc tường thuật về việc thực hiện các mệnh lệnh của Giô-suê (hoặc của Môi-se) thường được dùng làm minh chứng cho sự vâng lời. Việc không có ghi chép như vậy vào cuối sách khiến lời khẩn cầu của Giô-suê dường như bị bỏ ngỏ. Trung tâm của sách Giô-suê là lời kêu gọi hãy phục sự Đức Chúa Trời, không phải chỉ dành cho thế hệ của Giô-suê, mà còn dành cho mỗi thế hệ mới của dân sự Đức Chúa Trời, những người đọc hoặc nghe thông điệp này.
Đọc những lời kết của sách Giô-suê viết bởi một tác giả được soi dẫn (Giô-suê 24:29–33). Những lời này không chỉ quay nhìn lại cuộc đời của Giô-suê, mà còn hướng về tương lai ra sao?
Trong lời kết ghi lại sự qua đời của Giô-suê và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ cả, đã kết thúc sách Giô-suê đã một cách nghiêm trang. Bởi kể lại việc chôn cất Giô-suê, Ê-lê-a-sa và hài cốt của Giô-sép nối tiếp nhau, tác giả đã tạo nên sự tương phản giữa cuộc đời bên ngoài và sự bắt đầu của cuộc sống bên trong vùng đất hứa. Không cần phải lang thang nữa. Không cần phải mang theo hài cốt của các nhà lãnh đạo cùng với họ. Các tổ phụ đã chôn cất thân nhân trong hang động (Sáng thế Ký 23:13, 19; Sáng thế Ký 25:9, 10), trên một mảnh đất được mua tại Si-chem (Sáng thế Ký 33:19). Bây giờ, cả nước chôn cất các nhà lãnh đạo mình trên lãnh thổ thừa kế của riêng họ, một điều cho họ cảm giác an bài. Lời hứa với tổ phụ đã được thực hiện. Sự thành tín của Đức Giê-hô-va là sợi chỉ lịch sử liên kết hậu duệ của Y-sơ-ra-ên với hiện tại và cả tương lai.
Đoạn kết của cuốn sách liên kết toàn bộ câu chuyện với một câu chuyện lớn hơn trong quá khứ, và cũng mở đường cho tương lai. Cựu Tổng giám mục Canterbury, Lord George Cary, trong bài phát biểu quan trọng tại giáo đường Holy Trinity ở Shrewsbury, đã tuyên bố rằng Giáo hội Anh giáo “chỉ cách sự diệt vong một thế hệ.”
Trên thực tế, giáo hội bao giờ cũng chỉ cách sự diệt vong một thế hệ, cũng giống như dân sự của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước. Một chương lớn trong lịch sử Y-sơ-ra-ên đã kết thúc. Tương lai của Y-sơ-ra-ên tùy thuộc vào câu trả lời của những câu hỏi liên quan đến tương lai. Liệu Y-sơ-ra-ên có trung thành với Chúa không? Liệu họ có thể tiếp tục nhiệm vụ còn dang dở là chiếm hữu toàn bộ vùng đất này không? Liệu họ có thể bám chặt vào Đức Giê-hô-va và không bị vướng vào việc thờ các thần tượng không? Một thế hệ dưới thời Giô-suê đã trung thành với Đức Chúa Trời, nhưng liệu thế hệ tiếp theo có duy trì được cùng một định hướng thuộc linh mà nhà lãnh đạo vĩ đại của họ đã vạch ra không? Mỗi thế hệ kế tiếp của dân sự Đức Chúa Trời, khi đọc sách Giô-suê, đều phải đối mặt với những câu hỏi tương tự này. Sự thành công của họ tùy thuộc vào những câu trả lời được bày tỏ qua lối sống hàng ngày, và cách họ liên hệ với những lẽ thật mà họ đã thừa hưởng.
Giô-suê, giống như Phao-lô, “đã đánh trận tốt lành” (2 Ti-mô-thê 4:7). Chìa khóa thành công của Giô-suê là gì? Bạn cần lựa chọn và quyết định thế nào ngày hôm nay, để có kết thúc tốt đẹp, một đảm bảo về sự cứu rỗi?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Những Lời Cuối Cùng của Giô-suê,” tr. 522–524, trong Patriarchs and Prophets.
“Trong số đám đông đi ra từ Ai Cập, có nhiều người từng thờ thần tượng; và thói quen này mạnh đến mức họ vẫn tiếp tục thực hành một cách bí mật, ở một mức độ nào đó, ngay cả sau khi định cư ở Ca-na-an. Giô-suê nhận thức được điều xấu xa này trong vòng người Y-sơ-ra-ên, và hiểu những nguy hiểm sẽ xảy ra. Ông tha thiết mong muốn một sự cải thiện cho họ. Ông biết rằng, nếu dân chúng không kiên quyết phục sự Đức Chúa Trời hết lòng, họ sẽ dần dần xa cách Ngài… Một số người trong cộng đồng Hê-bơ-rơ thật sự có sự thờ phượng thuộc linh, nhưng nhiều người chỉ làm theo thói quen, mà không có nhiều nhiệt huyết. Và thành thật mà nói, một số thậm chí còn âm thầm thờ thần tượng.”—Ellen G. White, Signs of the Times, 19 Tháng 5 năm 1881.
“Giao ước nghiêm trọng này đã được ghi lại trong sách luật pháp, để được bảo tồn cách thiêng liêng. Sau đó, Giô-suê dựng một hòn đá lớn dưới một cây sồi, gần nơi thánh của Đức Giê-hô-va. ‘Và Giô-suê nói với toàn dân sự rằng: Này, hòn đá này sẽ làm chứng cho chúng ta; vì nó đã nghe mọi lời mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng chúng ta; vậy nên nó sẽ làm chứng cho các ngươi, kẻo các ngươi chối bỏ Đức Chúa Trời của các ngươi.’ Ở đây, Giô-suê tuyên bố rõ ràng rằng những chỉ dẫn và lời cảnh báo của ông đối với dân chúng không phải là lời của riêng ông, mà là lời của Đức Chúa Trời. Hòn đá lớn này sẽ đứng đó để làm chứng cho các thế hệ sau về sự kiện mà nó được dựng lên để ghi nhớ, và sẽ là một bằng chứng chống lại dân sự, nếu họ lại sa vào sự thờ thần tượng lần nữa.”—Ellen G. White, Signs of the Times, ngày 26 Tháng 5 năm 1881.
Thảo luận về ý nghĩa của cụm từ: “Đức Chúa Trời thánh khiết, Đức Chúa Trời kỵ tà” (Giô-suê 24:19). Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời kỵ tà có nghĩa gì?
Tình yêu của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời liên hệ thế nào đến quyền tự do lựa chọn mà Ngài ban cho chúng ta? Nghĩa là, chúng ta có thể thực sự yêu thương, nếu chúng ta không thực sự có quyền tự do không? Tình yêu chân thực có thể bị ép buộc không? Nếu không, tại sao không?
Một số cách thực tế nào, mà những nhà lãnh đạo của hội thánh ngày nay có thể truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ sau?
Hãy nghĩ về cuộc đời của Giô-suê và phán kết luận rằng, trong suốt đời ông, dân Y-sơ-ra-ên đã phục sự Đức Chúa Trời. Bạn muốn mọi người rút ra kết luận gì về cuộc đời của bạn?
Bài Học 12, 13 – 19 Tháng 12
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giô-suê 21:43–45; 2 Ti-mô-thê 2:11–13; Giô-suê 23; Khải huyền 14:10, 19; Phục truyền Luật lệ Ký 6:5.
CÂU GỐC: ‘“Trong các lời lành mà Đức Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành; thảy đều ứng nghiệm hết”’ (Giô-suê 21:45).
Giô-suê 21:43–45 vẽ lên bức tranh nào về Đức Chúa Trời? Những lời này áp dụng không chỉ với Đất Hứa trong lịch sử mà còn cho thấy thực tế về sự cứu rỗi của chúng ta ra sao (2 Ti-mô-thê 2:11–13)?
Những câu này là cao điểm và cũng tóm tắt thần học của sách. Chúng làm nổi bật một trong những chủ đề chính của toàn bộ sách: sự thành tín với giao ước của Đức Chúa Trời, Đấng giữ lời hứa và thực hiện lời thề của mình. Giô-suê 21:43 nói về việc phân chia và định cư trên đất (Giô-suê chương 13–21), trong khi Giô-suê 21:44 đề cập đến những chiến thắng trên kẻ thù và quyền kiểm soát trên đất đai (Giô-suê chương 1–12). Tất cả những hồi tưởng này được nhìn qua lăng kính của sự thành tín của Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên phải luôn nhớ rằng họ không bao giờ có thể chiến thắng kẻ thù hoặc đạt được vùng đất làm di sản—trừ khi qua sự thành tín của Chúa đối với lời Ngài đã hứa.
Ngài đã ban “cả xứ” (Giô-suê 21:43), “phó hết thảy kẻ thù nghịch vào tay họ” (Giô-suê 21:44), và theo “mọi điều Ngài đã thề ban” (Giô-suê 21:44) “thảy đều ứng nghiệm” (Giô-suê 21:45). Việc sử dụng lặp lại từ kol, “tất cả”, sáu lần trong ba câu (Giô-suê 21:43-45), một lần nữa nhấn mạnh sự thật rằng vùng đất là quà của Đức Giê-hô-va, và Y-sơ-ra-ên không thể kể công khi nhận được nó. Chính Chúa đã thề sẽ “ban” đất này và “phó” kẻ thù vào tay họ.
Mọi thành công của Y-sơ-ra-ên đều đến do sự khởi xướng và đáng tin cậy của Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi của chúng ta cũng vậy: “Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu. Điều này không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (Ê-phê-sô 2:8, 9).
Thật vậy, khi nhấn mạnh đến lòng thành tín của Chúa, Phao-lô cũng viết: “Lời nầy chắc chắn lắm, ví bằng chúng ta chết với Ngài, thì cũng sẽ sống với Ngài; lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta; nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được” (2 Ti-mô-thê 2:11–13).
Sự thành tín của Đức Chúa Trời trong việc giữ lời hứa, khiến chúng ta tin chắc ra sao rằng, không một lời hứa nào của Ngài về tương lai sẽ không thành? (Xem 1 Cô-rinh-tô 10:13, 2 Cô-rinh-tô 1:18–20.)
Phần kết luận huy hoàng của Giô-suê 21:43–45 mang kèm điều kiện đã được làm trọn, đó là sự vâng lời. Thành công không bao giờ được coi là điều hiển nhiên; nó luôn gắn liền với sự vâng lời Lời Chúa. Do đó, việc phân chia đất đai không những cho thấy lòng thành tín của Chúa đối với Y-sơ-ra-ên (Nê-hê-mi 9:8), mà còn tạo không gian cho sự phát triển trong tương lai tùy Y-sơ-ra-ên quyết định. Liệu Y-sơ-ra-ên có thể gìn giữ những gì đã đạt được không?
Đọc Giô-suê 23:1–5. Những điểm chính trong lời mở đầu của Giô-suê là gì?
Bài diễn văn của Giô-suê, chuyển từ người diễn giả cao tuổi (được nhấn mạnh hai lần) sang thính giả, những người sẽ phải tiếp tục sứ mệnh mà Đức Chúa Trời đã giao phó. Ông mô tả cách vùng đất này đã được chinh phục: Chúa đã chiến đấu cho họ. Mặc dù, vì sự bất trung và vô tín của mình, dân Y-sơ-ra-ên phải tham chiến sau cuộc Xuất hành, nhưng không phải nhờ sức mạnh quân sự của họ mà nhờ sự can thiệp của Chúa, họ đã chiếm được vùng đất này.
Chúa đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên sự nghỉ ngơi khỏi kẻ thù, nhưng vẫn còn một số quốc gia cần phải bị đánh bại và trục xuất. Chiến thắng không phải là một thực tế đã hoàn tất và không thể thay đổi đối với dân Y-sơ-ra-ên, mà là một khả năng luôn hiện hữu, nếu họ trông cậy vào sự thành tín của Đức Chúa Trời sẵn sàng giúp đỡ.
Cách dân Y-sơ-ra-ên chinh phục Ca-na-an dưới sự lãnh đạo của Giô- suê, và cách Cơ Đốc nhân ngày nay có thể sống một cuộc sống thuộc linh chiến thắng, có những điểm tương đồng nào? Đọc Giô-suê 23:10, Cô-lô- se 2:15, 2 Cô-rinh-tô 10:3–5, Ê-phê-sô 6:11–18.
Những chiến thắng của Y-sơ-ra-ên không phải là do sức mạnh và chiến lược của họ. Tương tự như vậy, chiến thắng thuộc linh của chúng ta trên tội lỗi và cám dỗ, đã được đảm bảo qua sự hy sinh và phục sinh của Chúa Giê- su Christ, nhưng dân sự của Chúa ngày nay, phải luôn dựa vào nguồn cung cấp thuộc linh đến từ Đức Thánh Linh, để sống một cuộc sống chiến thắng.
Với rất nhiều lời hứa tuyệt vời trước mắt, tại sao chúng ta vẫn thấy phạm tội là chuyện dễ dàng?
Dùng những lời đã được phán cùng ông ở phần đầu sách (Giô-suê 1:7, 8), Giô-suê tuyên bố rằng nhiệm vụ trước mắt của Y-sơ-ra-ên không chủ yếu mang tính chất quân sự, mà là thuộc linh. Nó liên quan đến việc làm theo ý muốn Đức Chúa Trời đã được mặc khải.
Theo bạn nghĩ, tại sao Giô-suê lại có lập trường cứng rắn như vậy về mối quan hệ của Y-sơ-ra-ên với các quốc gia xung quanh? (Giô-suê 23:6–8, 12, 13).
Mối nguy hiểm mà Y-sơ-ra-ên phải đối mặt không phải là sự thù địch, mà là tình bạn đến từ các quốc gia còn lại. Vũ khí của họ có thể không là một thách thức đối với Y-sơ-ra-ên; tuy nhiên, hệ tư tưởng và giá trị (hay phảngiá trị) của họ có thể gây tai hại hơn bất kỳ lực lượng quân sự nào. Giô-suê muốn cấp lãnh đạo chú ý vào sự thực quan trọng rằng, cuộc xung đột mà họ đã tham gia trước sau đều là một xung đột thuộc linh. Do đó, Y-sơ-ra-ên phải duy trì bản sắc độc đáo của mình.
Lệnh cấm cầu khẩn danh của một vị thần, thề trên danh thần ấy, phục vụ hay cúi lạy thần ấy đến từ việc thờ hình tượng. Ở vùng Cận Đông thuở xưa, tên của một vị thần đại diện cho sự hiện diện và quyền năng của vị thần đó. Việc cầu khẩn hoặc nhắc đến tên của các vị thần ngoại bang trong lời chào hỏi hoặc giao dịch kinh doanh, có nghĩa là công nhận thẩm quyền của họ, và dần dần đưa người Y-sơ-ra-ên tìm kiếm quyền lực của họ khi cần (so sánh Các Quan Xét 2:1–3, 11–13).
Một mối nguy hiểm của việc kết hôn với những người Ca-na-an còn lại, là việc đánh mất sự trong trắng thuộc linh của người Y-sơ-ra-ên. Mục đích của lời răn dạy của Giô-suê không phải là để phổ biến sự tinh lọc hoá chủng tộc hay dân tộc, mà là để tránh việc thờ hình tượng, điều có thể dẫn đến sự sụp đổ thuộc linh của Y-sơ-ra-ên. Trường hợp Sa-lô-môn, là một ví dụ điển hình về hậu quả tâm linh đáng buồn của hôn nhân với người khác tôn giáo (1 Các Vua 3:1; 1 Các Vua 11:1–8). Trong Tân Ước, các Cơ Đốc nhân được cảnh báo công khai về việc tìm kiếm liên hệ hôn nhân với những người không tin (2 Cô-rinh-tô 6:14). Dầu vậy, trong trường hợp của những hôn nhân đang hiện hữu, Phao-lô không khuyên họ nên ly hôn với người phối ngẫu khác tín ngưỡng, mà kêu gọi họ sống một đời sống Cơ Đốc mẫu mực, với hy vọng đem được người phối ngẫu về cùng Chúa (1 Cô 7:12–16).
Lời Giô-suê cảnh báo về những mối quan hệ có hại, chắc chắn dẫn đến câu hỏi về mối quan hệ của Cơ Đốc nhân với “thế gian.” Làm sao chúng ta có thể tìm được mối quan hệ cân bằng với xã hội xung quanh mình?
Chúng ta nên diễn giải ra sao cơn thạnh nộ và sự trừng phạt của Đức Chúa Trời, như đã diễn tả trong sách Giô-suê (23:15, 16) và những nơi khác trong Kinh Thánh? (Dân số Ký 11:33; 2 Sử ký 36:16; Khải huyền 14:10, 19; Khải huyền 15:1.)
Y-sơ-ra-ên đã kinh nghiệm được cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong thời gian họ lang thang trong đồng vắng (Dân số Ký 11:33; Dân số Ký 12:9), cũng như ở Đất Hứa (Giô-suê 7:1), và hoàn toàn nhận thức được hậu quả về việc chọc giận Đức Giê-hô-va bởi phá vỡ giao ước cách trắng trợn. Thật phải giật mình khi nghe rằng Chúa sẽ hủy diệt Y-sơ-ra-ên, với cùng thuật ngữ được dùng để ám chỉ sự hủy diệt người Ca-na-an. Những lời hứa của Chúa ban phước lành cho Y-sơ-ra-ên đã được ứng nghiệm trung thực như thế nào, thì những lời rủa sả của giao ước (Lê-vi Ký 26, Phục truyền 28) cũng sẽ trở thành sự thật thể ấy, nếu người Y-sơ-ra-ên chối bỏ giao ước. Trước sự tước đoạt và hủy diệt của người Ca-na-an, những câu này một lần nữa, chứng minh rằng Đức Giê-hô-va cuối cùng là thẩm phán của toàn bộ trái đất. Ngài tuyên chiến với tội lỗi, bất kể tội lỗi ở đâu. Y-sơ-ra-ên không được thánh hóa, cũng không đạt được công trạng đặc biệt nào khi tham gia vào cuộc chiến tranh thánh, không hơn gì các quốc gia ngoại sau này, khi họ trở thành phương tiện cho sự phán xét của Đức Giê-hô-va đối với quốc gia được chọn.
Y-sơ-ra-ên có quyền lựa chọn, để biến những vinh quang chắc chắn của quá khứ thành nền tảng để đối mặt với tương lai.
Thoạt nhìn, lời Kinh Thánh dạy về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời xem ra không tương thích với lời khẳng định rằng Đức Chúa Trời là sự yêu thương (Giăng 3:16, 1 Giăng 4:8). Tuy nhiên, chính trong ánh sáng của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, mà giáo lý Kinh Thánh về tình yêu thương của Đức Chúa Trời càng trở nên rõ ràng hơn. Đầu tiên, Kinh Thánh trình bày Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương, kiên nhẫn, chịu đựng lâu dài và sẵn sàng tha thứ (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6, Mi-chê 7:18). Tuy nhiên, trong bối cảnh của một thế giới bị ảnh hưởng bởi tội lỗi, cơn thịnh nộ của Chúa là thái độ thánh khiết và công chính của Ngài, khi đối mặt với tội lỗi và sự gian ác. Cơn thạnh nộ của Ngài không bao giờ là phản ứng thái quá của cảm xúc, sự trả thù và không thể đoán trước. Tân Ước dạy rằng, Đấng Christ đã trở nên tội lỗi vì chúng ta (2 Cô-rinh-tô 5:21), và qua cái chết của Ngài, chúng ta đã được hòa giải với Đức Chúa Trời (Rô-ma 5:10). Bất kỳ ai tin Ngài sẽ không phải đối mặt với cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Giăng 3:36, Ê-phê-sô 2:3, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:10). Khái niệm về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trình bày Chúa như vị thẩm phán công bình (Thi thiên 7:11, Thi thiên 50:6, 2 Timô-thê 4:8).
Cách duy nhất để Y-sơ-ra-ên có thể tránh được sự cám dỗ của việc thờ hình tượng và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, không phải là liên tục ghi nhớ những điều “chớ” của giao ước, mà là nuôi dưỡng lòng trung thành có ý thức và nhất quán với Chúa. Động từ “dính líu, gắn bó” với Đức Giê-hô- va (Phục truyền 4:4), cũng được dùng để mô tả giao ước hôn nhân giữa vợ và chồng (Sáng 2:24) hoặc lòng trung thành của Ru-tơ với Na-ô-mi (Ru-tơ 1:14). Điều quan trọng cần lưu ý là, Giô-suê đã mô tả sự tín trung của Y-sơ- ra-ên như một quốc gia “cho đến ngày nay.” Tiếc thay, lời khẳng định tương tự sẽ không đúng với các giai đoạn sau của lịch sử Y-sơ-ra-ên, như sách Các Quan Xét đã chứng minh một cách đáng buồn (Các Quan Xét 2:2, 7, 11; Các Quan Xét 3:7, 12; Các Quan Xét 4:1, v.v.)
Giô-suê kêu gọi Y-sơ-ra-ên hãy yêu mến “Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi” (Giô-suê 23:11; so sánh với Phục truyền 6:5). Tình yêu không thể bị ép buộc; vì nếu bị ép buộc thì nó sẽ không còn là tình yêu đúng nghĩa. Tuy nhiên, tình yêu có thể được ra lệnh theo nghĩa nào?
Để liên tục tận hưởng các phước lành của giao ước, Y-sơ-ra-ên phải trung thành với Chúa, “Hãy hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.” Từ ‘ahaba, “tình yêu”, có thể ám chỉ đến nhiều tình cảm của con người, bao gồm sự gắn bó thân thiện, sự gần gũi về tình dục, sự dịu dàng của người mẹ, tình yêu lãng mạn và lòng trung thành với Chúa. Nếu chúng ta hiểu tình yêu dành cho Chúa là sự cam kết và tận tụy có ý thức với Ngài, thì tình yêu đó có thể được ra lệnh mà không vi phạm bản chất thực sự của nó (so sánh Giăng 13:34). Đức Chúa Trời luôn có ý định rằng sự vâng theo các điều răn của Ngài phải xuất phát từ mối quan hệ cá nhân với Ngài (Xuất 19:4 [“Ta . . . đã dẫn các ngươi đến cùng Ta”] dựa trên những gì Ngài đã làm cho họ với lòng thương xót và tình yêu thương lớn lao của Ngài (Phục truyền 6:5, so sánh với Ma-thi-ơ 22:37).
Mệnh lệnh yêu kính Đức Chúa Trời cũng bày tỏ bản chất hỗ tương (mutual), nhưng không cân đối, của tình yêu thiêng liêng. Chúa mong muốn một mối quan hệ thân thiết cá nhân với mỗi ai đáp lại tình yêu của Ngài. Do đó, tình yêu bao quát Ngài dành cho tất cả mọi người tạo nên khuôn khổ cho sự biểu lộ tình yêu tự nguyện, hỗ tương của chúng ta.
Đức Chúa Giê-su đã ban một điều răn mới cho các môn đồ của Ngài. Theo nghĩa nào thì điều răn này vừa mới vừa cũ cùng một lúc? Đọc Giăng 13:34; Giăng 15:17 và 1 Giăng 3:11; so sánh với Lê-vi Ký 19:18.
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Những lời cuối cùng của Giô-suê,” tr. 521, 522, trong Patriarchs and Prophets.
“Sa-tan lừa dối nhiều người, bằng lý thuyết nghe hợp lý rằng tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài, lớn đến mức Ngài sẽ bỏ qua tội lỗi của họ; hắn cho rằng sự đe dọa của lời Chúa, là để phục vụ một mục đích nhất định trong chính quyền đạo đức của Ngài, chứ chúng không bao giờ được thực hiện theo nghĩa đen. Nhưng trong mọi cách đối xử với các tạo vật của Ngài, Đức Chúa Trời đã duy trì các nguyên tắc công chính bằng cách phơi bày tội lỗi theo đúng bản chất của nó—bằng cách chứng minh rằng, kết quả chắc chắn của nó là đau khổ và chết chóc. Sự tha thứ vô điều kiện cho tội lỗi chưa bao giờ có và sẽ không bao giờ có. Sự tha thứ như vậy sẽ cho thấy sự từ bỏ các nguyên tắc công chính, vốn là nền tảng của chính quyền Chúa. Nó sẽ lấp đầy vũ trụ chưa sa ngã với sự ngỡ ngàng sửng sốt. Đức Chúa Trời đã trung thành chỉ ra hậu quả của tội lỗi, và nếu những lời cảnh báo này không đúng, làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng những lời hứa của Ngài sẽ được thực hiện? Cái gọi là lòng nhân từ sẽ gạt bỏ công lý, thì sẽ không phải là lòng nhân từ mà là sự yếu đuối.
“Đức Chúa Trời là Đấng ban sự sống. Ngay từ đầu, mọi luật lệ của Ngài đều được thiết lập để đem lại sự sống. Nhưng tội lỗi đã phá vỡ trật tự mà Chúa đã thiết lập, và sự bất hòa đã theo sau. Chừng nào tội lỗi còn tồn tại, thì sự đau khổ và chết chóc là điều không thể tránh khỏi. Chỉ vì Đấng Cứu Chuộc đã gánh chịu lời nguyền của tội lỗi thay cho chúng ta, mà con người, trong chính mình, mới có thể hy vọng thoát khỏi những hậu quả khủng khiếp của nó.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 522.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 11, 6 – 12 Tháng 12
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giô-suê 22; Ê-phê-sô 6:7; Giăng 7:24; Dân số Ký 25; Châm ngôn 15:1; 1 Phi-e-rơ 3:8, 9.
CÂU GỐC: ‘“Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận; còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm”’ (Châm ngôn 15:1).
Đọc Giô-suê 22:1–8. Những câu này cho chúng ta biết gì về cam kết của người Ru-bên, người Gát, và nửa chi phái Ma-na-se?
Giô-suê xác định rằng các chi phái bên kia sông Giô-đanh đã làm tròn các nghĩa vụ mà Môi-se và chính ông đã giao phó. Họ đã dâng hiến và hy sinh rất nhiều vì mục tiêu chung của Y-sơ-ra-ên. Họ đã đồng chiến đấu với anh em trong “nhiều ngày,” mà trên thực tế đó là khoảng sáu đến bảy năm (so sánh với Giô-suê 11:18; 14:10, Phục truyền 2:14). Họ đã để vợ con ở lại nhà, phía đông của Giô-đanh. Họ đã quyết tâm cùng chiến đấu với anh em, đối mặt với cái chết hay thương tích trong chiến trận.
Những câu Kinh Thánh này gián tiếp nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thống nhất của quốc gia và lãnh thổ. Liệu các chi phái Y-sơ-ra-ên có hợp nhất, bất chấp một biên giới thiên nhiên là sông Giô-đanh phân cách họ? Liệu họ sẽ để địa lý đánh dấu bản sắc dân tộc họ, hay họ sẽ để sự thờ phượng chung một Đức Chúa Trời duy nhất giữ họ là quốc gia được chọn, thống nhất và đoàn kết dưới sự hướng dẫn thiêng liêng của Ngài?
Giô-suê giải thích cách duy nhất mà họ đã có được sự thuỷ chung, ấy là vì dân Y-sơ-ra-ên không phục vụ đồng bào Y-sơ-ra-ên, mà chỉ phục vụ chính Đức Giê-hô-va, Đấng đã giao phó sứ mạng cho họ.
Chúng ta tìm thấy cũng nguyên tắc này trong Tân Ước. Sứ đồ Phao-lô đã nhắc nhở các Cơ Đốc nhân hãy phục sự như thể họ đang làm việc cho Chúa chứ không chỉ với người ta (Ê-phê-sô 6:7, Cô-lô-se 3:23, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:4). Còn gì cao cả hơn việc phục sự Đấng Tạo Hoá?
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường phải đối mặt với lắm thách thức và khó khăn, những điều có thể dễ dàng ngăn cản và khiến chúng ta muốn từ bỏ cuộc chiến. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhờ cậy quyền năng của Đức Chúa Trời, Đấng hứa sẽ ở bên chúng ta và giúp chúng ta làm những gì Ngài mong muốn. Nếu chúng ta để sứ mạng cao cả đằng trước, nó sẽ cho chúng ta động lực để tiến bước cách mạnh mẽ, bất chấp những thách thức và sự nản lòng không thể tránh khỏi.
Giô-suê 22:5, 6 kể lại rằng Giô-suê đã kêu gọi các chi phái sắp rời đi hãy giữ lòng trung tín với Đức Giê-hô-va, và ông chúc phước cho họ. Mối tương giao trong hội thánh sẽ được thay đổi ra sao nếu chúng ta cầu nguyện cho nhau nhiều hơn?
Đọc Giô-suê 22:9-20. Các chi phái bên phía tây sông Giô-đanh đã buộc tội gì đối với các chi phái bên phía đông? Những lời buộc tội này chính đáng đến mức nào?
Trong câu 1, các chi phái ở phía đông được gọi bằng tên thông thường (người Ru-bên, người Gát v.v,), trong khi ở câu 25, họ được gọi cách khác, “con cháu Ru-bên, con cháu Gát.” Điều này có sự phân biệt với “con cháu Y-sơ-ra-ên.”
Trong câu chuyện kể lại, cụm từ “cả hội chúng Y-sơ-ra-ên” chỉ nói về chín chi phái rưỡi [9 ½] phía tây sông Giô-đanh, nhấn mạnh sự rạn nứt nẩy ra giữa hai nhóm. Thật vậy, câu hỏi cơ bản của câu chuyện tiếp theo là liệu các chi phái ở phía đông của sông có thể được chấp nhận là người Y-sơ-ra-ên hay không.
Căng thẳng phát sinh khi có báo cáo rằng các chi phái từ phía đông đã dựng lên một bàn thờ bên sông Giô-đanh. Văn bản ở đây không cho biết lý do lập bàn thờ, không mô tả chức năng hay một hoạt động cụ thể liên quan đến bàn thờ. Sự mơ hồ về ý nghĩa của bàn thờ này được tăng cao độ nếu chúng ta quay lại chương 3 và 4 nói về việc vượt sông lần đầu, nơi tất cả Y-sơ-ra-ên bước vào mé sông Giô-đanh để băng qua sông vào đất liền Cana-an. Lúc này một phần của Y-sơ-ra-ên đến miền Giô-đanh, nhưng bây giờ để băng qua sông theo hướng ngược lại.
Trong cả hai trường hợp, một cấu trúc bằng đá được dựng lên. Cấu trúc đầu tiên được dùng như là một đài tưởng niệm, trong khi cấu trúc thứ hai được coi là một bàn thờ đầy ấn tượng. Câu hỏi chắc chắn xuất hiện trong tâm trí là: Những hòn đá này có ý nghĩa gì? (So sánh với Giô-suê 4:6, 22). Đây có phải là bàn thờ được dựng nên để dâng tế lễ, hay nó chỉ là một đài tưởng niệm? Có phải những chi phái khác đã bắt đầu rơi vào sự bội giáo?
Thiếu tham vấn với Giô-suê, Ê-lê-a-sa và các nhà lãnh đạo các chi phái gây ra một sự hiểu lầm có khả năng dẫn đến xung đột khủng khiếp.
Đức Chúa Giê-su và Phao-lô nói gì khi khuyên chúng ta tránh đoán xét người khác? Đọc Lu-ca 6:37, Giăng 7:24, 1 Cô-rinh-tô 4:5. Tại sao việc đưa ra kết luận sai lầm về động cơ thúc đẩy của người khác là điều rất dễ làm?
Đọc lại Giô-suê 22:13-15 cùng với Dân số Ký 25. Tại sao dân Y-sơ-ra- ên chọn Phi-nê-a làm trưởng phái đoàn đi gặp hai chi phái rưỡi?
Trước những lời đồn đãi về “tuyên ngôn độc lập” của hai chi phái rưỡi kia, chín chi phái rưỡi còn lại, được xem là “cả hội chúng Y-sơ-ra-ên,” đã gửi một phái đoàn để biết rõ ràng ý định và ý nghĩa của bàn thờ. Phái đoàn gồm có Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, người sẽ tiếp nối công việc của Ê-lê-asa sau khi ông qua đời (Giô-suê 24:33). Phi-nê-a được biết đến như thầy tế lễ đã chấm dứt sự đồi trụy của Y-sơ-ra-ên tại Ba-anh Phê-ô (Dân số Ký 25).
“Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, cháu A-rôn, thầy tế lễ, thấy sự này, bèn đứng dậy giữa hội chúng, cầm một cây giáo; đi theo người Y-sơ-ra-ên vào trong trại, đâm ngang dạ dưới của người Y-sơ-ra-ên và người đàn bà; tai vạ giữa dân Y-sơ-ra-ên bèn ngừng lại” (Dân số Ký 25:7, 8).
Phi-nê-a chắc chắn là người có uy tín. Các sứ giả khác là đại diện của chín chi phái rưỡi phía tây Giô-đanh, những trưởng tộc trong các chi phái của Y-sơ-ra-ên.
Phái đoàn mở ra bản cáo trạng về tội phạm thượng và bất trung. Sự khác biệt ở đây là không phải là Đức Giê-hô-va nói, mà là “cả hội chúng của Đức Giê-hô-va hỏi” (Giô-suê 22:16). Họ đưa ra lời buộc tội rằng Y-sơ-ra-ên đã phạm tội phản nghịch và bất trung. Từ bất trung cũng được dùng để mô tả tội lỗi A-can (Giô-suê 7:1) và xuất hiện nhiều lần trong năm cuốn sách đầu tiên của Môi-se (ví dụ, Lê-vi Ký 5:15; Lê-vi Ký 6:2; Dân số Ký 5:6, 12). Các ví dụ về A-can và Ba-anh Phê-ô đóng vai trò như tiền lệ: một là cho sự bất trung, còn một là sự nổi loạn. Họ cũng bày tỏ nỗi sợ hãi của 9 chi phái rưỡi rằng hành động xây dựng một bàn thờ trái phép sẽ dẫn đến sự bội đạo, thờ hình tượng và vô đạo đức, là những điều sẽ kích thích cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với toàn quốc Y-sơ-ra-ên.
Chúng ta ai mà chẳng có những kinh nghiệm tiêu cực từ quá khứ, ảnh hưởng đến cách chúng ta đối phó với các biến cố tương tự trong tương lai. Ân điển của Đức Chúa Trời có thể giúp gì cho chúng ta, để những thảm nạn trong quá khứ, không định đoạt cách chúng ta đối xử với người lân cận trong hiện tại?
Đọc Giô-suê 22:21-29 cùng với Châm ngôn 15:1. Chúng ta học được gì từ câu trả lời của các chi phái phía đông?
Câu trả lời của những người bị buộc tội, thẳng thắn và mạnh mẽ không kém lời cáo trạng, tạo nên chủ đề và cấu trúc của chương sách. Các chi phái bị buộc tội đã im lặng nghe lời cáo tội với một kiên nhẫn đáng khen. Thái độ mẫu mực của họ bày tỏ ý nghĩa của câu châm ngôn: “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận; Còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm” (Châm ngôn 15:1).
Câu mở đầu của lời biện hộ là một chuỗi các tên thiêng liêng của Chúa của dân Y-sơ-ra-ên: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời (Giô-suê 22:22). Nó được nhấn mạnh hai lần như một lời thề nghiêm trọng để xua tan những nghi ngờ và lời buộc tội sai lầm, điều gần như đưa đến nội chiến. Họ tin chắc rằng Đức Chúa Trời biết và hiểu tình hình, và hy vọng rằng phái đoàn hiện diện sẽ đi đến cùng một kết luận. Hai chi phái rưỡi cũng nhận biết trách nhiệm của họ trước Đức Chúa Trời, bằng cách kêu gọi Ngài báo trả (so sánh với Phục truyền 18:19, 1 Sa-mu-ên 20:16) nếu họ thực sự có tội.
Một tiết lộ đáng ngạc nhiên theo sau, một mặt nó chứng minh cáo trạng là vô căn cứ (một bàn thờ không thể chỉ là nơi để tế lễ) và mặt khác, nó tiết lộ động lực thực sự của họ. Nỗi lo sợ phải bị tách rời khỏi Y-sơ-ra-ên, chứ không phải sự bội đạo, là căn cứ thực sự cho hành động của họ. Do đó, việc dựng bàn thờ không phải là bằng chứng của sự bội đạo, như người ta đã tưởng. Trên thực tế, điều ngược lại mới là đúng: họ đã hành động vì kính sợ Chúa, giống như các chi phái phía tây Giô-đanh đã làm. Căn bản thực sự để Y-sơ-ra-ên thống nhất không phải là địa lý, hay sự thừa kế mà là lòng trung thành thuộc linh của họ đối với các yêu cầu của Đức Giê-hô-va.
Mối quan tâm thật lòng của các chi phái phía tây giòng sông, cũng được tiết lộ qua sự họ thành thật vui mừng, khi các chi phái phía đông xác định sự vô tội của mình. Thay vì bất mãn, họ đích thực hân hoan khi thấy những hoài nghi của họ là sai lầm. Nội chiến ở Y-sơ-ra-ên đã được cứu vãn, và sự thống nhất của quốc gia được bảo tồn.
Bạn xử lý ra sao những lời buộc tội sai lầm? Chia sẻ một số nguyên tắc hướng dẫn thái độ của bạn. Đọc Thi thiên 37:3– 6, 34, 37 để thêm cảm hứng.
Đọc Giô-suê 22:30– 34. Trọn biến cố này, cho chúng ta cái nhìn sâu sắc ra sao về việc giải quyết xung đột, và phương cách đảm bảo sự thống nhất của hội thánh? (So sánh với Thi thiên 133; Giăng 17: 20– 23; 1 Phi-e-rơ 3:8, 9.)
Qua Giô-suê 22 chúng ta học được một số nguyên tắc về giao tiếp có thể áp dụng vào các mối tương giao hàng ngày trong gia đình, hội thánh và cộng đồng.
1. Khi mọi thứ đi sai, hoặc dường như đi sai, điều cần nhất là nên giao tiếp thay vì đè nén các quan sát của mình cho đến khi chúng bùng nổ. Khi có vấn đề, con cái Chúa không nên thờ ơ. Và dĩ nhiên nếu các chi phái phía đông Giô-đanh cho biết trước ý định họ xây cất bàn thờ thì sẽ không có sự hiểu lầm xảy ra.
2. Ngay cả khi một người chắc chắn về nhận xét của mình, cũng đừng nên vội vàng kết luận. Các chi phái phía tây sông Giô-đanh đã mau mắn tin vào lời đồn đãi và rút ra kết luận sai lầm rằng các chi phái bên kia đã bội đạo.
3. Cân nhắc thực hư trước khi hành động căn cứ trên kết luận của mình.
4. Sẵn sàng hy sinh để đạt được sự hợp nhất. Các chi phái phía tây Giô-đanh đã sẵn sàng từ bỏ một phần của đất cấp cho họ để chia với các chi phái khác, nếu việc phải ở bên kia Giô-đanh là nguyên nhân của sự bội đạo giả định của họ.
5. Khi bị buộc tội, sai hoặc đúng, một câu trả lời nhẹ nhàng có thể làm nguôi sự phẫn nộ. Nếu trả lời một lời buộc tội với một lời buộc tội đối chát khác thì sẽ chẳng bao giờ dẫn đến hòa bình. Cố gắng hiểu người trước khi muốn người hiểu mình.
6. Hãy vui mừng và tạ ơn Đức Chúa Trời khi hòa bình được tái lập. Thật tuyệt vời khi thấy rằng, hội chúng Y-sơ-ra-ên đã trải nghiệm niềm vui chân thực, khi họ biết về động lực thực sự của hai chi phái rưỡi kia. Họ không quá tự hào về sự phán xét của mình đến nỗi không chấp nhận rằng họ đã sai.
Nếu các chi phái phía đông Giô-đanh bội đạo, dân Y-sơ-ra-ên sẽ phải áp dụng các điều kiện của giao ước. Không thể vì sự hiệp nhất mà để lu mờ sự thật hoặc từ bỏ các nguyên tắc Kinh Thánh. Dầu vậy, kỷ luật của hội thánh luôn phải là giải pháp cuối cùng (chứ không phải là giải pháp đầu tiên), sau khi các nỗ lực hòa giải và mục vụ hỗ trợ dựa trên Lời Chúa thất bại. Các hội thánh của chúng ta sẽ khác biệt biết bao, nếu những nguyên tắc đơn giản này được áp dụng một cách nhất quán!
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “ Đọc Ellen G. White, “The Division of Canaan,” tr. 517–520, trong Patriarchs and Prophets.
“Một mặt, điều quan trọng là phải tránh sự dễ dãi trong việc xử lý tội lỗi; nhưng mặt khác, cũng quan trọng không kém là phải tránh sự phán xét khắt khe và những nghi ngờ vô căn cứ. . . .”
“Sự khôn ngoan mà người Ru-bên và những người bạn đồng hành của họ thể hiện thật đáng để noi theo. Trong khi thành thật tìm cách thúc đẩy sự tồn tại của tôn giáo chân chính, họ đã bị phán đoán sai và bị chỉ trích nghiêm khắc; nhưng họ không biểu lộ sự oán giận. Họ lắng nghe một cách lịch sự và kiên nhẫn những lời buộc tội của anh em mình trước khi cố gắng bào chữa, rồi giải thích đầy đủ động cơ của họ và cho thấy sự trong sạch của họ. Do đó, vấn đề có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng đã được giải quyết một cách thân thiện.
“Ngay cả khi bị buộc tội sai, những người làm đúng vẫn có thể bình tĩnh và cân nhắc. Chúa biết tất cả những gì bị con người hiểu lầm và diễn giải sai, và chúng ta có thể an toàn giao sự việc của mình trong tay Ngài. Ngài chắc chắn sẽ minh oan cho những ai tin cậy Ngài, cũng như Ngài tìm ra tội lỗi của A-can. Những ai được thúc đẩy bởi tinh thần của Đấng Christ sẽ sở hữu lòng bác ái chịu đựng lâu dài và nhân từ.
“Đức Chúa Trời muốn sự hiệp nhất và tình yêu thương anh em phải tồn tại giữa dân sự Ngài. Lời cầu nguyện của Đấng Christ ngay trước khi Ngài bị đóng đinh, là để các môn đồ có thể hiệp nhất như Ngài hiệp nhất với Chúa Cha, hầu thế gian có thể tin rằng Chúa Cha đã sai Ngài đến. Lời cầu nguyện cảm động và tuyệt vời nhất này vẫn tiếp tục qua nhiều thời đại, thậm chí cho đến ngày nay; vì lời Ngài là, ‘Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa’ (Giăng 17:20). Mặc dù chúng ta không được hủy bỏ một nguyên tắc chân lý nào, nhưng mục tiêu là đạt đến sự hiệp nhất.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 519, 520.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 10, 29 Tháng 11 – 5 Tháng 12
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Cô-rinh-tô 10:1–13; Ma-thi-ơ 2:15; Giô-suê 1:1–3; Công vụ 3:22–26; Hê-bơ-rơ 3:7- 4:11; 2 Cô-rinh-tô 10:3–5.
CÂU GỐC: ‘“Những sự ấy có nghĩa hình bóng, và họ đã lưu truyền để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời”’ (1 Cô-rinh-tô 10:11).
Nghiên cứu: Rô-ma 5:14, 1 Cô-rinh-tô 10:1–13, Hê-bơ-rơ 8:5 và Hê- bơ-rơ 9:23. Các câu Kinh Thánh này nói gì về hình bóng và chúng có ý nghĩa gì?
Những đoạn Kinh Thánh này dùng từ ”hình bóng” (tiếng Hy Lạp: typos) hay “kiểu mẫu” (tiếng Hy Lạp: antitypos), chẳng hạn như đền thánh trong Cựu Ước là hình bóng của Đền thánh thật sự trên trời. Hay một sự kiện trong Cựu Ước là hình bóng của một sự kiện khác sẽ xảy ra trong tương lai.
Khi chúng ta nghiên cứu về biểu tượng hoặc kiểu, chúng ta bắt đầu với các nhân vật, sự kiện hoặc tổ chức trong Cựu Ước và xem xét cách chúng báo trước về Đức Chúa Giê-su hoặc lẽ thật Thánh Kinh trong Tân Ước ra sao. Đức Chúa Trời dùng hình bóng hay kiểu mẫu trong Cựu Ước để giúp chúng ta hiểu Lẽ thật Phúc âm. Do đó, kiểu mẫu trong Kinh Thánh được định hình theo một thiết kế thiêng liêng đã hiện diện trong thực tế hoặc trong trong tâm trí của Đức Chúa Trời, và nó được dùng để định hình những kiểu mẫu trong tương lai.
Điều thiết yếu là phải hiểu rằng, các tác giả Tân Ước không gán một cách bừa bãi ý nghĩa “hình bóng” cho một số văn bản Cựu Ước, để hỗ trợ quan điểm của họ. Một hình bóng Cựu Ước phải luôn được chứng thực trong các sách tiên tri, trước khi nó có được sự ứng nghiệm của kiểu đối chứng trong Tân Ước.
Hãy xem cách Đa-vít được mô tả trong Cựu Ước, và sau đó là cách ông được định hình trước trong Tân Ước. Chúng ta có thể học được gì về cách kiểu mẫu hoạt động từ ví dụ này?
a. Đa-vít (Thi thiên 22:1, 14–18):
b. Đa-vít mới (Giê-rê-mi 23:5; Ê-sai 9:5, 6; Ê-sai 11:1–5):
c. Đa-vít ứng nghiệm hình bóng (Giăng 19:24):
Khi xem xét các văn bản này, chúng ta khám phá ra rằng chính Cựu Ước cung cấp chìa khóa để xác định và áp dụng các hình bóng trong Kinh Thánh. Nghĩa là, các tác giả Tân Ước, những người có Cựu Ước là Kinh Thánh, đã được Đức Thánh Linh soi dẫn để sử dụng các hình bóng trong Cựu Ước để tiết lộ “lẽ thật hiện tại” (2 Phi-e-rơ 1:12), đặc biệt là về Đức Chúa Giê-su và chức vụ của Ngài.
Những người giải thích Kinh Thánh không thể tùy tiện quyết định gì là hình bóng Thánh Kinh hoặc chúng có nghĩa gì trong Tân Ước. Chính tự Kinh Thánh chỉ cho chúng ta các biểu tượng và ý nghĩa của chúng.
Mỗi hình bóng trong Cựu Ước có thể có ba ý nghĩa khác nhau trong Tân Ước. Ba giai đoạn sau đây có thể giúp chúng ta hiểu các ý nghĩa ấy: (1) Biểu tượng chỉ cho chúng ta sự ứng nghiệm về Đấng Christ, (2) Biểu tượng chỉ cho chúng ta kinh nghiệm của hội thánh (sự ứng nghiệm về giáo hội học), và (3) biểu tượng chỉ gì về thời kỳ cuối cùng (sự ứng nghiệm về ngày tận thế).
Chúng ta có thể thấy những biểu tượng và sự ứng nghiệm của chúng trong suốt Kinh Thánh, và chúng rất hữu ích trong việc chỉ cho độc giả hiểu Kinh Thánh và các lẽ thật về Lời của Đức Chúa Trời dạy về Đức Chúa Giê- su, sự cứu rỗi và hy vọng cuối cùng mà chúng ta có.
Hãy xem các hình bóng Cựu Ước sau: Y-sơ-ra-ên, Xuất hành khỏi Ê-díptô, và Đền thánh. Mỗi biểu tượng được ứng nghiệm như thế nào trong ba giai đoạn đối chứng: giai đoạn Cơ Đốc học (Christological), giai đoạn Giáo hội học (Ecclesiological) và giai đoạn Tận thế học (Eschatological)?
1. Y-sơ-ra-ên
a. Giai đoạn Cơ Đốc học (Ma-thi-ơ 2:15)
b. Giai đoạn Giáo hội học (Ga-la-ti 6:16)
c. Giai đoạn Tận thế học (Khải huyền 7:4-8, 14)
2. Cuộc Xuất hành
a. Giai đoạn Cơ Đốc học (Ma-thi-ơ 2:19–21)
b. Giai đoạn Giáo hội học (2 Cô-rinh-tô 6:17)
c. Giai đoạn Tận thế học (Khải huyền 18:4)
3. Đền thánh
a. Giai đoạn Cơ Đốc học (Giăng 1:14, Giăng 2:21, Ma-thi-ơ 26:61)
b. Giai đoạn Giáo hội học (1 Cô-rinh-tô 3:16, 17; 2 Cô-rinh-tô 6:16)
c. Giai đoạn Tận thế học (Khải huyền 3:12, Khải huyền 11:19, Khải huyền 21:3, Khải huyền 21:22)
“Vì Kinh Thánh chỉ có một Tác giả thiêng liêng duy nhất, nên các phần của Kinh Thánh đều nhất quán với nhau. . . . Tất cả các giáo lý của Kinh Thánh sẽ gắn kết với nhau; cách diễn giải từng đoạn văn sẽ hòa hợp với toàn bộ những gì Kinh Thánh dạy về một chủ đề nhất định.”—Handbook of Seventh-day Adventist Theology, tr. 65.
Bạn làm gì những khi bạn thấy ý nghĩa của một số đoạn Kinh Thánh khó hiểu?
Cuộc đời của Môi-se và Giô-suê tương tự ra sao? Giô-suê là hình bóng của Môi-se qua cách nào? Xem Xuất Ê-díp-tô Ký 3:1, 2; Giô-suê 1:1–3; Dân số Ký 13:1, 2; Giô-suê 2:1; Xuất Ê-díp-tô Ký 3:5; Giô-suê 5:15.
Như chúng ta đã học qua trong tuần đầu tiên, Giô-suê được giới thiệu như một Môi-se mới, người của thế hệ thứ hai, người lặp lại những bước quan trọng nhất của Cuộc Xuất hành khỏi Ai Cập. Cũng như Môi-se, Giô- suê được ủy nhiệm bởi một cuộc gặp gỡ cá nhân với Đức Chúa Trời. Dưới sự lãnh đạo của cả hai, danh tiếng của Y-sơ-ra-ên khiến các quốc gia khác phải run sợ. Môi-se dẫn Y-sơ-ra-ên băng qua Biển Đỏ, Giô-suê dẫn họ vượt Sông Giô-đanh một cách diệu kỳ. Cả hai nhà lãnh đạo đều được nhắc nhở về sự cần thiết của phép cắt bì và tầm quan trọng của Lễ Vượt qua. Bánh Mana bắt đầu rơi vào thời của Môi-se, và kết thúc với Giô-suê. Cả hai đều được lệnh cởi giày ra. Bàn tay giơ ra của cả hai báo hiệu chiến thắng cho Y-sơ-ra- ên. Môi-se đưa ra các chỉ thị về việc phân chia đất đai và thiết lập các thành phố trú ẩn. Giô-suê thực hiện các chỉ thị. Cả hai đều có bài diễn văn từ biệt dân tộc và làm mới lại giao ước với dân sự vào cuối chức vụ của họ.
Nghiên cứu Phục truyền 18:15–19; Phục truyền 34:10–12; Giăng 1:21, Công vụ 3:22–26 và Công vụ 7:37. Ai làm ứng nghiệm lời tiên tri của Môi-se về một tiên tri giống như chính ông? Giô-suê phù hợp với vai trò này ra sao?
Cuộc đời của Giô-suê là sự ứng nghiệm một phần lời tiên tri của Môi-se (Phục truyền 18:15, 18). Tuy nhiên, lời tiên tri của Môi-se không được ứng nghiệm theo nghĩa tối thượng của nó. Theo nghĩa ấy, lời tiên tri chỉ có thể được hoàn thành (hoặc ứng nghiệm) bởi Đấng Mê-si. Ngài biết rõ Đức Chúa Cha (Giăng 1:14, 18); Ngài là chân lý và đã bày tỏ Đức Chúa Trời một cách trung thực (Lu-ca 10:22, Giăng 14:6, Ma-thi-ơ 22:16). Đức Chúa Trời thực sự đã đặt lời Ngài vào miệng Chúa Giê-su (Giăng 14:24). Vì vậy, cả cuộc đời của Môi-se và Giô-suê đều trở thành bóng của Đấng Mê-si sắp đến, là Đức Chúa Giê-su.
Trong hành trình theo Chúa của bạn, Đức Chúa Giê-su quan trọng ra sao? Tại sao Chúa Giê-su và những gì Ngài đã làm cho bạn phải là nền tảng cho toàn bộ trải nghiệm Cơ Đốc của bạn?
Câu chuyện về Giô-suê phải được nhìn qua lăng kính của hình bóng học. Các cuộc chiến do Giô-suê tiến hành là những sự kiện lịch sử, tạo nên một phần thiết yếu trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Mục tiêu của những cuộc chiến này là để định cư người Y-sơ-ra-ên ở Đất Hứa, nơi họ có thể hưởng thụ sản nghiệp nhận được trong hòa bình; và cũng để thiết lập một xã hội mới dựa trên các nguyên tắc của luật pháp Đức Chúa Trời.
Sau đó, các tác giả Cựu Ước, chẳng hạn như Ê-sai, trình bày công việc của Đấng Mê-si cũng bao gồm việc “chia đất hoang vu làm sản nghiệp [cho dân sự Ngài]” (Ê-sai 49:8), dùng một thuật ngữ thường thấy trong sách Giô-suê. Vì nhiệm vụ của Giô-suê là phân chia đất đai cho dân Y-sơ-ra-ên, nên Đấng Mê-si, được miêu tả như là Giô-suê mới, giao sản nghiệp thuộc linh cho một Y-sơ-ra-ên mới.
Đọc Hê-bơ-rơ 3:7– 4:11. Tân Ước xác nhận Giô-suê, một Môi-se mới, chính là hình bóng của Đức Chúa Giê-su Christ như thế nào?
Các tác giả Tân Ước đã trình bày nhiều khía cạnh về chức vụ của Đức Chúa Giê-su Christ dựa theo công việc của Giô-suê. Giô-suê đặt chân đến Ca-na-an sau 40 năm trong nơi hoang dã, thì “Giô-suê mới”— Đức Chúa Giê-su—cũng bước vào chức vụ trên đất của Ngài sau 40 ngày trong đồng vắng (Ma-thi-ơ 4:1–11, Lu-ca 4:1–13); và chức vụ trên trời của Ngài sau 40 ngày trong đồng vắng của trái đất này (Công vụ 1:3, 9–11; Hê-bơ-rơ 1:2).
Sau khi Đức Chúa Giê-su chịu phép báp têm ở sông Giô-đanh (Ngài “băng qua sông Giô-đanh” [Ma-thi-ơ 3:13–17, Mác 1:9–11]), các tác giả Phúc âm trích dẫn Thi thiên 2:7 và Ê-sai 42:1, từ một bài thánh thi về Đấng Mê-si và từ một bài ca về Người Tôi tớ Đau khổ của Đức Giê-hô-va (Ma-thi-ơ 3:17, Mác 1:11, Lu-ca 3:22). Do đó, qua sự báp têm của mình, Đức Chúa Giê-su được trình bày như một chiến sĩ thiêng liêng, người sẽ—qua một cuộc đời vâng phục trung thành, thậm chí đến chết—tiến hành các cuộc chiến của Đức Giê-hô-va chống lại các thế lực tà ác. Cuộc đời và cái chết của Ngài trên thập tự giá, đã mang lại việc trục xuất Sa-tan, dẫn đầu cuộc chinh phục những kẻ thù thuộc linh của chúng ta, mang đến sự nghỉ ngơi thuộc linh cho dân sự Ngài và phân bổ cơ nghiệp cho những người được cứu (Ê-phê-sô 4:8, Hê-bơ- rơ 1:4, Hê-bơ-rơ 9:15).
Được “nghỉ ngơi” trong những gì Đấng Christ đã làm cho chúng ta có nghĩa là gì? Làm sao chúng ta có thể chắc rằng Đức Chúa Giê-su đã đánh bại Sa-tan thay cho chúng ta?
Giô-suê, cũng là hình bóng của hội thánh, thân thể của Đấng Christ. Những trận chiến của Y-sơ-ra-ên dưới sự lãnh đạo của Giô-suê báo trước thế nào về những tranh chiến thuộc linh của hội thánh? Chúng khác nhau ra sao? Xem 1 Ti-mô-thê 1:18; 2 Ti-mô-thê 4:7; Ê-phê-sô 6:10–12; 2 Cô- rinh-tô 10:3–5; và Công vụ 20:32.
Các tác giả Tân Ước hiểu rằng Giô-suê là một hình bóng của hội thánh. Các chi trong thân thể của Đấng Christ, tức hội thánh, tham gia vào cuộc chiến thuộc linh chống lại các thế lực tà ác; tuy nhiên, họ được hưởng sự nghỉ ngơi của ân điển của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 4:9–11) và các phước lành của cơ nghiệp thuộc linh của họ.
Những câu Kinh Thánh này nói gì về sự ứng nghiệm tối thượng của hình bóng Giô-suê? 1 Phi-e-rơ 1:4, Cô-lô-se 3:24, Khải huyền 20:9, Khải huyền 21:3.
Sự ứng nghiệm cuối cùng và trọn vẹn của hình bóng Giô-suê, sẽ được hoàn thành khi Đức Chúa Giê-su Christ tái lâm (khía cạnh khải huyền/cánh chung).
Cuộc đời của Giô-suê phản ánh rất nhiều về bản tính của Đức Chúa Trời, đến nỗi một số khía cạnh trong cuộc đời ông, mang tính chất tiên tri báo trước công việc và con người của Đấng Mê-si.
Đối với chúng ta, ngày nay, Đấng Mê-si đã đến. Chức vụ của Ngài không cần phải được báo trước, nhưng chúng ta vẫn có đặc ân được phản ánh bản tính của Ngài—sự vinh hiển mà Đấng Christ mong muốn chia sẻ với các môn đồ của Ngài (Giăng 17:22). Chúng ta có thể có sự vinh hiển này bằng cách suy gẫm về bản chất của Đấng Christ (2 Cô-rinh-tô 3:18). Càng suy gẫm về Ngài, chúng ta càng phản ảnh vẻ đẹp của Ngài. Đây là lý do tại sao, việc dành thời gian cho Lời Chúa mỗi ngày rất là quan trọng. Đúng vậy, khi chiêm ngưỡng Ngài, chúng ta sẽ được thay đổi.
Giô-suê, hình bóng, đã hỏi dân Y-sơ-ra-ên: “Các ngươi còn trì hoãn cho đến bao giờ, không đi chiếm lấy xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi đã ban cho các ngươi?” (Giô-suê 18:3). Đức Chúa Giê-su, Giô-suê mới, sẽ diễn đạt câu hỏi đó thế nào hôm nay?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Những người thời Đấng Christ không hiểu được sứ mạng của Ngài. . . .Những truyền thống, quy tắc, luật lệ của loài người đã che dấu những bài học mà Đức Chúa Trời muốn truyền đạt đến họ. Những quy tắc và truyền thống này đã trở thành chướng ngại vật ngăn cản sự hiểu biết và thực hành tôn giáo chân chính của họ. Và khi Đấng Christ đến, họ đã không nhận ra Ngài trong sự ứng nghiệm của tất cả các hình bóng. Họ đã từ chối thực tại của hình bóng, và bám vào các biểu tượng và nghi lễ vô ích của họ. Con yêu dấu của Đức Chúa Trời đã đến, nhưng họ vẫn tiếp tục cầu xin một dấu hiệu. Sứ điệp, ‘Hãy ăn năn; vì nước thiên đàng đã đến gần,’ họ trả lời bằng cách yêu cầu một phép lạ. . . . Phúc âm của Đấng Christ là một thứ vướng chân họ vì họ yêu cầu các dấu hiệu thay vì một Đấng Cứu Rỗi. Họ trông mong Đấng Mê-si chứng minh các tuyên bố của Ngài bằng những hành động chinh phục vĩ đại, để thiết lập đế chế Ngài trên tàn tích của các vương quốc trần gian. Đấng Christ đã trả lời kỳ vọng này trong câu chuyện ngụ ngôn về người gieo giống. Không phải bằng vũ khí, không phải bằng bạo lực, mà vương quốc của Đức Chúa Trời được bày tỏ, nhưng bằng cách gieo một nguyên tắc mới vào lòng con người.”—Ellen G. White, Christ’s Object Lessons, tr. 34, 35.
“Hội thánh cần những Ca-lép và Giô-suê trung tín, những người sẵn sàng chấp nhận sự sống đời đời với điều kiện đơn giản là vâng lời Đức Chúa Trời. Các hội thánh của chúng ta đang cần nhiều nhân công. Thế giới là cánh đồng của chúng ta. Những nhà truyền giáo được cần đến các thành phố và làng mạc, nơi con người chắc chắn bị trói buộc bởi sự thờ thần tượng còn hơn cả những người ngoại ở phương Đông, những người chưa bao giờ nhìn thấy ánh sáng của lẽ thật. Tinh thần truyền giáo chân thực đã lìa bỏ các hội thánh vốn xưng mình là cao quý; nhưng lòng không còn cháy bỏng tình yêu dành cho các linh hồn và mong muốn dẫn dắt họ vào trong bầy của Đấng Christ. Chúng ta cần những người làm việc tận tụy. Chẳng lẽ không có ai đáp lại tiếng kêu vang từ mọi phía: ‘Hãy đến… và cứu giúp chúng tôi’ sao?” (Công vụ 16:9)—Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 4, tr. 156.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 9, 22 – 28 Tháng 11
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 3:17–24; Phục truyền Luật lệ Ký 6:3; Giô-suê 13:1–7; Hê-bơ-rơ 12:28; Lê-vi Ký 25:1–5, 8–13; Ê-xê-chi-ên 37:14, 25.
CÂU GỐC: ‘“Hỡi những kẻ tù có trông cậy, các ngươi khá trở về với đồn lũy, chính ngày nay ta rao rằng sẽ báo trả cho ngươi gấp hai”’ (Xa-cha-ri 9:12).
Đọc Sáng thế Ký 2:15 và Sáng thế Ký 3:17–24. Hậu quả của Sự Sa Ngã là gì, chỉ nói về nơi ăn chốn ở của hai con người đầu tiên?
Vào lúc Sáng thế, Đức Chúa Trời đã đặt A-đam và Ê-va sống trong một môi trường hoàn hảo, tràn đầy sự sung túc và vẻ đẹp. Cặp đầu tiên của nhân loại đã gặp Đấng Tạo hóa trong một chỗ sống xinh đẹp, nơi đáp ứng mọi nhu cầu thể chất của họ. Không những họ được nghe lời Chúa phán tại đây, vườn Địa Đàng còn là trung tâm học hỏi, nơi A-đam và Ê-va có được cái nhìn sâu sắc về bản tính của Đức Chúa Trời và đời sống mà Ngài đã định cho họ. Do đó, khi họ phá vỡ mối liên hệ tin cậy với Đấng Tạo hóa của mình, mối liên hệ của họ với vườn Địa Đàng cũng thay đổi theo; và, như một dấu hiệu của mối tương giao tan vỡ, họ phải rời khỏi khu vườn. Họ mất đi lãnh thổ mà Đức Chúa Trời đã ban cho. Vì vậy, vườn Ê-đen đã trở thành biểu tượng của một đời sống phong phú, và chúng ta sẽ khám phá lại các hình ảnh của nó trong chủ đề Đất Hứa.
Các tổ phụ đã nhận thức lời hứa về đất ra sao? (Xem Sáng thế Ký 13:14,15; Sáng thế Ký 26:3, 24; Sáng thế Ký 28:13). Sống như những người thừa kế những lời hứa ấy (Hê-bơ-rơ 6:11–15) có ý nghĩa gì đối với chúng ta?
Khi Áp-ra-ham bước vào vùng đất mà Đức Chúa Trời đã chỉ cho ông, bởi đức tin, vùng đất đó đã trở thành Đất Hứa cho ông và dòng dõi ông. Nó vẫn là Đất Hứa trong 400 năm. Các tổ phụ không thực sự sở hữu đất đó; đất không phải của họ theo cách mà họ có thể để lại cho con cháu mình như một di sản. Đất đó thuộc về Đức Chúa Trời, cũng như vườn Ê-đen thuộc về Ngài. A-đam và Ê-va chẳng làm điều gì để được hưởng Ê-đen, và Y-sơ-ra-ên cũng chẳng đóng góp điều gì để xứng đáng hưởng vùng đất đó. Đất Hứa là món quà của Đức Chúa Trời dựa trên chủ động của Ngài. Y-sơ-ra-ên không có quyền thừa tự hay yêu sách gì để sở hữu vùng đất đó (Phục truyền 9:4–6), nhưng chỉ với ân điển của Đức Chúa Trời mà họ có được đất.
Các tổ phụ là người thừa kế các lời hứa cho đến khi chúng được ứng nghiệm. Là những người theo Đấng Christ, chúng ta đã thừa hưởng những lời hứa còn tốt hơn (Hê-bơ-rơ 8:6) sẽ được ứng nghiệm nếu chúng ta trở thành “kẻ bắt chước những người nhờ đức tin và lòng nhịn nhục mà được hưởng lời hứa” (Hê-bơ-rơ 6:12).
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 3:8; Lê-vi Ký 20:22; Lê-vi Ký 25:23; Dân số Ký 13:27; Phục truyền Luật lệ Ký 4:1, 25, 26; Phục truyền Luật lệ Ký 6:3; và Thi thiên 24:1. Mối liên hệ đặc biệt giữa Đức Chúa Trời, Y-sơ-ra-ên và Đất Hứa là gì?
Về mặt cơ bản, đất đai tạo danh tính cho một quốc gia. Nó cũng xác định sinh hoạt và lối sống của quốc gia đó. Người nô lệ không có gốc rễ và không thuộc về nơi nào; công sức họ được người khác hưởng. Có đất đai có nghĩa là có tự do. Danh tính của dân tộc được chọn gắn liền với nơi họ sinh sống.
Có một mối liên hệ đặc biệt giữa Đức Chúa Trời, Y-sơ-ra-ên và đất đai. Y-sơ-ra-ên nhận được đất đai từ Đức Chúa Trời như một món quà, chứ không phải vì họ có một quyền bất khả xâm phạm. Dân tộc được chọn có thể sở hữu mảnh đất miễn là họ có mối quan hệ giao ước với Đức Giê-hô-va và tôn trọng các luật lệ của giao ước. Nói cách khác, họ không thể có đất đai và các ơn phước của đất nếu không có sự ban ơn của Đức Chúa Trời.
Đồng thời, đất đai cũng như một lăng kính, qua đó Y-sơ-ra-ên có thể hiểu rõ hơn về Chúa. Sống trên giải đất ấy sẽ luôn nhắc nhở họ về một Đức Chúa Trời thành tín, giữ lời hứa và đáng tin cậy. Lãnh thổ cũng như Y-sơ-ra-ên sẽ không hiện hữu, nếu không có sự khởi xướng của Chúa, Ngài là nguồn gốc và nền tảng cho sự tồn tại của họ. Khi người Y-sơ-ra-ên còn ở Ai Cập, sông Nile với hệ thống dẫn thủy nhập điền, cùng với công sức của họ, đã cung cấp các vụ mùa để họ sinh tồn. Ca-na-an thì khác. Họ cần mưa để có mùa màng dư dật, và chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể kiểm soát thời tiết. Do đó, đất đai nhắc nhở Y-sơ-ra-ên về sự trông cậy liên tục trong Đức Chúa Trời.
Tuy Y-sơ-ra-ên nhận được lãnh thổ như một món quà từ Đức Giê-hô- va, nhưng thật ra, Chúa vẫn là sở hữu chủ. Ngài sở hữu toàn cả địa cầu (Thi thiên 24:1), Đức Giê-hô-va có quyền giao đất cho Y-sơ-ra-ên hoặc lấy đi. Vì Chúa là chủ của đất đai, nên người Y-sơ-ra-ên và tất cả mọi ai khác cũng đều là khách lạ và lữ khách, hoặc theo ngôn ngữ hiện đại, tất cả chúng ta đều là khách dài hạn của Đức Chúa Trời trên trái đất của Ngài.
Dựa trên 1 Phi-e-rơ 2:11 và Hê-bơ-rơ 11:9–13, đối với cá nhân bạn, sống như một người lạ và lữ khách mong ngóng về thành phố mà chính Đức Chúa Trời là người thiết kế và xây dựng có ý nghĩa gì?
Đọc Giô-suê 13:1–7. Mặc dù vùng đất Ca-na-an là một món quà từ Đức Chúa Trời, nhưng có những thách thức nào đi kèm với việc sở hữu nó?
Dân Y-sơ-ra-ên đã sống như nô lệ qua nhiều thế kỷ, khả năng quân sự của họ không đủ để chinh phục vùng đất này. Ngay cả chủ nô người Ai Cập, với quân đội thiện chiến và trang bị đầy đủ, cũng không bao giờ xâm nhập hoàn toàn Ca-na-an được, vì tường bao quanh các thành phố rất là kiên cố. Nay, một nước với dân từng là nô lệ, được bảo phải chinh phục một vùng đất mà chủ họ trước đây không thể khuất phục. Nếu họ muốn chiếm hữu vùng đất này, thì chỉ nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, chứ không phải nhờ tài sức riêng của mình.
Giô-suê 13 đến 21, nói về việc phân chia đất đai cho các chi phái Y-sơ-ra- ên. Việc phân bố này chỉ cho dân sự biết những gì đã được phân chia và cả những gì họ cần phải chiếm đóng trong lãnh thổ đó. Người Y-sơ-ra-ên có thể sống an toàn trên vùng đất mà Chúa đã ban cho họ như một gia tài thừa kế. Họ là những người thuê đất hợp pháp và chính đáng dưới quyền sở hữu của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, sự khởi xướng của Chúa phải được đáp ứng với phản ứng của con người. Nửa phần đầu sách cho thấy cách Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên đất đai bằng cách chinh phục đất đai của người Ca-na-an; nửa phần sau tường thuật cách Y-sơ-ra-ên chiếm đất bằng cách định cư.
Sự phức tạp của cuộc chinh phục này minh họa cho động lực của sự cứu rỗi chúng ta. Tương tự như Y-sơ-ra-ên, chúng ta không thể làm bất cứ điều gì để kiếm được sự cứu rỗi cho mình (Ê-phê-sô 2:8, 9). Đó là một món quà, giống như lãnh thổ là món quà Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên dựa trên mối liên hệ giao ước của họ với Ngài. Chắc chắn nó không dựa trên công trạng của họ (Phục truyền 9:5).
Tuy nhiên, để người Y-sơ-ra-ên được hưởng món quà của Đức Chúa Trời, họ phải đảm nhận những trách nhiệm đi kèm với việc sống trên vùng đất, giống như chúng ta phải trải qua tiến trình thánh hóa của mình trong sự vâng phục các điều kiện để trở thành công dân của vương quốc Đức Chúa Trời. Mặc dù không giống nhau, nhưng sự song song giữa việc dân sự được ban cho đất bởi ân điển và việc chúng ta được ban cho sự cứu rỗi bởi ân điển khá gần nhau. Chúng ta đã được ban cho một món quà tuyệt vời, nhưng chúng ta có thể đánh mất nếu không cẩn thận.
Cơ Đốc nhân ngày nay gặp phải những thách thức tương tự như những thách thức liên quan đến việc chiếm cứ Đất Hứa như thế nào? Xem Philíp 2:12, Hê-bơ-rơ 12:28.
Đất đai đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sinh tồn của dân sự Đức Chúa Trời, nên nó không thể được phân chia như một tổng thể. Nó phải được chia theo chi phái, gia tộc và gia đình (Dân số Ký 34:13–18) để tránh việc đất trở thành sở hữu của một thiểu số quyền thế.
Đọc Lê-vi Ký 25:1–5, 8–13. Mục đích của năm Sa-bát và năm Hoan Hỉ là gì?
Ngược lại với Ai Cập, nơi người dân thường xuyên mất đất đai và trở thành nông nô của Pha-ra-ôn, mục đích của Đức Chúa Trời cho người Y-sơ- ra-ên là họ sẽ không bao giờ bị tước quyền vô thời hạn. Ngoài vòng gia tộc và gia đình nhận được đất đai qua sự phân chia lúc ban đầu, không ai có thể sở hữu đất đai. Thật vậy, theo kế hoạch của Chúa, đất đai thực sự không bao giờ được bán; nó chỉ có thể được cho thuê theo trị giá tuỳ theo số năm còn lại trước năm Hoan Hỉ sắp đến. Do đó, bà con gần của một người đã phải “bán” sản nghiệp của tổ tiên mình, có quyền hoặc có bổn phận chuộc lại phần đất ngay cả trước năm Hoan Hỉ (Lê-vi Ký 25:25).
Việc phân phát đất đai là một cửa sổ để nhìn vào tấm lòng của Đức Chúa Trời. Là Cha trên trời của chúng ta, Ngài muốn con cái của Ngài rộng rãi với những người kém may mắn hơn và để đất đai mình nuôi sống kẻ nghèo khó sau mỗi bảy năm. Năm Sa-bát áp dụng nguyên tắc của điều răn về ngày Sabát cách bao quát hơn. Bên cạnh việc xem trọng và khuyến khích sự chuyên cần, quyền sở hữu đất đai cũng đòi hỏi sự tôn trọng và tử tế đối với những người đang gặp khó khăn về tài chính.
Luật sở hữu đất đai đã mang đến cho mỗi người Y-sơ-ra-ên cơ hội được giải thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn, và cho họ có được một khởi đầu mới trong cuộc sống.
Nói tóm lại, đây là mục đích chính của phúc âm: xóa bỏ sự phân biệt giữa giàu và nghèo, chủ và tớ, có thế lực hay cô thế. Nó đặt tất cả chúng ta ngang hàng bởi ý thức rằng chúng ta hoàn toàn cần ân điển của Đức Chúa Trời. Tiếc thay, với thời gian, Y-sơ-ra-ên đã lơ là trong việc giữ gìn tiêu chuẩn Đức Chúa Trời đặt ra, để rồi những lời cảnh báo về sự mất đi lãnh thổ trở thành hiện thực (2 Sử ký 36:20, 21).
Các nguyên tắc về việc phân chia đất đai và ngày Sa-bát của người Y-sơ-ra-ên, nhắc nhở chúng ta ra sao, rằng, dưới mắt Đức Chúa Trời, chúng ta tất cả đều bình đẳng? Làm thế nào ngày Sa-bát có thể giúp chúng ta nói “không” với những sự bóc lột, tàn ác của chủ nghĩa tiêu dùng đang hoành hành trong xã hội?
Đọc Giê-rê-mi 24:6; Giê-rê-mi 31:16; Ê-xê-chi-ên 11:17; Ê-xê-chi-ên 28:25; và Ê-xê-chi-ên 37:14, 25. Đức Chúa Trời hứa gì về việc dân Y-sơ-ra- ên trở về đất hứa; và lời hứa đó được ứng nghiệm như thế nào?
Khi dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày sang Ba-by-lôn, họ biết được một lẽ thật quan trọng về mối liên hệ của họ với Đức Chúa Trời. Mối liên hệ ấy không phụ thuộc vào việc họ sở hữu Đất Hứa. Đức Chúa Trời tiếp tục là Đức Chúa Trời của họ, ngay cả khi họ bị lưu đày. Khi dân Y-sơ-ra-ên xưng tội, ăn năn và hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời, Ngài lại làm trọn lời hứa một lần nữa, và đưa họ trở về lãnh thổ như một dấu hiệu của sự phục hồi.
Tuy nhiên, lời hứa rằng Y-sơ-ra-ên sẽ sở hữu vùng đất này vĩnh viễn, là lời hứa có điều kiện (Phục truyền 28:63, 64; Giô-suê 23:13, 15; 1 Các Vua 9:7; 2 Các Vua 17:23; Giê-rê-mi 12:10–12), nên lời hứa tái định cư và làm cho Y-sơ-ra-ên thịnh vượng trong vùng đất sau thời kỳ lưu đày cũng vậy. Đồng thời, các tiên tri trong Cựu Ước chỉ ra sự phục hồi mà một vị vua tương lai của dòng dõi Đa-vít sẽ mang lại (Ê-sai 9:6, 7; Xa-cha-ri 9:9, 16). Lời hứa này đã được ứng nghiệm qua cuộc đời, sự chết và sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su Christ. Trong Ngài, mọi lời hứa dành cho dân Y-sơ-ra-ên xưa đều được ứng nghiệm.
Trong Tân Ước, Đất Hứa không được đề cập trực tiếp, nhưng chúng ta biết rằng các lời hứa của Đức Chúa Trời đã được ứng nghiệm trong và qua Đức Chúa Giê-su Christ (2 Cô-rinh-tô 1:20, Rô-ma 15:8). Như vậy, qua Đấng Christ, Đất Hứa được diễn giải lại, và nó trở thành biểu tượng của các phước lành thuộc linh mà Đức Chúa Trời dự định ban cho những người trung thành của Ngài, cả trong hiện tại (Ê-phê-sô 2:6) lẫn trong đời sau.
Sự ứng nghiệm cuối cùng của lời hứa thiêng liêng về sự nghỉ ngơi, sung túc và hạnh phúc trong vùng đất sẽ diễn ra trên đất mới, được giải thoát khỏi tội lỗi và hậu quả của nó. Theo nghĩa đó, là những Cơ Đốc nhân, hy vọng của chúng ta dựa trên lời hứa của Đấng Christ rằng Ngài sẽ trở lại, và sau 1,000 năm trên thiên đàng, thiết lập vương quốc vĩnh cửu của Ngài trên đất mới. Đây sẽ là sự ứng nghiệm cuối cùng của tất cả các lời hứa về miền đất hứa.
Đọc Giăng 14:1–3, Tít 2:13 và Khải huyền 21:1–3. Những câu này cho chúng ta hy vọng cuối cùng nào và tại sao cái chết của Đức Chúa Giê-su đảm bảo cho chúng ta sự ứng nghiệm của hy vọng ấy?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Cuộc Đấu Tranh Kết Thúc,” tr. 593-599 trong quyển Thiện Ác Đấu Tránh.
“Chúng ta sẽ được cứu rỗi đời đời khi chúng ta bước qua các cổng vào thành thánh. Và chúng ta vui mừng vì mình được cứu, được cứu đời đời. Nhưng cho đến lúc đó, chúng ta cần phải lưu ý đến lời răn của sứ đồ, “Vậy, đang khi còn có lời hứa cho vào sự an nghỉ Chúa, hãy lo sợ, chúng ta khá lo sợ, kẻo trong chúng ta có ai bị trừ ra chăng” [Hê-bơ-rơ 4:1]. Có kiến thức về Ca-na-an, hát những bài hát của Ca-na-an, vui mừng trước viễn ảnh được vào Ca-na-an, đã không đưa con cái Y-sơ-ra-ên vào các vườn nho và vườn ô-liu của vùng đất hứa. Họ chỉ có thể làm cho nó trở thành của họ thật sự bằng cách chiếm đóng, bằng cách tuân theo các điều kiện, bằng cách thực hành đức tin sống trong Đức Chúa Trời, bằng cách dành lấy những lời hứa của Ngài cho chính họ.”—Ellen G. White, The Youth’s Instructor, 17 tháng 2 năm 1898.
“Theo Kinh Thánh, cơ nghiệp của những người được cứu gọi là “quê hương” Hê-bơ-rơ 11:14–16. Nơi đây, Đấng Chăn chiên sẽ dẫn bầy Ngài đến suối nước sự sống. Cây sự sống ra trái mỗi tháng, và lá cây được dùng cho lợi ích muôn dân. Những giòng suối không bao giờ ngưng chảy, trong như lưu ly, và hai bên bờ suối những cành cây đong đưa, phủ bóng xuống các con đường dọn sẵn cho người được chuộc. Nơi đây, những đồng bằng trải dài khoe nét đẹp, và đồi núi chập chùng với ngọn vươn cao vút. Chính trên những đồng bằng an bình, bên cạnh những giòng suối trong vắt, dân sự Đức Chúa Trời từ lâu là kẻ lữ hành sẽ tìm được một tổ ấm.”—Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, tr. 597.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 8, 15 – 21 Tháng 11
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Dân số Ký 13:6, 30–32; Giô-suê 14:6–14; Lu-ca 18:1–5; Giô-suê 19:49–51; 2 Cô-rinh-tô 3:18; Rô-ma 12:1, 2.
CÂU GỐC: ‘“Hãy nhớ những người dẫn dắt mình, đã truyền đạo Đức Chúa Trời cho mình; hãy nghĩ xem sự cuối cùng đời họ là thế nào, và học đòi đức tin họ”’ (Hê-bơ-rơ 13:7).
Đọc Dân số Ký 13:6, 30–32; và Giô-suê 14:6, 14. Ca-lép là ai? Ông có địa vị gì trong dân Y-sơ-ra-ên?
Tên Ca-lép bắt nguồn từ tiếng Hê-bơ-rơ keleb, “con chó”, một từ luôn xuất hiện trong Cựu Ước theo nghĩa tiêu cực. Tuy nhiên, keleb được dùng trong các lá thư và thánh ca ngoài Kinh Thánh để diễn tả lòng dũng cảm, sự kiên trì và lòng trung thành của người giúp việc đối với chủ nhân của mình. Về phương diện này, Ca-lép thật đúng với tên của mình, thể hiện lòng trung thành không lay chuyển đối với Đức Chúa Trời của mình trong suốt cuộc đời.
Việc Ca-lép sẵn sàng phát biểu ý tưởng mình dầu nó không cùng quan điểm với phần lớn các thám tử khác, và dẫu dân Y-sơ-ra-ên đe dọa giết ông cho thấy ông là người thế nào? Xem Dân số Ký 14:6–10, 21–25; Dân số Ký 26:65; Dân số Ký 32:12.
Bạn biết gì về những nhà lãnh đạo quan trọng cùng thời với Giô-suê và Ca-lép như: Sam-mua, Sha-phát, Di-ganh, Phan-thi, Gát-đi-ên, Ga-đi, Ghê- ma-li, Sê-thu, Nách-bi, Gu-ên. Tên họ nghe có quen thuộc không?
Có lẽ là không.
Tại sao không? Bởi vì đó là tên của mười thám tử khác được Môi-se cử đi do thám vùng đất Ca-na-an. Họ bị lãng quên vì tên của họ không xứng đáng được ghi nhớ. Bản báo cáo mà họ mang đến, mô tả Đất Hứa là vùng đất không thể chinh phục được. Họ tự coi mình là những con châu chấu so với những người khổng lồ sinh sống trên lãnh thổ ấy, và lòng họ tan chảy vì sợ hãi trước những bức tường “bất khả xâm phạm” của các thành trì Ca-na-an.
Trong hai thám tử mang về báo cáo tích cực, người lớn tuổi hơn là Ca-lép, dẫn đầu trong việc trình bày một khả năng khác: thái độ của đức tin. Ông sẵn sàng lên tiếng cho những gì ông biết là đúng, bất chấp sự phản đối, ngay cả khi điều ấy có thể mang đến cái chết: “Bấy giờ cả hội chúng nói hãy ném đá hai người này” (Dân số Ký 14:10).
Bạn có phản ứng gì khi hầu hết mọi người xung quanh xem như có ý kiến trái ngược với niềm tin sâu sắc nhất của bạn?
Đọc Giô-suê 14:6–14, Dân số Ký 14:24, Dân số Ký 32:12, Phục truyền Luật lệ Ký 1:36 và Lu-ca 6:45. Bạn mô tả thái độ của Ca-lép và Giô-suê như thế nào? Theo Chúa hết lòng có nghĩa gì?
Ca-lép không bao giờ quên lời hứa mà Đức Giê-hô-va đã ban cho ông qua Môi-se: rằng ông sẽ vào vùng đất mà chân ông đã giẫm lên (Dân số Ký 14:24). Bốn mươi năm sau, ông nhắc đến bản báo cáo của chính mình về vùng đất này như một lời “thật lòng” (Giô-suê 14:7). Bản báo cáo của ông dựa trên niềm tin rằng, với sự hướng dẫn và giúp đỡ của Đức Chúa Trời, Y-sơ-ra-ên sẽ chinh phục vùng đất này.
Trái ngược với bản báo cáo của mười thám tử khác, những người đã gieo rắc nỗi sợ hãi trong dân Y-sơ-ra-ên, Ca-lép bày tỏ sự trông cậy và cam kết hết lòng với lời hứa của Đức Chúa Trời. “Còn tôi trung thành vâng theo Giê-hô- va Đức Chúa Trời của tôi”, cũng có nghĩa là “Lòng tôi hoàn toàn theo Chúa”. Trái ngược với những người khác đi theo các thần ngoại bang và không hoàn toàn theo Chúa, lòng của Ca-lép hoàn toàn tận tụy với Chúa.
Sự diễn đạt tương tự sau đó được lặp lại hai lần, nhấn mạnh lòng trung thành của Ca-lép (Giô-suê 14:9, 14). Tính tình của ông phù hợp với điều mà chính Đức Chúa Trời gọi là “không đồng lòng cùng chúng nó” (Dân số Ký 14:24), điều đã phân biệt Ca-lép với mười thám tử khác. Ngay cả ở tuổi 85, ông vẫn tiếp tục là một tấm gương về những gì Đức Chúa Trời có thể đạt được qua những người có tấm lòng hoàn toàn tận tụy với Ngài và sứ mạng của Ngài.
Ca-lép hiểu rằng lãnh thổ mà mỗi chi phái cuối cùng sẽ sở hữu tỷ lệ thuận với mức độ họ dám kêu đòi lời hứa của Đức Chúa Trời và lượng đất đai mà họ sẵn sàng bước lên bằng đức tin. Lời hứa của Chúa không tự ứng nghiệm, theo nghĩa là chúng trở thành sự thật bất kể ý muốn của chúng ta. Đúng ra, chúng đòi hỏi đức tin đi kèm với hành động kiên quyết. Từ tiếng Hê-bơ-rơ ’ulay, “có lẽ; biết đâu” (Giô-suê 14:12), có thể diễn tả nỗi sợ hãi và nghi ngờ, nhưng thường nói về hy vọng và sự mong đợi rằng điều gì đó tốt đẹp sẽ xảy ra (Sáng thế Ký 16:2; Dân số Ký 22:6, 11; Dân số Ký 23:3).
Những sự thỏa hiệp nào, dầu chỉ là “nho nhỏ”, có thể cản trở việc chúng ta hoàn toàn theo Chúa?
Đọc Giô-suê 15:16–19, Các Quan Xét 1:13 và Các Quan Xét 3:7–11. Câu chuyện này cho bạn biết gì về sức mạnh của gương mẫu? Phong cách của Ca-lép được tiếp nối ra sao trong thế hệ trẻ?
Ca-lép gả con gái mình là Ạc-sa cho người chinh phục được Đê-bia. Ốtni-ên chiếm được thành và giành được trái tim của nàng. Câu chuyện này rất quan trọng vì một lần nữa, nó cho thấy lòng dũng cảm, đức tin và sự sẵn sàng chấp nhận thử thách của Ca-lép.
Nó cũng cho thấy rằng thế hệ người Y-sơ-ra-ên tiếp theo đã noi gương những người khổng lồ của đức tin này, Ca-lép và Giô-suê. Khi thế hệ cũ kết thúc chức vụ của mình, thì có một thế hệ mới sẵn sàng đối diện với những thách thức và tiếp tục hoàn thành kế hoạch của Đức Chúa Trời cho Y-sơ- ra-ên.
Cũng không khác gì lời yêu cầu của Ca-lép với Giô-suê: “Hãy ban cho tôi núi này,” Ạc-sa, được chồng khuyến khích, bày tỏ cùng đức tin và quyết tâm mà cha cô đã thể hiện. Qua sự kiên quyết và lòng dũng cảm của mình, Ạc-sa tiếp tục theo đuổi tấm gương của Ca-lép về việc làm trọn lời hứa chiếm hữu vùng đất này.
Thật vậy, vùng đất này là món quà của Đức Giê-hô-va dành cho Y-sơ- ra-ên, nhưng Y-sơ-ra-ên phải chiếm hữu nó với đức tin và sự can đảm đòi xin những điều Chúa đã hứa. Quyết tâm của Ạc-sa báo trước sự kiên trì của những người đàn bà trong Phúc âm, những người không để đám đông hoặc các môn đồ khiến họ bỏ cuộc, cho đến khi họ nhận được phước lành của Đức Chúa Giê-su cho bản thân và gia đình.
Đọc Lu-ca 18:1–5. Chúng ta có được bài học gì ở đây?
Truyền giao ngọn đuốc đức tin cho thế hệ kế tiếp là điều quan trọng trong việc hoàn tất sứ mạng mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta. Hãy suy gẫm về những thách thức, một mặt là truyền đạt đức tin cho thế hệ kế tiếp, và mặt khác, giao cơ hội cho những người trẻ tuổi đảm nhận trách nhiệm lớn hơn trong công việc Chúa. Chúng ta có thể làm gì để tạo điều kiện và huấn luyện những người trẻ tuổi giúp họ đảm nhận vai trò lãnh đạo trong công việc Chúa? Chúng ta—như những tấm gương— quan trọng như thế nào trong tiến trình này?
Danh sách dài dòng về các địa danh, được dùng làm dấu mốc dọc theo biên giới các vùng đất đã phân chia cho các chi phái Y-sơ-ra-ên, được ngưng lại với báo cáo về việc phân bổ đất đai cho hai anh hùng, Ca-lép và Giô-suê, qua nhiệm vụ trinh sát đầu tiên. Ca-lép nhận sản nghiệp của mình trước, trong khi Giô-suê nhận được sau cùng. Cho đến thời điểm này, Giô-suê đã phân chia đất đai cho các chi phái Y-sơ-ra-ên; và bây giờ đã đến lúc dân Y-sơ-ra-ên trao Giô-suê phần thừa kế của ông.
Đọc Giô-suê 19:49–51. Vị lãnh đạo vĩ đại của Y-sơ-ra-ên, người đã phân chia đất đai cho mọi chi phái, lại nhận được phần thừa kế của mình sau cùng, điều ấy có ý nghĩa gì?
Thành mà Giô-suê nhận được là Thim-nát-Sê-rách, tên thành có nghĩa là phần thừa còn lại hoặc lãnh thổ còn lại.
Tên thành mà Giô-suê đã chọn từ những gì còn lại chứng tỏ tính cách cao quý của vị lãnh đạo thứ hai của Y-sơ-ra-ên. Trước hết, ông đã đợi cho đến khi tất cả mọi người nhận được phần của họ. Sau đó, Giô-suê đã không chọn một trong những vùng đất đông dân nhất hoặc có những thành hoành tráng nhất làm phần thừa kế của mình, mà là một thành khiêm tốn, hoặc có lẽ chỉ là tàn tích của một thành ấy, để xây dựng lại với công sức vất vả (so sánh với Giô-suê 19:50).
Ngoài ra, Thim-nát-Sê-rách nằm gần Si-lô, vùng gần nơi thánh. Điều này cho thấy điều gì là ưu tiên đối với Giô-suê và đâu là nơi tấm lòng của ông ràng buộc. Sau khi dẫn dắt quốc gia Y-sơ-ra-ên mới tạo dựng vào Đất Hứa, và với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, bảo đảm sản nghiệp cho từng chi phái và gia đình, Giô-suê có thể đòi hỏi cho mình một thừa kế hoành tráng hơn mà không ai sẽ phản đối. Tuy nhiên, Giô-suê đã bằng lòng sống một cuộc sống giản dị, tập trung vào những gì quan trọng nhất, qua đó thể hiện trọn vẹn lời cầu nguyện sau này của Đa-vít: “Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê- hô-va, Để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va, Và cầu hỏi trong đền của Ngài” (Thi thiên 27:4).
Chúng ta có thể rút được bài học gì cho bản thân về thái độ của Giô- suê? Và áp dụng điều đó cho chính mình ra sao?
Suy ngẫm về những tấm gương sống của các anh hùng đức tin vĩ đại là điều cần thiết để chúng ta có thể phát triển đời sống thuộc linh. Và tấm gương tối thượng của chúng ta là Đức Chúa Giê-su Christ—cuộc đời và sự dạy dỗ của Ngài. Việc chú tâm vào cuộc đời của Chúa Giê-su đã thay đổi chúng ta ra sao? Xem Hê-bơ-rơ 12:1, 2; 2 Cô-rinh-tô 3:18.
Marco Iacoboni, một nhà thần kinh học tại Đại học California, Los Angeles, đã nghiên cứu chức năng của các nơ-ron gương. Những mạch tế bào nhỏ này được kích hoạt cả khi chúng ta thực hiện một hành động nào đó—chẳng hạn như cười hoặc ôm ai đó—và khi chúng ta quan sát người khác thực hiện cùng hành động đó. Hoạt động của các nơ-ron này làm giảm sự phân biệt giữa việc nhìn thấy và việc hành động.
Ellen G. White nói về tầm quan trọng của việc chiêm ngưỡng tính cách của Đức Chúa Giê-su: “Khi nhìn vào Chúa Giê-su, chúng ta thấy Đức Chúa Trời cách rõ ràng và sáng tỏ hơn, và khi chiêm ngưỡng Ngài, chúng ta trở nên thay đổi. Lòng tốt, tình yêu thương cho đồng loại, trở thành bản năng tự nhiên của chúng ta. Chúng ta phát triển một tính tình tương ứng với tính tình của Chúa. Khi trưởng thành theo hình ảnh của Ngài, chúng ta mở rộng khả năng hiểu biết về Đức Chúa Trời. Chúng ta ngày càng gần gũi hơn với thế giới thiên đàng và chúng ta liên tục có sức mạnh ngày càng tăng, để tiếp nhận sự phong phú về kiến thức và sự khôn ngoan của cõi vĩnh hằng.”— Ellen G. White, Christ’s Object Lesons, tr. 355.
Đọc Rô-ma 12:1, 2. Hai tiến trình nào đang hoạt động với những mục đích đối nghịch trong đời sống chúng ta? Làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng mình chọn dành chỗ đúng?
Trong chương tóm tắt của thư gửi tín hữu Rô-ma, sứ đồ Phao-lô nói về hai tiến trình đối nghịch nhau đang ra sức biến đổi cuộc đời chúng ta. Một mặt, thế giới xung quanh, với những ảnh hưởng khác nhau, cố gắng ép buộc chúng ta hàng ngày vào khuôn mẫu của chính nó, tạo ra sự thay đổi trong chúng ta theo hướng từ ngoài vào trong.
Để chống lại tác động này, Đức Thánh Linh có thể biến đổi chúng ta từ trong ra ngoài theo cách tương tự như cách một con sâu biến thành một con bướm xinh đẹp. Nhưng để tiến trình đó xảy ra, chúng ta cần phải dâng hiến bản thân cho Chúa và cầu xin Ngài tiếp tục công việc tốt lành mà Ngài đã bắt đầu trong chúng ta (Phi-líp 1:6). Rốt lại, chúng ta phải có sự lựa chọn đúng đắn, mỗi phút giây, để bước đi trong Đức Thánh Linh.
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: “Đức tin của Ca-lép lúc này cũng như lúc xưa, khi báo cáo của ông chống lại báo cáo gian ác của các thám tử khác. Ông tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ đưa dân Ngài chinh phục Ca-na-an, và ông đã hoàn toàn theo Chúa. Ông đã chịu đựng cùng dân sự qua cuộc hành trình dài trong sa mạc, và cũng đã chia xẻ những thất vọng và gánh nặng của những kẻ có tội; tuy nhiên, ông không phàn nàn về điều này, nhưng tôn vinh lòng thương xót của Đức Chúa Trời đã bảo vệ ông trong nơi hoang dã khi anh em của ông bị diệt vong. Giữa tất cả những khó khăn, nguy hiểm và tai họa của cuộc hành trình lang thang, và trong những năm tháng chiến tranh kể từ khi vào Ca-na-an, Chúa đã bảo vệ ông; và giờ đây, với tuổi hơn tám mươi, sức mạnh của ông không hề suy giảm. Ông không đòi xin cho mình một vùng đất đã được chinh phục, mà là một nơi, hơn hết mọi nơi, các thám tử đã cho rằng không thể chinh phục được. Với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, ông sẽ giành lại được thành trì từ chính những gã khổng lồ với sức mạnh đã làm lung lay đức tin dân Y-sơ-ra-ên. Chẳng phải vì ham danh hay ham quyền đã thúc đẩy Ca-lép đưa ra yêu cầu ấy. Người chiến sĩ già dũng cảm này mong muốn nêu gương để mọi người tôn vinh Đức Chúa Trời và khuyến khích các chi phái hoàn toàn chinh phục vùng đất mà cha ông họ đã cho là không chinh phục nỗi.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 512, 513.
“Đức tin của Ca-lép nơi Đức Chúa Trời đã cho ông lòng can đảm, không sợ hãi con người, và giúp ông mạnh dạn và không nao núng trong việc bảo vệ lẽ phải. Nhờ vào sức mạnh của vị Đại Tướng hùng mạnh của các đạo quân trên thiên đàng, mọi chiến binh thực thụ của thập giá đều có thể nhận được sức mạnh và lòng can đảm để vượt qua những chướng ngại vật tưởng như không thể vượt qua.”—Ellen G. White, The Advent Review và Sabbath Herald, ngày 30 tháng 5 năm 1912.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 7, 8- 14 Tháng 11
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giô-suê 5:1–7; Xuất Ê-díp-tô Ký 12:6; 1 Cô-rinh-tô 5:7; Giô-suê 8:30–35; Phục truyền Luật lệ Ký 8:11, 14; Hê-bơ-rơ 9:11, 12.
CÂU GỐC: ‘“Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa”’ (Ma-thi-ơ 6:33).
Đọc Giô-suê 5:1–7. Tại sao Đức Giê-hô-va truyền lệnh cho Giô-suê cắt bì những người thuộc thế hệ thứ hai của dân Y-sơ-ra-ên vào thời điểm cụ thể này trong cuộc chinh phục?
Sau việc thám hiểm lãnh thổ với báo cáo đầy khích lệ của các thám tử và Y-sơ-ra-ên vượt sông Giô-đanh một cách kỳ diệu, chúng ta chắc rằng sẽ có một cuộc giao chiến tức thì với quân địch. Tuy nhiên, có một điều quan trọng hơn cuộc chinh phục quân sự: giao ước của Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời.
Trước khi thế hệ mới có thể tham gia vào việc chiếm đất, họ cần phải nhận thức đầy đủ về mối quan hệ đặc biệt giữa họ với Đấng sở hữu vùng đất. Việc làm mới lại dấu hiệu giao ước, là một sự đáp lại trước hành động nhân từ và kỳ diệu của Đức Chúa Trời, khi Ngài đưa Y-sơ-ra-ên vượt sông Giô-đanh một cách an toàn.
Giao ước của chúng ta với Đức Chúa Trời, phải luôn luôn là sự đáp lại đầy lòng biết ơn về những gì Ngài đã hoàn thành cho chúng ta, chứ không phải là hành động tìm kiếm lợi lộc, bằng cách làm theo pháp lý những điều kiện của Ngài. (Đúng vậy, chính khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong cuộc giằng co giữa Phao-lô với những người đòi hỏi rằng, đàn ông ngoại giới nay tin đạo phải chịu phép cắt bì, như được thấy rõ ràng trong lá thư ông gửi cho người Ga-la-ti.)
Y-sơ-ra-ên đang trên bờ vực của một chiến dịch quân sự lớn nhất trong lịch sử họ, và chúng ta như chờ đợi toàn cả trại quân sẽ bận rộn chuẩn bị cho chiến tranh. Thật đúng vậy, nhưng không phải chuẩn bị theo nghĩa thông thường. Thay vì mài gươm và thắng yên ngựa, họ dự phần vào một nghi lễ khiến hầu hết lực lượng chiến đấu dễ bị tổn thương trong ít nhất ba ngày.
Họ làm điều này để ăn mừng mối tương giao giữa họ với Đức Chúa Trời, Đấng đã giải cứu họ khỏi Ai Cập. Tại sao? Bởi vì họ nhận thức rằng trận chiến thuộc về Chúa. Ngài là Đấng ban cho họ chiến thắng và thành công. Chúa Giê-su cũng cho một nguyên tắc tương tự với những lời như sau: “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa” (Ma-thi-ơ 6:33). Lắm khi đời sống hàng ngày dường như áp đảo chúng ta với sự cấp bách của bao điều quan trọng, đến nỗi chúng ta quên mất dành sự ưu tiên cho điều quan trọng nhất trong cuộc đời mình: làm mới lại mỗi ngày sự cam kết của chúng ta với Đấng Christ.
Hãy nghĩ về những lần bạn đã lơ đãng thì giờ với Chúa vì những chuyện “quan trọng” hơn. Tại sao làm điều ấy thật quá dễ dàng, và chúng ta có cách nào chống lại nó?
Tại sao việc Giô-suê chọn cử hành lễ Vượt Qua lại là quan trọng trong khi ông có một nhiệm vụ cấp bách và to lớn là chinh phục Đất Hứa? Đọc Giô-suê 5:10; Xuất Ê-díp-tô Ký 12:6; Lê-vi Ký 23:5; Dân số Ký 28:16; Phục truyền Luật lệ Ký 16:4, 6.
Hoạt động quan trọng thứ hai trước cuộc chinh phục là kỷ niệm lễ Vượt Qua. Lễ này diễn ra vào buổi tối ngày mười bốn của tháng, cẩn thận tuân theo lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời. Ý nghĩa của việc cử hành lễ Vượt Qua được nhấn mạnh đặc biệt: các biến cố trong Giô-suê phản ảnh các biến cố trong Xuất Ê-díp-tô Ký. Lễ Vượt Qua gợi lại đêm của tai họa thứ mười (Xuất 12), khi thiên sứ của Đức Giê-hô-va giết chết tất cả các con đầu lòng ở Ê-díptô và tha cho người Y-sơ-ra-ên. Tiếp theo là cuộc Xuất hành khỏi Ê-díp-tô, việc vượt qua Biển Đỏ và cuộc hành trình qua sa mạc.
Ngược lại, câu chuyện của thế hệ thứ hai bắt đầu trong sa mạc, tiếp tục với việc vượt sông Giô-đanh, liên quan đến sự cắt bì và lễ Vượt Qua, và dẫn đến khoảnh khắc quan trọng khi dân sự mong đợi một sự can thiệp kỳ diệu khác của Đức Giê-hô-va chống lại kẻ thù của Y-sơ-ra-ên: cư dân của Ca-naan. Lễ Vượt qua, cùng với những hành động trước đó, đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên.
Ngoài ra, qua biểu tượng của con chiên hy sinh, lễ Vượt Qua chỉ về sự cứu chuộc của dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ của Ai Cập. Nhưng lễ này cũng chỉ đến sự ứng nghiệm trọn vẹn của nó qua Chiên Con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:29, 36; 1 Cô-rinh-tô 5:7; 1 Phi-e-rơ 1:18, 19), là Đấng đã cứu chuộc chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Tại Bữa Tiệc Thánh, trước khi dâng chính mình làm của lễ hy sinh cuối cùng, Đức Chúa Giê-su đã biến lễ Vượt Qua thành lễ tưởng niệm sự chết của Ngài (Ma-thi-ơ 26:26–29, 1 Cô-rinh-tô 11:23–26).
Tuy nhiên, lễ Vượt Qua và Tiệc Thánh báo hiệu một thực tại còn vinh quang hơn: đó là việc vô số người được cứu đi vào xứ Ca-na-an trên trời. Cảnh này được Giăng mô tả trong Khải huyền, trong đó 144,000 người đi trên biển pha lê, tượng trưng cho Biển Đỏ và sông Giô-đanh, ngay trước ngai của Đức Chúa Trời (Khải huyền 4:6; Khải huyền 7:9, 10). Họ cử hành lễ Vượt Qua và Tiệc Thánh tại tiệc cưới của Chiên Con (Ma-thi-ơ 26:29, Khải huyền 19:9).
Dầu cả khi chúng ta không cử hành lễ Tiệc Thánh, có những cách nào để chúng ta luôn giữ thực tế của Thập Giá trong tâm trí?
Động lực nào khiến Giô-suê dựng một bàn thờ cho Đức Chúa Trời? Đọc Giô-suê 8:30, 31; so sánh với Phục truyền Luật lệ Ký 11:26–30; Phục truyền Luật lệ Ký 27:2–10.
Vào thời các tổ phụ, bàn thờ đánh dấu lộ trình hành hương của họ và chúng trở thành biểu tượng hữu hình cho việc chinh phục vùng đất mà Đức Chúa Trời đã hứa. Bây giờ, người Y-sơ-ra-ên lập bàn thờ như lời chứng về sự ứng nghiệm những lời hứa đã ban cho tổ phụ. Trong trường hợp này, việc lập bàn thờ chính là sự làm trọn trực tiếp các lời căn dặn của Môi-se (Phục truyền 11:26–30; Phục truyền 27:2–10).
Bằng cách nối kết một trong những câu chuyện kinh hoàng và bạo động nhất (chiến tranh) với một điều hoàn toàn khác—một cảnh tái khẳng định giao ước (thờ phượng)—Giô-suê 8:30–35 đưa chúng ta trở lại một trong những chủ đề thần học quan trọng nhất trong sách: Giô-suê được ủy quyền dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên đến một cuộc sống vâng phục giao ước (Giô-suê 1:7). Đây cũng là hình ảnh của Giô-suê vào cuối sách (Giô-suê 24).
Tuy chiến tranh và cuộc chinh phục là quan trọng, nhưng có một điều còn quan trọng hơn: sự trung tín với những điều kiện của luật pháp Đức Chúa Trời. Cuộc chinh phục chỉ là một bước trong việc hoàn thành kế hoạch Chúa dành cho Y-sơ-ra-ên và sự phục hồi toàn thể nhân loại. Sự trung tín với các luật lệ của Torah tạo nên câu hỏi tối thượng về vận mệnh của nhân loại. Giô-suê viết bản sao của luật pháp trên những tảng đá lớn, được quét vôi trắng, khác với những tảng đá được dựng làm bàn thờ (so sánh Phục truyền 27:2–8). Do đó, những tảng đá, có lẽ được khắc Mười Điều Răn, tạo thành một tượng đài riêng biệt ở gần bàn thờ, liên tục nhắc nhở người Y-sơ- ra-ên về các đặc quyền và bổn phận được ngụ ý trong giao ước.
Giô-suê báo trước về Giê-hô-sua (Giê-su) của Tân Ước, Đấng có sứ mạng dẫn dắt nhân loại trở lại sự vâng phục Đức Chúa Trời. Để đạt được mục tiêu này, Ngài đã phải đảm nhận một cuộc tranh chấp với các quyền lực của điều ác. Mục tiêu tối thượng của Ngài là hoàn thành các điều kiện giao ước thay cho chúng ta: “Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói ‘A-men’, làm sáng danh Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 1:20).
Ngày nay chúng ta có thể có những thực hành thuộc linh nào để nhắc nhở chúng ta tương tự như việc xây dựng bàn thờ thuở xưa?
Đọc Giô-suê 8:32–35. Những hành động được mô tả ở đây có nghĩa gì, và chúng nói gì với chúng ta hôm nay?
Núi Ê-banh chỉ được nhắc đến trong Phục truyền Luật lệ Ký (Phục truyền 11:29; Phục truyền 27:4, 13) và trong sách Giô-suê (Giô-suê 8:30, 33). Cùng với Ga-ri-xim, đây là nơi lời chúc phước và nguyền rủa của giao ước được đọc. Cụ thể hơn, theo Phục truyền Luật lệ Ký 11:29 và Phục truyền Luật lệ Ký 27:4, 13, đây phải là nơi của các lời nguyền rủa. Tại đây, dân Y-sơ-ra-ên phải đứng hai bên hòm giao ước trước sự hiện diện của các thầy tế lễ (Giô-suê 8:33). Một nhóm đứng trước núi Ê-banh, nhóm kia đứng trước núi Ga-rixim. Tại đây, họ đã ban hành tượng trưng hai cách có thể liên quan đến giao ước. Các của lễ hy sinh được mang đến chỉ về Đức Chúa Giê-su, Đấng đã gánh chịu mọi lời rủa sả của giao ước, để tất cả những ai tin vào Ngài đều có thể hưởng được các phước lành của giao ước (Ga-la-ti 3:13, 2 Cô-rinh-tô 5:21).
Tại sao việc ghi chép bản sao giao ước trên một tượng đài, nơi mọi người đều có thể nhìn thấy là cần thiết? (Xem Phục truyền 4:31; Phục truyền 6:12; Phục truyền 8:11, 14; 2 Các Vua 17:38; Thi thiên 78:7.)
Con người có xu hướng hay quên. Chúng ta dồn ép những đòi hỏi ngày càng rắc rối của cuộc sống vào những khoảng thời gian ngày càng thu hẹp. Chúng ta quên lãng những điều nếu chúng không tái diễn thường xuyên hoặc có cường độ cao. Trong mỗi lễ Tiệc Thánh, chúng ta có dịp đặc biệt để hiến dâng đời sống mình cho Chúa và cam kết lại giao ước với Ngài. Đây là những cơ hội tốt không những cho cá nhân mà cả hội thánh, để tái hiến dâng và làm mới lại lòng trung thành của chúng ta với Chúa. Trong một xã hội ngày càng đề cao cá nhân, chúng ta phải khám phá lại sức mạnh của cộng đồng, nơi chúng ta chia sẻ cùng một thế giới quan, cùng các giá trị và niềm tin, và cùng một sứ mạng.
Trong sự hối hả và bận rộn của cuộc sống, nhất là khi mọi việc hầu như tốt đẹp, bạn có thấy mình dễ quên Chúa và có khuynh hướng tự nhờ sức mình làm mọi việc? Tại sao lại thế?
Đọc Giô-suê 18:1, 2. Hoạt động nào khiến Giô-suê phải gián đoạn tiến trình phân chia đất?
Sau khi mô tả sự phân phối lãnh thổ cho hai chi phái lớn nhất ở phía tây sông Giô-đanh và nửa chi phái Ma-na-se, đoạn sách này kể lại cuộc tập họp của hội chúng tại Si-lô, nơi đất đai được phân chia cho bảy chi phái nhỏ hơn còn lại.
Việc thành lập nơi thánh, “Đền Thánh của Ta”, tượng trưng cho sự làm trọn lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ sống giữa dân Ngài (Xuất Ê-díptô Ký 25:8; Lê-vi Ký 26:11, 12). Nó cũng tiết lộ chủ đề chính của sách: Sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên đã giúp họ chiếm hữu đất đai và sẽ là nguồn phước lành liên tục cho dân sự, và qua họ, cho toàn thể địa cầu (Sáng thế Ký 12:3). Việc thờ phượng Đức Chúa Trời phải chiếm vị trí trung tâm và ưu tiên, quan trọng hơn cả việc chinh phục và phân chia đất đai! Sự hiện diện của nơi thánh, và sau đó là Đền thánh, hẳn đã luôn giúp dân sự nhận ra sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa họ và nghĩa vụ của họ trong việc tuân theo giao ước.
Đọc Hê-bơ-rơ 6:19, 20; Hê-bơ-rơ 9:11, 12; và Hê-bơ-rơ 10:19–23. Là những Cơ Đốc nhân không có nơi thánh trên đất—nơi tôn thờ sự hiện diện hữu hình của Đức Chúa Trời giữa chúng ta—chúng ta có thể học được gì từ Giô-suê?
Đền thánh không xuất hiện như điều bất ngờ, vì chủ đề đền thánh đã có trong câu chuyện Giô-suê qua hòm giao ước. Đây là vật trung tâm trong nơi Chí Thánh, và nó đánh dấu hai phần đầu của sách: cuộc vượt qua và cuộc chinh phục. Bây giờ, với việc dựng đền tạm trở thành tiêu điểm trong việc phân chia đất đai, Giô-suê cho thấy rằng tất cả đời sống của Y-sơ-ra-ên đều quay quanh nơi thánh, trụ sở trên đất của Đức Giê-hô-va.
Đó cũng là điều rất quan trọng rằng chúng ta phải chú tâm đến đền thánh trên trời khi phải đối mặt với những thách thức hiện đại ảnh hưởng đến đức tin, hy vọng, và di sản thuộc linh của mình. Khi chúng ta liên tục trông cậy vào việc làm của Đấng Christ đã hoàn tất trên Thập giá và trong đền thánh trên trời, chúng ta có thể đầy tin tưởng mong chờ giây phút Đức Chúa Trời một lần nữa sẽ ngự giữa dân sự Ngài. Lần này sẽ là mãi mãi. (So sánh với Khải huyền 21:3.)
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “The Blessings and the Curses,” tr. 499–503, trong Patriarchs and Prophets.
“Theo chỉ dẫn của Môi-se, một tượng đài bằng đá lớn đã được dựng trên núi Ê-banh. Đá được phủ với một lớp thạch cao, và trên đá luật pháp đã được ghi khắc lại—không chỉ mười điều răn khắc trên các bảng đá được được phán ra từ núi Si-nai, mà cả luật pháp được truyền đạt cho Môi-se, đã được người viết trong một cuốn sách. Bên cạnh tượng đài này, một bàn thờ bằng đá chưa đẽo gọt cũng được dựng lên, trên đó các của lễ hy sinh được dâng lên Đức Giê-hô-va. Sự kiện bàn thờ được dựng lên trên núi Ê-banh, ngọn núi nơi lời nguyền rủa được đọc lên, có ý nghĩa quan trọng, biểu thị rằng vì họ vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên đã phải gánh chịu cơn thịnh nộ của Ngài, và cơn thịnh nộ đó sẽ đến ngay lập tức, nếu không có sự chuộc tội của Đấng Christ, được tượng trưng bằng bàn thờ hy sinh.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets tr. 500.
“Nhưng lễ Tiệc Thánh không phải là thời điểm đau buồn. Đây không phải là mục đích của lễ. Khi các môn đồ của Đức Chúa Giê-su tụ họp quanh bàn tiệc của Ngài, họ không được nhớ lại và than thở về những thiếu sót của mình. Họ không được nghĩ về kinh nghiệm tôn giáo trong quá khứ của mình, cho dù kinh nghiệm đó có khích lệ hay gây chán nản. Họ không được nhớ lại những khác biệt giữa họ và anh em mình. Trong sự chuẩn bị cho buổi lễ, tất cả những điều này đã được giải quyết. Việc tự kiểm điểm, xưng tội, hòa giải những khác biệt, tất cả đã được thực hiện. Bây giờ họ đến để gặp gỡ Đấng Christ. Họ không phải đứng dưới bóng thập giá, mà là trong ánh sáng cứu rỗi của thập giá. Họ phải mở tâm hồn ra trước những tia sáng rực rỡ của Mặt trời Công chính.”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 659.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 6, 1 – 7 Tháng 11
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: 1 Phi-e-rơ 1:4, Giô-suê 7, Thi thiên 139:1–16, E-xơ-ra 10:11, Lu-ca 12:15, Giô-suê 8:1–29.
CÂU GỐC: ‘“Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm’” (Giê-rê- mi 17:10).
Đọc Giô-suê 7. Hai nguyên nhân chính khiến dân A-hi đánh bại dân Y-sơ-ra-ên là gì?
Ngay từ đầu, đọc giả đã biết lý do khiến Đức Chúa Trời nổi giận, cũng như tên của người phạm tội. Do đó, sự gay cấn của câu chuyện vạch tội A-can đến từ sự căng thẳng giữa quan điểm của người đọc và quan điểm của Giô-suê và người Y-sơ-ra-ên. Giống như nhiều chương khác của Cựu Ước, Giô-suê 7 có cấu trúc đối xứng. Trong phần giữa, cao điểm của câu chuyện, là câu trả lời cho câu hỏi tại sao dân Y-sơ-ra-ên không thể chinh phục A-hi ngay trong lần tấn công đầu tiên.
Có hai lý do chính khiến người Y-sơ-ra-ên bị người A-hi đánh bại: tội của A-can và sự quá tự tin của Y-sơ-ra-ên vào sức mạnh của chính mình. Lý do sau dẫn đến việc họ đánh giá thấp sức mạnh của kẻ thù và không tham khảo ý muốn của Đức Chúa Trời trước khi tấn công A-hi.
Dựa trên Giô-suê 7:1, 11–13, chúng ta thấy rằng, mặc dù A-can chịu trách nhiệm về hành động gian xảo là phạm lệnh cấm, nhưng toàn thể dân tộc phải chịu trách nhiệm và cam chịu hậu quả. Đức Chúa Trời mô tả tội của A-can bằng cách lần lược cho thấy mức độ nghiêm trọng của nó với trạng từ trong câu 11, “đến nỗi” hoặc ‘cũng” (tiếng Hê-bơ-rơ: gam). Trước hết, từ phổ biến nhất để chỉ tội lỗi là “khata.” Sau đó, hành vi vi phạm được mô tả bằng năm tội cụ thể hơn, được giới thiệu bởi trạng từ gam (“cũng” hoặc “đến nỗi”): (1) “abar,” cũng “vượt qua/ vi phạm”; (2) “laqakh,” đến nỗi lấy những vật đáng diệt (kherem); (3) “ganab”, cũng đã ăn cắp; (4) “kakhash,” cũng đã lừa dối; và (5) “sim,” đến nỗi giấu vật đáng diệt giữa đồ đạt mình.
Giao ước giữa Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên liên quan đến mọi người ở cả cấp độ cá nhân lẫn tập thể. Dưới giao ước, Y-sơ-ra-ên là một đơn vị quốc gia được Chúa chọn không thể chia cắt được; do đó, tội của một người hay của một nhóm thành viên sẽ khiến toàn thể cộng đồng giao ước phải chịu tội. Như Đức Chúa Trời đã phán, “Y-sơ-ra-ên đã phạm tội, và chúng cũng đã bội nghịch giao ước mà Ta đã truyền cho chúng” (Giô-suê 7:11).
Hành vi xấu của một cá nhân trong cộng đồng có thể khiến toàn thể cộng đồng chịu vạ lây ra sao? Bạn có thể cho ví dụ nào để thấy việc cộng đồng bị ảnh hưởng bởi hành vi của cá nhân ?
Đọc Giô-suê 7:16–19. Toàn bộ tiến trình này cho chúng ta biết gì về cả Đức Chúa Trời và A-can?
Thay vì tiết lộ danh tính của kẻ vi phạm, Đức Chúa Trời thiết lập một phương pháp để bày tỏ cả công lý lẫn ân điển của Ngài. Sau khi giải thích lý do vì sao Y-sơ-ra-ên thất bại và kêu gọi dân sự hãy nên thánh (Giô-suê 7:13), Ngài cho phép một khoảng thời gian giữa việc công bố phương pháp và lúc áp dụng, giúp A-can có thời gian để suy nghĩ, ăn năn và xưng tội. Tương tự như vậy, gia đình A-can (nếu họ biết chuyện gì đã xảy ra) có cơ hội quyết định xem họ có muốn tham gia vào việc che đậy hay từ chối thành đồng phạm, giống như các con trai của Cô-rê, những người đã tránh được sự hủy diệt bằng cách từ chối đứng về phía cha mình (so sánh với Dân số Ký 16:23–33; Dân số Ký 26:11).
Giải pháp cho tình trạng lưỡng nan này đi hướng ngược lại với cách nó xâm nhập và gây tai họa cho Y-sơ-ra-ên: tội của tập thể bị loại bỏ và thu hẹp từ Y-sơ-ra-ên xuống còn một chi phái; từ chi phái đến họ hàng; từ họ hàng đến gia đình; và từ gia đình đến cá nhân. Bên cạnh việc tiết lộ kẻ phạm tội, phương pháp điều tra này cũng minh oan cho những người vô tội. Đây là một khía cạnh quan trọng không kém của thủ tục pháp lý tỉ mỉ, trong đó chính Đức Chúa Trời giữ vai trò nhân chứng cho những hành động ẩn kín của A-can.
Người đọc có thể cảm nhận được sự căng thẳng khi Đức Chúa Trời tập trung vào A-can. Ai không ngạc nhiên trước sự ngoan cố của người này khi anh ta hy vọng rằng việc anh ta làm không bị lộ tẩy? Không có gì có thể che giấu khỏi đôi mắt thấu suốt của Đức Giê-hô-va (Thi thiên 139:1–16, 2 Sử ký 16:9), Đấng biết những gì ẩn giấu trong lòng con người (1 Sa-mu-ên 16:7, Giê-rê-mi 17:10, Châm ngôn 5:21).
Điều quan trọng là phải chú ý đến cách Giô-suê xưng hô với A-can: “Con ơi.” Câu nói này không chỉ cho thấy tuổi tác và vai trò lãnh đạo của Giô-suê, mà còn cho thấy thần khí khi vị chiến sĩ vĩ đại này tiếp cận công lý. Ông tràn đầy lòng trắc ẩn trước A-can, mặc dù ông được gọi để thi hành án phạt đối với kẻ phạm tội. Qua thái độ của mình, Giô-suê một lần nữa báo trước sự nhạy cảm, lòng tốt và tình yêu thương của Đấng “không bao giờ thô lỗ, không bao giờ nói lời nghiêm khắc vô ích, không bao giờ gây đau đớn không cần thiết cho một tâm hồn nhạy cảm… Ngài [Chúa Giê-su] đã không sợ hãi lên án sự giả hình, sự vô tín và tội lỗi, nhưng giọng Ngài đầy nước mắt khi Ngài thốt ra những lời khiển trách gay gắt.”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 353.
Việc nhận ra rằng Đức Chúa Trời biết mọi điều bạn làm, ngay cả những điều ẩn giấu của bạn, ảnh hưởng thế nào đến cách bạn sống?
Đọc Giô-suê 7:19–21. Giô-suê yêu cầu A-can làm gì? Ý nghĩa của một yêu cầu như vậy là gì? Chúng ta hiểu lời thú tội của A-can ra sao?
Giô-suê yêu cầu A-can làm hai điều: thứ nhất, tôn vinh và ngợi khen Đức Chúa Trời. Thứ hai, thú nhận và không che dấu những gì mình đã vi phạm. A-can phải nên tôn vinh Đức Chúa Trời bằng cách thừa nhận những gì mình đã làm. Từ được dùng ở đây (todah) có thể ám chỉ sự tạ ơn (Thi thiên 26:7, Ê-sai 51:3, Giê-rê-mi 17:26), nhưng cũng nói đến sự thú nhận tội lỗi (E-xơ-ra 10:11).
Thật đáng tiếc, Kinh Thánh không cho thấy A-can biểu lộ dấu hiệu nào bày tỏ sự ăn năn thực sự. Anh ta hy vọng cho đến giờ chót không bị lộ diện. Thái độ như thách đố ấy hội đủ điều kiện để được coi là một kẻ phạm tội xấc xược, người không được chuộc tội theo luật pháp của Môi-se (so sánh với Dân số Ký 15:27–31).
Những lời của A-can trong Giô-suê 7:21 gợi chúng ta nhớ đến sự sa ngã của A-đam và Ê-va. Ê-va thấy (ra’ah) cây đó có trái coi bộ ăn ngon, đáng thèm (khamad) và cuối cùng đã hái (laqakh) trái của nó để ăn (Sáng thế Ký 3:6). Trong lời thú tội của A-can, anh thừa nhận rằng anh ta đã nhìn thấy (ra’ah) trong chiến lợi phẩm một chiếc áo choàng Si-nê-a tuyệt đẹp, 200 siếc lơ bạc và một thỏi vàng. Sau đó, anh thèm muốn (khamad) và lấy (laqakh) chúng. Cũng giống như trường hợp của A-đam và Ê-va, sự lựa chọn của A-can cho thấy rằng tội tham muốn cũng là tội không tin. Nó nghi ngờ Đức Chúa Trời không muốn các tạo vật của Ngài có được điều tốt nhất và Ngài còn che giấu khỏi họ một số thú vui tuyệt vời, là những điều chỉ thuộc về cõi thần thánh.
Bên cạnh sự ám chỉ đến việc sa ngã nguyên thủy của con người, đoạn Kinh Thánh trên còn làm nổi bật sự tương phản rõ rệt giữa thái độ của Raháp (so sánh với Giô-suê 2:1–13) và thái độ của A-can. Một người đưa các thám tử lên mái nhà và giấu họ khỏi những người lính; người kia lấy những thứ bị cấm và giấu chúng khỏi Giô-suê. Một người tỏ lòng tốt với các thám tử Y-sơ-ra-ên và giúp họ giành chiến thắng; người kia gây rắc rối cho Y-sơ- ra-ên với lòng tham của mình và mang lại bại trận. Một người lập giao ước với người Y-sơ-ra-ên; người kia phá vỡ giao ước với Đức Giê-hô-va. Ra-háp đã cứu mình và gia đình, và họ trở thành công dân Y-sơ-ra-ên được kính trọng; A-can đã tự kết án tử hình chính mình và gia đình, và trở thành một tấm gương ô nhục.
Hãy nghĩ về tội tham lam. Có cách nào để chúng ta tránh bị nó quật ngã, cho dầu chúng ta giàu hay nghèo? (so sánh với Lu-ca 12:15)
Đọc Giô-suê 8:1–29. Câu chuyện này cho chúng ta biết gì về cách Đức Chúa Trời có thể biến những thất bại thảm hại nhất của chúng ta thành những cơ hội phấn khởi?
Chiến lược của Đức Giê-hô-va biến thất bại ban đầu của Y-sơ-ra-ên thành lợi thế, do đó biến đổi thung lũng A-cô (có nghĩa “rắc rối”) thành một cánh cửa hy vọng (so sánh với Ô-sê 2:15). Sau chiến thắng sơ khởi chống người Y-sơ-ra-ên, dân thành A-hi quá tự tin, lặp lại cũng chiến lược ấy và người Y-sơ-ra-ên giả vờ thất bại và rút lui. Khi dân thành A-hi bị dụ chạy ra khỏi đồn lũy của họ, 30,000 người Y-sơ-ra-ên, phục binh không quá xa phía sau thành (Giô-suê 8:4), chiếm lấy thành vắng hoe bằng cách đốt cháy nó. Giô-suê 8:7 nói rõ rằng không phải chiến lược mang lại chiến thắng, mà chính Đức Giê-hô-va sẽ ban chiến thắng và trao thành A-hi cho dân Y-sơ- ra-ên. Đây là một chương trong Kinh Thánh nặng về khía cạnh quân sự hơn hết, nhưng chúng ta vẫn thấy được sự nổi bật cơ bản rằng chiến thắng là món quà của Đức Giê-hô-va.
Sau khi Ngài ban chiến lược trong Giô-suê 8:2, đây là lần thứ hai Đức Chúa Trời báo hiệu rằng Ngài sẽ giám sát trận chiến. Giây phút định đoạt của trận chiến là khi dân thành A-hi ùa chạy ra khỏi thành để truy đuổi dân Y-sơ-ra-ên. Cho đến lúc này, chúng ta không biết kết quả của cuộc chiến sẽ ra sao, nhưng từ thời điểm này trở đi, rõ ràng là quân đội Y-sơ-ra-ên sẽ chiến thắng.
Vũ khí trong tay Giô-suê là một lưỡi liềm, hay giáo, chứ không phải là một thanh kiếm hay lao. Vào thời Giô-suê, nó có thể không được dùng như một vũ khí thực sự, nhưng nó đã trở thành biểu tượng của quyền tối cao. Ngoài việc đưa ra tín hiệu tấn công, nó còn thể hiện quyền tối cao của Đức Chúa Trời trong việc đánh bại A-hi. Bằng cách giơ giáo lên cho đến khi giành được chiến thắng hoàn toàn, Giô-suê đã đảm nhận trọn vẹn vai trò lãnh đạo như Môi-se đã thực hiện khi vượt qua Biển Đỏ (Xuất 14:16) và trong chiến tranh chống lại người A-ma-léc (Xuất 17:11–13), nơi Giô-suê đích thân chỉ huy cuộc chiến.
Lần này không có sự can thiệp kỳ diệu, hữu hình nào của Đức Chúa Trời, nhưng sự hỗ trợ của Chúa không hề kém so với chiến thắng trên người Ai Cập trong thế hệ đầu tiên; hoặc trong chiến thắng gần đây trên Giê-ri-cô. Chìa khóa của thành công nằm trong đức tin vững chắc và sự vâng lời không lay chuyển của Giô-suê vào lời Đức Chúa Trời. Nguyên tắc được thấy trong câu chuyện này vẫn có giá trị đối với dân sự của Chúa ngày nay, dầu họ sống ở đâu và bất kể họ gặp thử thách gì.
Như chúng ta đã học trong bài học trước, Đức Chúa Trời đã ban cho các quốc gia ngoại giáo cơ hội để biết về Ngài và để từ bỏ đường lối gian ác của họ. Tuy nhiên, họ đã từ chối và cuối cùng phải đối mặt với sự phán xét của Chúa.
Giô-suê 7:6–9 thuật lại phản ứng lúc đầu của Giô-suê trước tai họa giáng xuống dân sự. Chú tâm đặc biệt vào Giô-suê 7:9. Nguyên tắc thần học quan trọng nào được tìm thấy qua lời ông nói?
Thoạt đầu, Giô-suê nói có vẻ giống như dân Y-sơ-ra-ên đã than thở lúc gặp khó khăn sau khi rời khỏi Ai Cập, chẳng hạn như: “Ôi, thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê! Vì hai người dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đặng làm cho cả đoàn dân đông này đều bị chết đói ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:3).
Và đây là Giô-suê: “Ôi, Chúa Giê-hô-va, sao Ngài đem dân nầy qua sông Giô-đanh đặng phó chúng tôi vào tay dân A-mô-rít, mà làm cho diệt đi? Ôi! chớ chi chúng tôi chọn phần ở lại bên kia sông Giô-đanh!” (Giô-suê 7:7).
Tuy nhiên, ngay sau đó, ông tỏ ra rất quan tâm đến danh giá và tiếng tăm mà Đức Chúa Trời sẽ phải chịu thiệt hại từ thất bại này. “Dân Ca-na-an và cả dân ở xứ này sẽ hay điều đó, sẽ vây chúng tôi, và diệt danh chúng tôi khỏi đất, rồi Chúa sẽ làm sao cho danh lớn Chúa?” (Giô-suê 7:9).
Điều này cho thấy một chủ đề và nguyên tắc cốt lõi trong mục đích của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên. Mặc dù Ngài muốn các quốc gia ngoại giáo xung quanh thấy những điều vĩ đại mà Ngài sẽ làm cho dân sự Ngài, những người vâng lời Ngài; nhưng họ cũng có thể, như Ra-háp đã làm, tìm hiểu về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên qua sức mạnh của các cuộc chinh phạt của dân Ngài. Mặt khác, nếu mọi việc trở nên tồi tệ, như đã xảy ra ở đây, các quốc gia sẽ coi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là yếu đuối và không hiệu quả (xem Dân số Ký 14:16, Phục truyền 9:28), một điều có thể khuyến khích sự kháng cự của người Ca-na-an.
Nói cách khác, ngay cả trong bối cảnh người Y-sơ-ra-ên chiếm đất, có nhiều vấn đề và nguyên tắc quan trọng liên hệ với nhau, kể cả việc mang lại danh dự và vinh hiển cho Đức Chúa Trời—Đấng hy vọng duy nhất cho những người ngoại đạo, và cho cả Y-sơ-ra-ên.
Đọc Phục truyền Luật-lệ Ký 4:5–9. Chúng ta thấy có sự tương đồng nào giữa Y-sơ-ra-ên và sự làm chứng của họ cho thế gian với sự làm chứng của chúng ta (những người CĐPL) cho thế gian?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Sự sụp đổ thành Giê-ricô”, tr. 493–498, trong Patriarchs and Prophets.
“Cái tội nghiêm trọng dẫn đến sự hủy diệt của A-can bắt nguồn từ lòng tham lam, một tội thông thường nhất và được xem như nhẹ nhất trong mọi tội . . .
“A-can thú nhận tội của mình lúc đã quá muộn để sự thú tội có thể đem lại ích lợi cho anh ta. Anh ta đã chứng kiến quân đội Y-sơ-ra-ên trở về từ A-hi thất bại và ngã lòng; nhưng anh đã không bước ra để thú nhận tội của mình. Anh đã chứng kiến Giô-suê và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên gục đầu xuống đất trong nỗi đau buồn quá sức diễn tả. Nếu anh thú nhận lúc đó, thì ít ra anh sẽ có chút bằng chứng về sự ăn năn thực sự; nhưng anh tiếp tục giữ im lặng. Anh đã nghe lời tuyên bố rằng một tội ác lớn đã xảy ra và cũng đã nghe rõ ràng tính chất của tội ấy. Nhưng môi miệng của anh vẫn giữ chặt. Sau đó là cuộc điều tra nghiêm túc. Tâm hồn anh run rẩy kinh hãi khi thấy chi phái mình bị chỉ ra, rồi gia tộc, rồi đến gia đình! Nhưng anh vẫn không thú nhận, cho đến khi ngón tay của Chúa đặt trên anh ta. Sau đó, khi tội lỗi của anh không còn có thể che giấu được nữa, anh thú nhận sự thật. Những lời thú nhận tương tự xảy ra rất thường xuyên. Có một sự khác biệt lớn giữa việc thú nhận sự thật sau khi chúng đã được phơi bày và việc thú nhận tội lỗi khi mà chỉ chúng ta và Chúa biết. A-can sẽ không thú nhận nếu anh không hy vọng rằng nhờ đó sẽ tránh được hậu quả của tội lỗi mình. Nhưng lời thú tội của anh chỉ cho thấy rằng hình phạt cho anh ta là công bằng. Anh ta không có sự ăn năn thực sự về tội mình, không có sự đau buồn, không có sự thay đổi trong ý định, cũng không có sự ghê tởm điều ác.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 496–498.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 5, 25 – 31 Tháng 10
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Sáng thế Ký 15:16; Lê-vi Ký 18:24–30; 2 Ti-mô-thê 4:1, 8; Xuất Ê-díp-tô Ký 23:28–30; Phục truyền Luật lệ Ký 20:10, 15–18; Ê-sai 9:6.
CÂU GỐC: ‘“Qua một lượt thì Giô-suê bắt các vua này và chiếm lấy xứ họ, bởi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên chinh chiến cho Y-sơ- ra-ên”’ (Giô-suê 10:42).
Đọc Sáng thế Ký 15:16, Lê-vi Ký 18:24–30, Phục truyền Luật lệ Ký 18:9–14 và E-xơ-ra 9:11. Những câu Kinh Thánh này cho chúng ta biết gì về kế hoạch lớn hơn của Đức Chúa Trời khi ban đất Ca-na-an cho người Y-sơ-ra-ên?
Chúng ta cần nhìn xa hơn sách Giô-suê để hiểu đầy đủ hơn về tội ác của các dân tộc sinh sống tại Ca-na-an. Họ có những tập tục ghê tởm như cúng hiến trẻ con, bói toán, phù thủy, ma thuật, chiêu hồn và cầu vong linh (Phục truyền 18:9–12).
Các văn bản cổ đại được khám phá đã cung cấp thêm nhiều hiểu biết về tôn giáo và xã hội Ca-na-an, và chứng tỏ rằng sự lên án nền văn hóa này là dễ hiểu và hợp lý theo các tiêu chuẩn đạo đức của Cựu Ước.
Tôn giáo của người Ca-na-an tin rằng các hiện tượng tự nhiên, việc đảm bảo khả năng sinh sản, được kiểm soát bởi mối quan hệ tình dục giữa các vị thần nam, thần nữ của họ. Vì vậy, họ hình dung chuyện tình dục của các vị thần dựa theo hành vi tình dục của mình. Họ tham gia vào các nghi lễ tình dục để kích động các vị thần nam nữ làm theo như vậy. Điều này dẫn đến việc thành lập nghề mại dâm “thánh”, gồm có cả nam lẫn nữ mại dâm tham gia vào các nghi lễ dâm loạn. Đối với dân cư Ca-na-an, tất cả đó đều là một phần trong các nghi lễ tôn giáo của riêng họ!
Một quốc gia không thể vươn lên một nền tảng đạo đức cao hơn nền tảng đạo đức của các vị thần mà người dân tôn thờ. Không có gì phải ngạc nhiên, khi các nghi lễ tôn giáo của người Ca-na-an bao gồm cả việc hiến tế trẻ con, điều mà Kinh Thánh đã đặc biệt cảnh cáo chống lại.
Tài liệu khảo cổ đã xác nhận rằng dân Ca-na-an thường xuyên hiến tế những đứa con đầu lòng của mình cho các vị thần—thật ra là những con quỷ—mà họ tôn thờ. Những bộ xương nhỏ bị nghiền nát được tìm thấy trong những chiếc bình lớn có khắc lời cầu nguyện, chứng tỏ tôn giáo suy đồi của họ và số phần thảm thương của trẻ con.
Do đó, việc hủy diệt người Ca-na-an không phải là một ý nghĩ chợt nảy ra, hay xuất hiện sau khi Đức Chúa Trời quyết định trao vùng đất Ca-na-an cho Y-sơ-ra-ên. Dân cư Ca-na-an được ban cho một thời gian ân huệ, một thời gian có thêm sự thương xót, trong đó họ có cơ hội tìm hiểu Đức Chúa Trời và bản chất Ngài qua lời chứng của các tộc trưởng sống giữa họ. Nhưng rõ ràng họ đã phung phí cơ hội ấy, và tiếp tục những hành vi ghê tởm cho đến khi Đức Giê-hô-va cuối cùng phải chấm dứt họ.
Đọc Sáng thế Ký 18:25; Thi thiên 7:11; Thi thiên 50:6, Thi thiên 82:1; Thi thiên 96:10, và 2 Ti-mô-thê 4:1, 8. Những câu Kinh Thánh này nói gì về bản tính đạo đức của Đức Chúa Trời? Vai trò của Đức Chúa Trời như vị thẩm phán của vũ trụ, giúp chúng ta hiểu thế nào về cuộc thánh chiến?
Sự thánh khiết của bản tính Đức Chúa Trời có nghĩa là Ngài không thể dung thứ tội lỗi. Ngài kiên nhẫn.Tuy nhiên, tội lỗi phải gặt hái hậu quả cuối cùng của nó, đó là sự chết (Rô-ma 6:23). Đức Giê-hô-va đã tuyên chiến với tội lỗi, bất kể tội lỗi ở đâu, dù là giữa vòng Y-sơ-ra-ên hay giữa dân Ca-na-an. Y-sơ-ra-ên không trở nên thánh hóa bởi tham gia vào các cuộc thánh chiến cũng như các dân tộc khác (Phục truyền 9:4, 5; Phục truyền 12:29, 30), ngay cả khi họ trở thành phương tiện cho sự phán xét của Đức Giê-hô-va trên dân tộc được Ngài chọn. Khác với những dân tộc Cận Đông khác thời xưa, dân Y-sơ-ra-ên đã trải qua sự đảo ngược của thánh chiến, khi Đức Chúa Trời không chiến đấu cho họ mà chống lại họ, và khi Ngài cho phép kẻ thù áp bức họ (so sánh với Giô-suê 7).
Toàn bộ khái niệm về thánh chiến chỉ có thể được hiểu dưới ánh sáng của những hoạt động của Đức Chúa Trời như là thẩm phán. Trái ngược với các cuộc chiến tranh đế quốc để bành trướng, rất phổ biến trong thế giới cổ đại, (và cả trong thế giới của chúng ta ngày nay), các cuộc chiến tranh của Y-sơ- ra-ên không nhằm mục đích đạt vinh quang cho chính họ, mà là để thiết lập công lý và hòa bình của Đức Chúa Trời trên đất. Vì vậy, để thực sự hiểu được ý nghĩa của thánh chiến, chúng ta cần nắm chắc khái niệm về sự cai trị và thẩm quyền của Đức Chúa Trời.
Đức Giê-hô-va như một chiến sĩ, là Đấng, với tư cách là thẩm phán, cam kết thực hiện, ổn định và duy trì luật pháp, những điều phản chiếu bản tính của Ngài. Hình ảnh Đức Chúa Trời như chiến sĩ, tương tự như hình ảnh thẩm phán và vua, quả quyết rằng, Ngài sẽ không mãi mãi dung thứ cho sự nổi loạn chống lại trật tự Ngài đã thiết lập. Do đó, người ta có thể khẳng định rằng mục tiêu của Chúa không bao giờ là chiến tranh, hay chiến thắng, mà là tái lập công lý và hòa bình. Cuối cùng, việc phán xét và tiến hành chiến tranh, hoặc thực thi công lý, chúng là như nhau, nếu Đức Chúa Trời là chủ thể của các hành động.
Suy gẫm về Đức Chúa Trời như một vị thẩm phán công chính, Đấng không thể bị mua chuộc hoặc thiên vị. Làm sao một Đức Chúa Trời, Đấng sẽ không dung thứ mãi mãi tội lỗi, sự áp bức, nỗi đau khổ của người vô tội, và sự bóc lột người cô thế, lại là một phần không tách được của phúc âm?
So sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 23:28–30; Xuất Ê-díp-tô Ký 33:2; Xuất Ê-díptô Ký 34:11, Dân số Ký 33:52, và Phục truyền Luật lệ Ký 7:20 với Xuất Ê-díp-tô Ký 34:13; Phục truyền Luật lệ Ký 7:5; Phục truyền Luật lệ Ký 9:3; Phục truyền Luật lệ Ký 12:2, 3; và Phục truyền Luật lệ Ký 31:3, 4. Những câu Kinh Thánh này tiết lộ điều gì về mục đích của cuộc chinh phục và mức độ của sự hủy diệt?
Mục đích nguyên thuỷ của Đức Chúa Trời đối với người Ca-na-an không phải là hủy diệt mà là tước quyền sở hữu. Những lần Y-sơ-ra-ên phải tham chiến thường được mô tả với những cụm từ có nghĩa tước quyền, trục xuất hay phân tán cư dân của miền Đất Hứa. Nhóm cụm từ thứ hai diễn tả sự hủy diệt (do Y-sơ-ra-ên chủ động) ám chỉ đến sự huỷ diệt các vật vô tri, chẳng hạn như các vật dụng thờ cúng ngoại giáo và các dụng cụ dành cho sự tàn phá. Rõ ràng những nơi cúng bái ngoại giáo và các bàn thờ chính là trung tâm của tôn giáo Ca-na-an.
Chiến tranh thánh chủ yếu hướng về nền văn hóa và xã hội thối nát của Ca-na-an. Để tránh bị ô uế, Y-sơ-ra-ên phải tiêu diệt tất cả các yếu tố truyền bá sự bại hoại. Dầu vậy, tất cả cư dân Ca-na-an và những ai, trên căn bản cá nhân, công nhận quyền tối cao của Đức Chúa Trời trước cuộc chinh phục, hoặc thậm chí trong cuộc chinh phục, đều có thể được thoát khỏi sự hủy diệt bằng cách nhập cư (Giô-suê 2:9–14; so sánh với Các Quan Xét 1:24–26). Phần duy nhất của dân Ca-na-an phải chịu sự hủy diệt là những người rút lui vào các thành kiên cố, ngoan cố tiếp tục nổi loạn chống lại kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho người Y-sơ-ra-ên và trở nên cứng lòng (Giô-suê 11:19, 20).
Tuy nhiên, điều này đưa ra câu hỏi: nếu mục đích ban đầu của việc chinh phục Ca-na-an là để đuổi cư dân của vùng đất này chứ không phải để tiêu diệt họ, tại sao Y-sơ-ra-ên lại phải giết nhiều người như vậy?
Các văn bản Kinh Thánh liên quan đến cuộc chinh phục Ca-na-an cho thấy mục đích ban đầu của cuộc chinh phục là làm phân tán dân số Ca-naan. Tuy nhiên, phần lớn người Ca-na-an, giống như Pha-ra-ôn của Ai Cập, lòng họ đã trở nên chai đá và như vậy, họ gắn bó với văn hóa, đến độ nếu phải hủy diệt văn hóa của họ, cũng có nghĩa là họ cũng bị tiêu diệt chung.
Những phần tử nào trong bản tính và thói quen của chúng ta cần phải được bứng nhổ và huỷ diệt?
Đọc Phục truyền Luật lệ Ký 20:10, 15–18; Phục truyền Luật lệ Ký 13:12–18; và Giô-suê 10:40. Qui luật chiến tranh và phương sách chống lại một thị trấn sùng bái thần tượng ở Y-sơ-ra-ên, như đã diễn tả, giúp chúng ta hiểu được thế nào về những hạn chế của việc hủy diệt hoàn toàn trong chiến tranh mà người Y-sơ-ra-ên tham gia?
Một lần nữa, kể từ khi tội lỗi xuất hiện trên thế gian, không có sự trung lập: một người hoặc là với Chúa hoặc chống lại Ngài. Một bên dẫn đến sự sống, sự sống vĩnh cửu, và bên kia dẫn đến sự chết, sự chết đời đời. Sự diệt trừ hoàn toàn một dân tộc trong chiến tranh cần được hiểu theo góc nhìn của cuộc xung đột giữa Đức Chúa Trời với các thế lực tà ác trong vũ trụ, nơi mà bản tính và danh dự Ngài bị đe dọa.
Sự diệt trừ tận gốc mô tả sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi và điều ác. Chúa đã đặc biệt giao phó việc thi hành một phần sự phán xét của Ngài cho quốc gia được Ngài chọn, Y-sơ-ra-ên thuở xưa. Việc hủy diệt nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Ngài, giới hạn trong một giai đoạn lịch sử nhất định (giai đoạn chinh phục) và một khu vực địa lý được xác định rõ ràng (Ca-na-an thuở xưa). Như chúng ta đã thấy trong bài học hôm qua, những người thuộc dưới lệnh cấm hủy diệt cứ liên tục nổi loạn chống lại và thách thức mục đích của Đức Chúa Trời và chẳng bao giờ ăn năn. Do đó, quyết định Chúa hủy diệt họ không phải là độc đoán hay mang tính cách chủ nghĩa dân tộc.
Hơn nữa, Y-sơ-ra-ên cũng sẽ nhận được sự đối xử tương tự nếu họ quyết định đi theo lối sống giống như người Ca-na-an (so sánh với Phục truyền 13). Mặc dầu việc phân chia phe ở bên nào trong cuộc chiến tranh thiêng liêng xem giống như tiền định (người Y-sơ-ra-ên sẽ thừa hưởng đất đai và người Ca-na-an sẽ bị tiêu diệt), con người vẫn có khả năng di chuyển từ bên này sang bên kia, như chúng ta thấy trong trường hợp của Ra-háp, A-can và người Ghi-bê-ôn.
Loài người không được bảo vệ hoặc bị cấm đoán cách tuỳ tiện. Những người được hưởng lợi từ mối quan hệ với Đức Giê-hô-va có thể mất đi đặc quyền của mình vì sự ương nghạnh hay chống đối của họ, nhưng những người chịu lệnh cấm đoán có thể phục tùng thẩm quyền của Đức Giê-hô-va và được sống.
Ý nghĩa thuộc linh của việc dân Ca-na-an thách thức Đức Chúa Trời trong bối cảnh ngày nay của chúng ta là gì? Hậu quả của sự tự do lựa chọn đối với cá nhân chúng ta là gì?
Các đoạn Kinh Thánh sau đây mô tả thế nào về tương lai mà Đức Chúa Trời đã hình dung cho dân sự Ngài? Ê-sai 9:6, Ê-sai 11:1–5, Ê-sai 60:17, Ô-sê 2:18, Mi-chê 4:3.
Mặc dù điểm chính của bài học tuần này là về các cuộc chiến tranh do Đức Chúa Trời truyền lệnh và hỗ trợ trong Cựu Ước, nhưng chúng ta cũng cần đề cập đến sự hiện diện của một chủ đề quan trọng khác trong các lời tiên tri của Cựu Ước: ảnh tượng tương lai về kỷ nguyên hoà bình của Đấng Mê-si. Đấng Mê-si được mô tả là “Chúa Bình An” (Ê-sai 9:6). Ngài sẽ thiết lập một vương quốc được cai trị bởi hòa bình, nơi sư tử và chiên con sẽ cùng gặm cỏ (Ê-sai 11:1–8), nơi không có sự hủy diệt hay đau đớn (Ê-sai 11:9), và nơi hòa bình sẽ cai trị (Ê-sai 60:17) và chảy như một dòng sông (Ê-sai 66:12).
Đọc 2 Các Vua 6:16–23. Câu chuyện này cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc nào về mục đích sâu xa hơn của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài và nhân loại?
Theo sáng kiến của Ê-li-sê, quân đội Sy-ri được đãi tiệc lớn ăn uống trước khi họ được tha về. Thay vì tàn sát họ (2 Các Vua 6:22), Ê-li-sê đã cho họ thấy lý tưởng tối cao, hòa bình, vốn luôn là mong muốn của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Chúng ta cũng chú ý rằng Ê-li-sê hoàn toàn nhận thức được sự vượt trội của đội quân vô hình bao quanh kẻ thù (2 Các Vua 6:17). Mặc dù sự tham gia của Đức Chúa Trời trong cuộc xung đột vũ trụ cũng ảnh hưởng đến hành tinh của chúng ta, mục tiêu cuối cùng của sự cứu chuộc không phải là một sự xung đột bất tận, hay khiến kẻ thù mãi mãi bị áp bức, mà là đạt được hoà bình vĩnh cửu. Vì bạo lực sinh ra bạo lực (Ma-thi-ơ 26:52), hòa bình sinh ra hòa bình. Câu chuyện kết thúc với lời tuyên bố rằng “Từ đó về sau, những toán quân Sy-ri không còn loán đến địa phận Y-sơ-ra-ên nữa” (2 Các Vua 6:23).
Bởi theo gương Đức Chúa Giê-su, chúng ta có thể trở thành những người mang lại hoà bình. Trong đời sống của bạn hiện tại, bất kỳ xung đột nào bạn phải đối mặt, bạn có thể trở thành người mang lại hoà bình hay xung khắc?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Sự Sụp Đổ của Giê-ricô” tr. 491–493, trong Patriarchs and Prophets.
Cũng như mọi điều trong Kinh Thánh, biết ngữ cảnh và bối cảnh là điều rất quan trọng. Như chúng ta đã thấy, sự xung đột vũ trụ và hình ảnh Đức Chúa Trời như Đấng phán xét là cốt lõi để hiểu về những cuộc chiến chống lại người Ca-na-an.
“Đức Chúa Trời chậm giận. Ngài đã ban cho các quốc gia gian ác một thời gian thử thách để họ có thể nhận biết Ngài và bản tính Ngài. Theo ánh sáng được ban cho, họ bị lên án vì đã từ chối tiếp nhận ánh sáng và chọn con đường riêng của mình thay vì con đường của Chúa. Đức Chúa Trời đã đưa ra lý do tại sao Ngài không ngay lập tức đánh đuổi người Ca-na-an. Tội lỗi của người A-mô-rít chưa đầy. Tội lỗi dần dần đưa họ đến điểm mà sự kiên nhẫn của Chúa không còn có thể được thực hiện nữa và họ sẽ bị tiêu diệt. Sự báo thù của Đức Chúa Trời sẽ được trì hoãn cho đến một mức độ khi tội lỗi của họ đã tràn đầy. Mọi quốc gia đều có thời gian thử luyện. Những kẻ xem thường luật pháp của Đức Chúa Trời sẽ tiến từ mức độ gian ác này sang mức độ gian ác khác. Con cái sẽ thừa hưởng tinh thần phản nghịch của cha mẹ và còn làm tồi tệ hơn cha mẹ cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giáng xuống chúng. Hình phạt không hề nhẹ hơn tuy đã được trì hoãn.”— Ellen G. White, Bình luận, The SDA Bible Commentary, tập 2, tr. 1005.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 4, 18– 24 Tháng 10
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giô-suê 5:13–15; Ê-sai 37:16; Khải huyền 12:7–9; Phục truyền Luật lệ Ký 32:17; Xuất Ê-díp-tô Ký 14:13, 14; Giô-suê 6:15–20.
CÂU GỐC: ‘“Từ trước và về sau này, chẳng hề có ngày nào như ngày đó, là ngày Đức Giê-hô-va có nhậm lời của một loài người, vì Đức Giê-hô-va chiến cự cho dân Y-sơ-ra-ên”’ (Giô-suê 10:14).
Đọc Giô-suê 5:13–15. Đoạn Kinh Thánh này nói gì về bối cảnh của cuộc chinh phục Ca-na-an?
Y-sơ-ra-ên vừa mới vượt qua sông Giô-đanh và bước vào đất của kẻ thù. Trước mặt là pháo đài Giê-ri-cô với cổng thành đóng chặt (Giô-suê 6:1). Vào thời điểm này, dân sự chưa hề biết bất kỳ chiến lược nào. Còn đáng lo ngại hơn nữa là Y-sơ-ra-ên chỉ có ná, giáo và tên để tấn công một thành phố được củng cố để chống lại một cuộc bao vây dài hạn.
Giô-suê hỏi về danh tính của vị khách lạ và nhận được một câu trả lời khá mơ hồ: “Không”. Câu trả lời của vị khách cho thấy rằng Ngài không muốn thuộc vào các nhóm được phân định bởi Giô-suê. Nói cách khác, câu hỏi quan trọng nhất không phải là Ngài có đứng về phe Giô-suê hay không; mà là Giô-suê có đứng về phía Ngài không?
So sánh Giô-suê 5:14, 15 với 2 Các Vua 6:8–17, Nê-hê-mi 9:6 và Ê-sai 37:16. Bạn học được gì về danh tính của vị chỉ huy đạo quân Đức Giê-hô- va?
Trong khi cụm từ “chỉ huy đạo quân của Đức Giê-hô-va” chỉ có trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ, sự kết hợp của các thuật ngữ “chỉ huy” và “đạo quân” luôn ám chỉ một nhà lãnh đạo quân sự. Chữ “đạo quân” trong Kinh Thánh có thể ám chỉ quân đội, các thiên sứ hoặc các thiên thể.
Đấng Christ (trước khi nhập thể) hiện ra với Giô-suê không chỉ như một đồng minh, cũng không phải là vị Chỉ huy thực sự của quân đội Y-sơ-ra-ên, mà là Chỉ huy của đội quân thiên thần vô hình nhưng có thật, tham gia vào một cuộc chiến vĩ đại hơn nhiều so với cuộc chiến giữa Giô-suê và dân Cana-an. Câu trả lời của Giô-suê cho thấy rõ ràng ông hiểu về danh tính của Đấng Chỉ huy. Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời, và Giô-suê phủ phục trước Ngài như một dấu hiệu của sự tôn trọng và thờ phượng sâu xa (Giô-suê 5:14, Sáng thế Ký 17:3, 2 Sa-mu-ên 9:6, 2 Sử ký 20:18). Giô-suê nay sẵn sàng tiếp nhận chiến lược cho một chiến dịch quân sự mà chính nó là một phần của một trận chiến lớn hơn nhiều—cuộc chiến mà chính Đức Chúa Trời của các Đạo Quân cũng tham gia.
Chúng ta có thể tìm được sự an ủi nào, khi biết rằng “Chỉ huy của đạo quân Đức Giê-hô-va” đang hoạt động để bảo vệ dân Ngài?
Giô-suê hiểu rằng trận chiến với người Ca-na-an là một phần của một cuộc xung đột lớn hơn. Chúng ta biết gì về cuộc xung đột mà chính Đức Chúa Trời đã tham gia? Đọc Khải huyền 12:7–9, Ê-sai 14:12–14, Ê-xê-chi- ên 28:11–19 và Đa-ni-ên 10:12–14.
Đức Chúa Trời đã tạo nên vũ trụ với những tạo vật có trách nhiệm và được ban cho ý chí tự do, một điều kiện tiên quyết để họ có thể yêu thương. Họ có thể chọn làm theo hoặc chống lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Một trong những thiên sứ mạnh nhất, Lu-xi-phe, đã nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời và kéo theo rất nhiều thiên sứ khác.
Ê-sai và Ê-xê-chi-ên ám chỉ đến cuộc xung đột ấy. Một số bình luận gia cố gắng hạn chế ý nghĩa của Ê-sai 14 và Ê-xê-chi-ên 28, bởi cho rằng đó chỉ nói về vua Ba-by-lôn và một người cai trị ở Ty-rơ. Tuy nhiên, Kinh Thánh cho thấy rõ ràng những dấu hiệu chỉ về một thực tế siêu hơn. Vua Ba-by-lôn được giới thiệu là đã ở trên thiên đàng, tại ngai của Đức Chúa Trời (Ê-sai 14:12, 13), và vua Ty-rơ được cho là đã cư ngụ tại Ê-đen như một chê-ru-bin để hộ vệ trên núi thánh của Chúa (Ê-xê-chi-ên 28:12–15). Những mô tả này không đúng với vua Ba-by-lôn và Ty-rơ.
Các vị vua trần giới cũng không thể nào được cho rằng họ là những người vô tội và là “chiếc nhẫn ấn tín của sự hoàn hảo.” Do đó, những nhân vật được mô tả trong Ê-sai và Ê-xê-chi-ên phải nói về những vị vượt ngoài các vương quốc Ba-by-lôn và Ty-rơ theo nghĩa đen.
Ê-sai trình bày một “ngụ ngôn” có ý nghĩa vượt quá bối cảnh lịch sử trực tiếp. Ở đây, vua Ba-by-lôn là biểu tượng cho sự nổi loạn, tự mãn và kiêu ngạo. Tương tự như vậy, Ê-xê-chi-ên phân biệt giữa hoàng tử xứ Ty-rơ (Ê-xê-chi-ên 28:2) và vua xứ Ty-rơ (Ê-xê-chi-ên 28:11, 12), trong đó hoàng tử, hoạt động trong cõi trần gian, trở thành biểu tượng của một vị vua hành động trong cõi trên trời.
Theo Đa-ni-ên 10:12–14, những phản loạn trên trời này cản trở việc hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời trên đất. Chính trong mối liên hệ giữa trời và đất này mà chúng ta phải hiểu các cuộc chiến tranh được Chúa chấp thuận của Y-sơ-ra-ên. Chúng ta cần nhận ra chúng là biểu hiện trên đất chỉ về cuộc xung đột lớn giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan, giữa thiện và ác—tất cả đều nhằm mục đích tối hậu khôi phục công lý và tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong một thế giới sa ngã.
Chúng ta thấy gì về thực tế của cuộc tranh chấp toàn vũ giữa thiện và ác trong thế giới quanh ta và ngay cả trong đời sống chúng ta
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 2:23–25; Xuất Ê-díp-tô Ký 12:12, 13; và Xuất Ê-díp-tô Ký 15:3–11. Đức Chúa Trời là một chiến sĩ có nghĩa gì?
Trong thời gian dài lưu trú tại Ai Cập, dân Y-sơ-ra-ên đã dần dần quên mất Đức Chúa Trời thật của tổ tiên họ. Như đã thấy qua nhiều biến cố trong cuộc hành trình trong sa mạc, kiến thức của họ về Đức Chúa Trời của Ápra-ham, Y-sác và Gia-cốp đã phai nhạt, và họ đã pha trộn các yếu tố ngoại giáo vào các nghi lễ tôn giáo của mình (so sánh với Xuất 32:1–4). Dưới sự áp bức của người Ai Cập, họ đã kêu cầu Đức Chúa Trời (Xuất 2:23–25), và vào đúng thời điểm, Ngài đã can thiệp thay cho họ.
Tuy nhiên, cuộc xung đột được mô tả trong 12 chương đầu của sách Xuất Ê-díp-tô Ký, không chỉ là một cuộc đấu tranh quyền lực đơn thuần giữa Môi-se và Pha-ra-ôn. Nó to rộng hơn vậy. Theo chủ nghĩa chiến tranh Cận Đông thời xưa, sự xung đột giữa các dân tộc được coi là sự xung đột giữa các vị thần. Xuất Ê-díp-tô Ký 12:12 tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã giáng sự phán xét, không chỉ trên Pha-ra-ôn, mà còn trên các vị thần của Ai Cập— những ma quỷ hùng mạnh (Lê-vi Ký 17:7, Phục truyền 32:17) đứng phía sau các quyền lực áp bức và hệ thống xã hội bất công của Ai Cập.
Cuối cùng, Đức Chúa Trời đang tranh chiến với tội lỗi và sẽ không để cho cuộc xung đột này kéo dài mãi mãi (Thi thiên 24:8, Khải huyền 19:11; Khải huyền 20:1–4, 14). Tất cả các thiên sứ sa ngã, cũng như những người đã xác định mình nhất quyết đứng chung với tội lỗi, sẽ bị hủy diệt. Và như thế, các cuộc chiến chống lại cư dân của vùng đất này phải được xem như là màn đầu của cuộc xung đột vũ trụ. Nó sẽ đạt đến tột đỉnh tại thập giá, kết thúc với sự phán xét cuối cùng, khi sự công bình và bản chất yêu thương của Đức Chúa Trời sẽ được chứng minh.
Ý niệm về sự hủy diệt hoàn toàn người Ca-na-an phải được hiểu trên căn bản của thế giới quan Kinh Thánh, trong đó Đức Chúa Trời dự phần trong một cuộc xung đột vũ trụ chống lại những kẻ ủng hộ điều ác. Điều cuối cùng bị đe dọa là danh dự của Chúa và bản chất của Ngài (Rô-ma 3:4, Khải huyền 15:3).
Kể từ khi tội lỗi xâm nhập vào đời sống con người, không ai có thể đứng ở vị trí trung lập. Mỗi người phải chọn ở bên Đức Chúa Trời hoặc bên điều ác. Do đó, sự diệt trừ người Ca-na-an nên được hiểu như việc xem trước sự phán xét cuối cùng.
Thực tế của cuộc đấu tranh vĩ đại chỉ cho phép chúng ta chọn một trong hai phe. Bạn có biết mình thực sự ở phe nào?
Theo Xuất Ê-díp-tô Ký 14:13, 14, 25, kế hoạch lý tưởng ban đầu của Đức Chúa Trời về việc dân Y-sơ-ra-ên tham chiến là gì?
Vào giây phút khủng hoảng đó, khi dân Y-sơ-ra-ên bị đẩy vào thế bế tắc về mặt thể chất, “Môi-se trả lời dân sự rằng: ‘Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi ngày nay xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi; vì người Ê-díp-tô mà các ngươi ngó thấy ngày hôm nay, thì chẳng bao giờ ngó thấy nữa. Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng’ ” (Xuất 14:13, 14). Theo lời tường thuật trong Kinh Thánh, ngay cả chính người Ai Cập cũng hiểu được thực tế đó: “Chúng ta hãy trốn khỏi dân Y-sơ-ra-ên đi, vì Đức Giê- hô-va thế dân đó mà chiến cự cùng chúng ta” (Xuất 14:25).
Sự can thiệp diệu kỳ của Đức Chúa Trời cho một dân Y-sơ-ra-ên bất lực, thiếu huấn luyện về mặt quân sự, trở thành mẫu mực. Cuộc Xuất hành đã trở thành mô hình và chuẩn mực cho sự can thiệp của Chúa thay cho dân Y-sơ-ra-ên. Ở đây không chỉ là trận giao tranh tham chiến bởi Đức Giê-hô- va, mà ngay cả Y-sơ-ra-ên cũng không buộc phải tham gia (Xuất 14:14). Đức Chúa Trời là một chiến sĩ; chủ động thuộc về Ngài. Ngài thiết lập chiến lược, xác định phương tiện và chỉ đạo cuộc chiến. Nếu Chúa không chiến đấu cho Y-sơ-ra-ên, họ sẽ không có khả năng thành công.
Ellen G. White diễn giải điều này như một biểu hiện của thực tế rằng Chúa “không thiết kế để họ giành được vùng đất hứa bằng chiến tranh, mà bằng sự phục tùng và vâng lời tuyệt đối các mệnh lệnh của Ngài.”—Ellen G. White, The Signs of the Times, 2 tháng 9 năm 1880. Giống như trong cuộc giải cứu họ khỏi Ai Cập, Đức Giê-hô-va sẽ chiến đấu thay họ. Họ chỉ cần phải đứng yên và chứng kiến sự can thiệp đầy quyền năng của Ngài.
Lịch sử chứng minh rằng bất cứ khi nào dân Y-sơ-ra-ên có đủ sự tin cậy nơi Đức Chúa Trời, họ không cần phải chiến đấu (xem 2 Các Vua 19, 2 Sử ký 32, Ê-sai 37).
Trong kế hoạch lý tưởng của Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên không cần phải chiến đấu. Nhưng Đức Chúa Trời cho phép họ tham gia vào cuộc chiến chống lại người Ca-na-an là hậu quả của sự vô tín, được bày tỏ sau cuộc Xuất hành. Họ đã không cần phải giơ một thanh kiếm nào lên chống lại người Ai Cập trong cuộc Xuất hành; thì cũng vậy, họ sẽ không bao giờ cần phải chiến đấu để chinh phục Ca-na-an (Phục truyền 7:17–19).
“Nếu con cái Y-sơ-ra-ên không lằm bằm với Chúa, Ngài đã chẳng khiến kẻ thù của họ gây chiến với họ.”—Ellen G. White, The Story of Redemption, tr. 134. Những lời lằm bằm có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta ngày nay như thế nào?
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 17:7–13 và Giô-suê 6:15–20. Bạn thấy có điểm tương đồng nào giữa hai câu chuyện chiến tranh này? Chúng khác nhau ra sao?
Lần đầu tiên dân Y-sơ-ra-ên tham chiến sau khi rời Ai Cập được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 17, lúc họ phải tự vệ chống lại dân A-ma-léc. Dân Y-sơ-ra-ên đã chứng kiến quyền năng của Đức Chúa Trời qua các tai ương xảy ra cho người Ai Cập, và qua việc Ngài dẫn dắt họ đến tự do. Kế hoạch ban đầu của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên không bao gồm việc chiến đấu với những dân tộc khác (Xuất 23:28; Xuất 33:2). Nhưng ngay sau khi được giải cứu khỏi Ai Cập, dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu cằn nhằn trên lộ trình (Xuất 17:3), thậm chí còn hạch sách sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa họ. Chính lúc ấy, dân A-ma-léc đã xuất hiện để khiêu chiến với Y-sơ-ra-ên. Đây không phải là điều ngẫu nhiên. Đức Chúa Trời đã cho phép người A-ma-léc tấn công Y-sơ-ra-ên để họ có thể học cách tin cậy Ngài một lần nữa.
Đức Chúa Trời liên tục kêu gọi dân sự trở lại với kế hoạch lý tưởng: Đừng do dự và hãy tin cậy hoàn toàn vào sự can thiệp của Ngài. Thật vậy, luật giao chiến (Phục truyền 20) chỉ được ban hành sau 40 năm trải nghiệm trong sa mạc, cũng là vì sự vô tín của Y-sơ-ra-ên. Hoàn cảnh mới đòi hỏi những chiến lược mới, và chỉ khi đó, Đức Chúa Trời mới đòi hỏi Y-sơ-ra-ên phải hoàn toàn tận diệt người Ca-na-an (Phục truyền 20:16–18).
Bên cạnh thực tế rằng chiến tranh đã trở thành sự cần thiết cho Y-sơ-ra- ên, nó cũng hoá ra một thử thách về lòng trung tín của họ đối với Đức Chúa Trời. Chúa không từ bỏ họ mà cho phép họ chứng kiến quyền năng của Ngài bằng cách kinh nghiệm sự phụ thuộc hoàn toàn vào Ngài.
Sự tham gia của người Y-sơ-ra-ên trong cuộc chinh phục được biểu hiện qua kết luận mà Giô-suê rút ra ở cuối sách. Ở đây cho thấy người Ca-na-an đã chiến đấu chống lại người Y-sơ-ra-ên (Giô-suê 24:11). Trong khi sự sụp đổ của các tường thành Giê-ri-cô là kết quả của một phép lạ từ Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên đã phải tích cực tham chiến và đối mặt với sự kháng cự ngoan cố của cư dân trong thành.
Sự tham chiến võ trang của Y-sơ-ra-ên đã trở thành một cách để phát triển sự trông cậy vô điều kiện vào sự trợ giúp của Chúa. Tuy nhiên, Y-sơ-ra- ên luôn được nhắc nhở (Giô-suê 7:12, 13; Giô-suê 10:8) rằng kết quả của mỗi trận chiến cuối cùng đều nằm trong tay Đức Giê-hô-va, và cách duy nhất họ có thể ảnh hưởng đến kết quả của một cuộc xung đột quân sự là, qua sự tin hoặc không tin của họ đối với những lời hứa của Chúa. Sự lựa chọn là của riêng họ.
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “The Fall of Jericho” tr. 487–493, trong Patriarchs and Prophets.
Khi cuộc nổi loạn chống lại thẩm quyền của Đức Chúa Trời dấy lên trong vũ trụ, hoặc là Chúa sẽ từ bỏ bản chất vốn có, bất biến và vĩnh cửu của Ngài, và trao quyền lãnh đạo toàn bộ vũ trụ cho một trong những tạo vật phản nghịch; hoặc Ngài sẽ trở thành Cha thánh khiết, công bình, yêu thương và nhân từ của tất cả những gì hiện hữu. Kinh Thánh trình bày bức tranh thứ hai và, trong trường hợp này, cuộc đụng độ không thể tránh khỏi giữa các thế lực của điều ác và quyền năng của Ngài.
Khi các thế lực chính trị hoặc xã hội-lịch sử liên kết với các quyền lực hỗn loạn và phản nghịch trong vũ trụ biểu hiện cùng một thái độ thách thức chống lại Đức Giê-hô-va, Ngài, là Đức Chúa Trời tối cao của vũ trụ, đã can thiệp. Đức Giê-hô-va như một chiến sĩ trở thành hình ảnh báo trước về chiến thắng cuối cùng, một chiến thắng sẽ chấm dứt cuộc xung đột vũ trụ đang diễn ra giữa thiện và ác (Khải huyền 20:8–10). Hơn nữa, các cuộc chiến tranh thiêng liêng của Y-sơ-ra-ên không chỉ mang đến cái nhìn thoáng qua về cuộc đấu tranh vũ trụ rộng lớn hơn mà còn là một phần không thể thiếu trong cùng một sự tranh chấp hướng tới sự phán xét cuối cùng của Đức Chúa Trời trong bối cảnh lịch sử hiện tại.
“Chúa đã ban cho họ đặc ân và bổn phận của họ là bước vào vùng đất này vào thời điểm Ngài chỉ định, nhưng bởi sự cố ý xao lãng của họ, sự cho phép đó đã bị thu hồi. . . . Mục đích của Ngài không phải là họ phải giành được vùng đất này bằng chiến tranh, mà là bằng cách tuyệt đối vâng lời các mệnh lệnh của Ngài.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 392.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 3, 11 – 17 Tháng 10
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giô-suê 3; Dân số Ký 14:44; Lu-ca 18:18–27; Giô-suê 4; Giăng 14:26; Hê-bơ-rơ 4:8–11.
CÂU GỐC: ‘“Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã làm cho sông Giô-đanh bày khô trước mặt các ngươi, cho đến chừng nào các ngươi đã qua khỏi, —y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã làm tại Biển đỏ, khiến cho nó bày khô trước mặt chúng ta, cho đến chừng nào chúng ta đã qua khỏi, hầu cho các dân tộc thế gian biết rằng tay của Đức Giê-hô-va là rất mạnh, và cho các ngươi kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi luôn luôn’” (Giô-suê 4:23, 24).
Đọc Giô-suê 3:1–5 và Dân số Ký 14:41–44. Tại sao Đức Chúa Trời đòi hỏi dân Y-sơ-ra-ên chuẩn bị đặc biệt cho những gì sắp xảy ra?
Đây là lần đầu tiên hòm giao ước được nhắc đến trong sách Giô-suê. Trước đó trong Cựu Ước, hòm giao ước đã xuất hiện trong bối cảnh của đền tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:21); trong cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên từ núi Si-nai (Dân số Ký 10:33–36); và trong nỗ lực không thành khi họ bắt đầu cuộc chinh phục Ca-na-an (Dân số Ký 14:44). Hòm giao ước là thứ thiêng liêng nhất trong đền thánh của dân Y-sơ-ra-ên và chứa ba đồ vật, mỗi vật thể hiện mối quan hệ đặc biệt của dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời: (1) hai bảng đá ghi Mười Điều Răn; (2) cây gậy của A-rôn, thầy tế lễ thượng phẩm; và (3) một lọ chứa ma-na (Xuất 16:33; Hê-bơ-rơ 9:4).
Hòm giao ước và sự chuẩn bị để vượt sông Giô-đanh, nhắc nhở dân Y-sơ- ra-ên rằng họ không tiến vào Ca-na-an tự theo ý và thời điểm riêng của họ. Cuộc chinh phục sẽ chỉ thành công nếu họ tuân theo cách thức và thời điểm của Đức Chúa Trời—Đấng được mô tả là ngự trên các chê-ru-bin đang bao phủ hòm giao ước (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:22, Dân số Ký 7:89). Những chuyển động của Ngài được xác định với những chuyển động của hòm giao ước— tiến vào Ca-na-an trước mặt dân Y-sơ-ra-ên với tư cách là Đấng dẫn đầu cuộc chinh phục.
“Làm cho mình ra thánh (thánh hóa)” (Giô-suê 3:5) ám chỉ một tiến trình thanh tẩy tương tự như những gì các thầy tế lễ đã làm trước khi bắt đầu phục vụ trong đền thờ (Xuất 28:41; Xuất 29:1) và những gì dân Y-sơ-ra-ên đã thực hiện trước khi Đức Chúa Trời mặc khải tại Si-nai (Xuất 19:10, 14). Sự thánh hiến này bao gồm việc từ bỏ tội lỗi và loại bỏ mọi ô uế trong các nghi lễ. Lệnh này được thấy trong Dân số Ký 11:18, sửa soạn cho một phép lạ của Chúa sắp xảy ra. Sự chuẩn bị “nên thánh” như vậy cũng được đòi hỏi trước khi ra trận (Phục truyền 23:14). Trước khi Đức Chúa Trời có thể chiến đấu cho dân Y-sơ-ra-ên trong trận chiến, họ phải thể hiện lòng trung thành với Ngài và tin cậy Ngài là Đấng Chỉ huy của họ.
Phép lạ băng qua sông Giô-đanh sẽ chứng minh cho dân Y-sơ-ra-ên rằng lời Đức Chúa Trời hứa về việc đuổi những dân này ra khỏi vùng đất là đáng tin cậy. Đấng có thể đảm bảo một lối đi khô ráo qua sông Giô-đanh cũng có thể ban cho họ miền đất ấy.
Không phải lúc nào Đức Chúa Trời cũng phân rẽ dòng sông Giô-đanh. Sự can thiệp của Ngài không phải lúc nào cũng rõ ràng như vậy. Chúng ta có thể phát triển sự chuẩn bị thuộc linh như thế nào để trải nghiệm và nhận thức được sự can thiệp của Ngài vì cớ chúng ta?
Đọc Giô-suê 3:6–17. Sự vượt sông Giô-đanh diệu kỳ cho chúng ta biết gì về bản chất của Đức Chúa Trời, Đấng chúng ta phục sự?
Sự kiện vượt sông Giô-đanh được mô tả trong Giô-suê 3:5 bằng tiếng Hê-bơ-rơ niphla’ot, nghĩa là “lạ lùng, kỳ diệu,” những chữ nói về những hành động siêu nhiên, mạnh mẽ của Đức Chúa Trời và chứng minh sự độc đáo của Ngài (Thi thiên 72:18, Thi thiên 86:10). Sau này, khi dân Y-sơ-ra-ên suy ngẫm về những điều đã xảy ra, họ ngợi khen Đức Chúa Trời (Thi thiên 9:1) và công bố Ngài giữa các dân tộc (Thi thiên 96:3). Các tai vạ ở Ai Cập (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:20, Mi-chê 7:15), sự vượt Biển Đỏ, cũng như sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong đồng vắng (Thi thiên 78:12–16) đã được kể lại như những kỳ công.
Các tác giả của Kinh Thánh biết và làm chứng về sự thật rằng, Đức Chúa Trời, Đấng tạo nên thế gian, không bao giờ bị giới hạn hay ràng buộc bởi sự sáng tạo của Ngài. Không có gì là quá khó cho Ngài không thể thực hiện (Giê-rê-mi 32:17). Danh và bản chất của Ngài thật kỳ diệu (Các Quan Xét 13:18), và Ngài vượt quá sự hiểu biết của chúng ta.
Trái ngược với các vị thần của các quốc gia khác, những thần chẳng cứu được ai (Thi thiên 96:5, Ê-sai 44:8), Đức Chúa Trời của Kinh Thánh là một “Đức Chúa Trời hằng sống”, luôn hành động và hiện hữu, những ai theo Ngài có thể tin cậy sự can thiệp của Ngài vì lợi ích của họ.
Tiên tri Xa-cha-ri đã dùng cùng một thuật ngữ “sự lạ lùng” khi ông hình dung về tương lai của Y-sơ-ra-ên sau cuộc lưu đày ở Ba-by-lôn. Ông thấy Giê-ru-sa-lem sẽ được xây dựng lại hoàn toàn, với những người già ngồi bên các đường phố, và các bé trai bé gái chơi đùa ở đó. Đối với những cư dân có vẻ như hoài nghi về một thành phố còn mang dấu hiệu tàn phá, Xa-cha-ri tuyên bố: “Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong những ngày đó, dầu những sự ấy coi như lạ lùng cho mắt của dân sót này, song há lạ lùng cho mắt ta sao? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ giải cứu dân ta từ phương đông phương tây, và đem chúng đến, chúng nó sẽ ở giữa Giê-ru-sa-lem” (Xa-cha-ri 8:6–8).
Đọc Lu-ca 18:18–27. Câu trả lời của Đức Chúa Giê-su cho các môn đồ, khuyến khích bạn thế nào về việc tin cậy Đức Chúa Trời với những điều xem ra không thể được?
Đọc Giô-suê 4. Tại sao Đức Chúa Trời bảo dân Y-sơ-ra-ên xây một đài tưởng niệm?
Những hòn đá này được dùng với mục đích biến chúng trở thành một “dấu hiệu” (‘ot’). Trong tiếng Do Thái, chữ ’ot thường được liên kết với từ “kỳ diệu” và được dùng để nói về những hành động kỳ diệu của Đức Chúa Trời (xem bài học ngày hôm qua), chẳng hạn như các tai họa giáng xuống Ai Cập (Xuất Ê-díp-tô Ký 7:3, Phục truyền 4:34). Nó cũng có thể là “biểu tượng” hoặc “dấu hiệu” cho một thực tế sâu sắc hoặc siêu việt hơn. Ví dụ, cầu vồng là “biểu tượng” của giao ước (Sáng thế Ký 9:12, 13); máu trên các cột cửa và rầm cửa nhà dân Y-sơ-ra-ên cũng được gọi là “dấu hiệu” (Xuất 12:13); và quan trọng nhất là Ngày Sa-bát là “dấu hiệu” của sự Sáng tạo và sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời (Xuất 31:13, 17; Ê-xê-chi-ên 20:12).
Trong bài học này, “dấu hiệu” có nhiệm vụ như một đài tưởng niệm, nhắc nhở mỗi thế hệ sau này về phép lạ băng qua sông. Trong Cựu Ước, việc dựng lên các bia đá tưởng niệm (Sáng thế Ký 28:18–22) và các nghi lễ (Xuất Ê-díptô Ký 12:26, 27; Phục truyền 6:20–25) là điều rất phổ thông. Thay vì lặp lại các phép lạ hết lần này đến lần khác, Đức Chúa Trời lập nên các đài tưởng niệm để gợi nhớ lại những hành động vĩ đại của Ngài và thúc đẩy những câu trả lời có ý nghĩa. Do đó, dấu hiệu phải hiện diện “mãi mãi”, ngụ ý sự cần thiết của việc lưu giữ mãi mãi phép lạ này của Chúa trong ký ức chung của dân Ngài.
Câu hỏi mà thế hệ tương lai có thể đặt ra là rất quan trọng, vì nó được thể hiện một cách cá nhân hơn: “Những hòn đá này có ý nghĩa gì với tôi?” Mỗi thế hệ phải cần suy gẫm ý nghĩa của những hòn đá cho chính họ. Niềm tin vào một Chúa làm phép lạ chỉ có thể tồn tại và sống động nếu mỗi thế hệ tự tái khám phá ra ý nghĩa của những hành động vĩ đại của Đức Giê-hô-va cho chính họ. Một đức tin như vậy sẽ tạo ra sự khác biệt quan trọng giữa việc sống trung thành với các truyền thống dựa trên Kinh Thánh, và chủ nghĩa truyền thống, một tôn giáo chết của thế hệ đang sống nhưng đã bị tước đi giá trị và lòng nhiệt thành ban đầu của nó. Cuối cùng, chúng ta cần biến đức tin dựa trên Kinh Thánh thành của riêng mình. Không ai, đặc biệt là tổ tiên của chúng ta, có thể tin thay cho chúng ta.
Bạn có những đài tưởng niệm cá nhân nào trong hành trình của bạn với Chúa, giúp bạn nhớ lại những gì Ngài đã làm cho bạn?
Đọc Giô-suê 4:20–24 dưới ánh sáng của những câu Kinh Thánh sau: Các Quan Xét 3:7; Các Quan Xét 8:34; Thi thiên 78:11; Phục truyền Luật lệ Ký 8:2, 18; Thi thiên 45:17. Tại sao việc ghi nhớ những kỳ công vĩ đại của Đức Chúa Trời lại là quan trọng?
Lưu ý sự thay đổi về ngôi xưng trong Giô-suê 4:23. Nước sông Giô-đanh được nhắc đến đã cạn khô trước “các ngươi,” tức là trước tất cả những người Y-sơ-ra-ên vừa băng qua sông Giô-đanh. Ngược lại, Biển Đỏ được cho là đã cạn khô trước “chúng ta,” những người từ thế hệ đầu tiên đã trải qua cuộc Xuất hành và vẫn còn sống sót. Hai hiện tượng quan trọng như nhau được hai thế hệ khác nhau trải nghiệm. Điều này giúp thế hệ thứ hai, qua lời chứng của cha mẹ họ, khám phá lại cho chính mình ý nghĩa của cuộc băng qua sông Giô-đanh.
Nói chung, chúng ta xem sự hay quên là một tính chất bình thường của tất cả con người. Tuy nhiên, sự hay quên theo nghĩa thuộc linh có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Ngay trong hiện tại, nếu chúng ta muốn duy trì danh tính của mình như một dân tộc được gọi với sứ mệnh đặc biệt, chúng ta phải tạo ra những dịp khơi lại ký ức thuộc linh của cá nhân và tập thể để có thể tập trung vào câu hỏi chúng ta đến từ đâu, chúng ta là ai và chúng ta ở đây để làm gì.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 11:24, 25 và Giăng 14:26. Tại sao chúng ta phải luôn ghi nhớ những gì Đấng Christ đã làm cho chúng ta? Nếu không có sự kiện ấy thì còn điều gì thực sự quan trọng nữa?
Ellen G. White hiểu rõ rằng nếu chúng ta không liên tục hướng dẫn chính mình trong ánh sáng của những hành động và sự khải thị trong quá khứ của Đức Chúa Trời, chắc chắn chúng ta sẽ mất đi động lực để thi hành sứ mạng của mình trong tương lai: “Chúng ta không có gì phải sợ cho tương lai, ngoại trừ việc chúng ta quên lãng đường lối Chúa đã dẫn dắt chúng ta, và sự dạy dỗ của Ngài trong lịch sử quá khứ của chúng ta.”—Ellen G. White, Life Sketches, tr. 196.
Mặc dù việc nhớ đến lúc xưa và những gì Đức Chúa Trời đã thực hiện trong cuộc đời chúng ta là điều quan trọng, nhưng tại sao chúng ta phải có sự trải nghiệm mỗi ngày với Ngài, với tình yêu và sự hiện diện của Ngài trong hiện tại?
“Ngài đổi biển ra đất khô;
Người ta đi bộ ngang qua sông:
Tại nơi ấy chúng tôi vui mừng trong Ngài” (Thi thiên 66:6).
Cả hai lần vượt qua Biển Đỏ và sông Giô-đanh đều là dấu hiệu của một kỷ nguyên mới trong lịch sử Kinh Thánh và cả hai đều mang ý nghĩa quan trọng (xem Thi thiên 66:6; Thi thiên 114:1–7 và 2 Các Vua 2:6–15). Trong Cựu Ước đã có những đoạn Kinh Thánh liên kết sự kiện hai lần vượt qua biển và công nhận ý nghĩa của chúng vượt xa bối cảnh ban đầu. Trong Thi thiên 66:6, tác giả đã ca ngợi hành động cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong cuộc đời ông (Thi thiên 66:16–19) bằng cách nhắc đến những ví dụ lịch sử về việc vượt Biển Đỏ và sông Giô-đanh.
Thi thiên 114 cũng liên kết hai sự kiện lại với nhau, không phải vì tác giả không thấy sự khác biệt về thứ tự thời gian của chúng, mà là vì ý nghĩa thần học cả hai lần vượt biển/sông này chia sẻ. Cả hai sự kiện đều được coi là đã đóng góp vào sự thay đổi địa vị của Y-sơ-ra-ên, từ nô lệ sang tự do, rồi từ tình trạng du mục vô lãnh thổ sang quốc gia. Trong những Thi thiên này, ví dụ về hai lần vượt biển/sông minh họa sự thay đổi hoàn cảnh của tác giả từ áp bức, nghèo đói, bất lực và nhục nhã sang an toàn, hạnh phúc, cứu rỗi và phẩm giá.
Cũng tại sông Giô-đanh, sự thay đổi của tiên tri Ê-li diễn ra trong bối cảnh của một phép lạ tương tự như phép lạ trong sách Giô-suê. Việc vượt sông đã mang lại sự thay đổi hoàn cảnh quan trọng nhất trong đời Ê-li: ông được đưa lên thiên đàng. Về phần Ê-li-sê, sự thay đổi này cũng quan trọng: từ phụ tá cho tiên tri Ê-li (1 Các Vua 19:21) trở thành nhà tiên tri của dân tộc (2 Các Vua 2:22).
Đọc Ma-thi-ơ 3:16, 17 và Mác 1:9. Các tác giả Tân Ước ngụ ý thế nào về ý nghĩa tượng trưng thuộc linh của Sông Giô-đanh?
Chức vụ trên trần thế của Đức Chúa Giê-su, với tư cách là Đại diện của Y-sơ-ra-ên, đi theo mô hình lịch sử của Y-sơ-ra-ên thuở xưa. Chúa Giê-su cũng trải qua những trải nghiệm “Biển Đỏ” và “Giô-đanh.” Ngài được gọi ra khỏi Ai Cập sau một sắc lệnh tử hình (Ma-thi-ơ 2:14–16), dành 40 ngày trong đồng vắng (Ma-thi-ơ 4:2) tương tự như 40 năm của Y-sơ-ra-ên cổ xưa, và, như một sự chuyển đổi từ đời sống riêng tư sang chức vụ công cộng, Ngài được làm phép báp têm tại sông Giô-đanh (Ma-thi-ơ 3:16, 17; Mác 1:9).
Sau đó, Hê-bơ-rơ 3–4 công nhận ý nghĩa tượng trưng của việc vượt qua sông Giô-đanh và trình bày việc vào xứ Ca-na-an như hình bóng của “sự yên nghỉ trong ân điển” mà các Cơ Đốc nhân bước vào qua đức tin.
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Vượt sông Giô-đanh,” tr. 483, 484, trong Patriarchs and Prophets.
“Hãy nghiên cứu kỹ lưỡng những trải nghiệm của Y-sơ-ra-ên trong hành trình đến Ca-na-an. Nghiên cứu chương 3 và 4 của sách Giô-suê nơi ghi lại quá trình chuẩn bị và vượt sông Giô-đanh vào vùng đất hứa. Chúng ta cần giữ cho tấm lòng và tâm trí được rèn luyện, bằng cách gợi nhớ lại với những bài học mà Đức Chúa Trời đã dạy cho dân tộc thuở xưa của Ngài. Cũng vậy đối với chúng ta, sự dạy dỗ của Ngài bao giờ cũng thú vị và đáng ghi khắc.”— Ellen G. White Comments, The SDA Bible Commentary, tập 2, tr. 994.
“Y-sơ-ra-ên hiện đại có nguy cơ quên Đức Chúa Trời và bị dẫn vào sự thờ hình tượng lớn hơn so với dân tộc cổ xưa của Ngài. Nhiều thần tượng được tôn thờ, ngay cả bởi những người tự nhận là giữ ngày Sa-bát. Đức Chúa Trời đặc biệt truyền lệnh cho dân sự thời xưa của Ngài phải đề phòng sự thờ thần tượng, vì nếu họ bị dẫn đi khỏi việc phục sự Đức Chúa Trời hằng sống, lời nguyền rủa của Ngài sẽ giáng xuống họ, trong khi nếu họ yêu Ngài hết lòng, hết linh hồn và hết sức, Ngài sẽ ban phước cho họ dồi dào trong giỏ và trong kho, và sẽ loại bỏ bệnh tật khỏi họ.”—Ellen G. White, Testimonies for the Church, tập 1, tr. 609.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 2, 4-10 Tháng 10
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Giô-suê 2:1–21, Dân số Ký 14:1–12, Hê-bơ- rơ 11:31, Xuất Ê-díp-tô Ký 12:13, Giô-suê 9, Nê-hê-mi 7:25.
CÂU GỐC: ‘”Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp không chết với kẻ chẳng tin; vì nàng đã lấy ý tốt tiếp rước các kẻ do thám”’ (Hê-bê-rơ 11:31).
Đọc Giô-suê 2:1, cùng với Dân số Ký 13:1, 2, 25–28, 33; và Dân số Ký 14:1–12. Tại sao Giô-suê bắt đầu nhiệm vụ chinh phục Đất Hứa bằng cách phái các thám tử đi?
Nơi mà hai thám tử được phái đi, Rừng Keo, cũng gọi là Si-tim trong văn bản tiếng Do Thái, và nó nhắc chúng ta nhớ đến hai chương không hay trong lịch sử Y-sơ-ra-ên.
Biến cố thứ nhất cũng là một chuyện gián điệp (xem Dân số Ký 13) với các yếu tố thiết yếu tương tự: các thám tử được bổ nhiệm; họ xâm nhập bí mật vào lãnh thổ của kẻ thù; các thám tử trở về; báo cáo về những gì họ khám phá; và hành động được quyết định dựa trên báo cáo.
Biến cố kia tại Si-tim đại diện cho một trong những vi phạm giao ước ngang bướng nhất và đầy sùng bái thần tượng nhất của người Y-sơ-ra-ên, khi theo sự xúi giục của Ba-la-am, họ đã phạm tội trụy lạc với những người phụ nữ Mô-áp và thờ các thần của họ (Dân số Ký 25:1–3; Dân số Ký 31:16). Trong bối cảnh này, chỉ cái tên Si-tim thôi cũng tạo ra sự căng thẳng tột bực. Liệu đây có phải là một thất bại khác trên biên giới Đất Hứa không? Hay nó sẽ dẫn đến sự ứng nghiệm của lời hứa cổ xưa mà họ hằng mong đợi?
Đọc Giăng 18:16–18, 25–27 và Giăng 21:15–19. Bạn khám phá ra điểm tương đồng nào giữa cơ hội thứ hai được ban cho Y-sơ-ra-ên như một quốc gia và Phi-e-rơ như một cá nhân?
Đức Chúa Trời là Chúa của những cơ hội thứ hai (và hơn thế nữa!). Kinh thánh gọi cơ hội thứ hai (và hơn thế nữa!) là “ân điển”. Ân điển hiểu đơn giản là, chúng ta nhận được những gì chúng ta không xứng đáng để nhận. Lời dạy của Kinh Thánh đầy dẫy khái niệm về ân điển (so sánh Rô-ma 5:2, Ê-phê-sô 2:8, Rô-ma 11:6). Chúa từ ái ban cho mọi người cơ hội bắt đầu lại (Tít 2:11–14). Chính Phi-e-rơ đã trải nghiệm ân điển này và thúc giục hội thánh tấn tới trong ân điển (2 Phi-e-rơ 3:18). Thật ra chúng ta nhận được quá nhiều, không phải chỉ một cơ hội thứ hai mà thôi. (Chúng ta sẽ ở đâu, nếu chúng ta không có cơ hội thứ hai?)
Hãy suy gẫm về kinh nghiệm của người Y-sơ-ra-ên, khi được trao cơ hội thứ hai để vào Ca-na-an, và về ân điển được ban cho Phi-e-rơ sau khi ông chối Chúa của mình. Những sự kiện này dạy chúng ta điều gì về cách chúng ta nên mở rộng ân điển cho những người cần nó?
Đọc Giô-suê 2:2–11, Hê-bơ-rơ 11:31 và Gia-cơ 2:25. Những câu Kinh Thánh này cho chúng ta biết gì về Ra-háp?
Trung tâm của câu chuyện Ra-háp là lời nói dối được dùng để bảo vệ những người do thám. Khi xem xét lời nói dối của cô ấy, chúng ta phải ý thức rằng nàng đã sống và quá hiểu xã hội cực kỳ tội lỗi đó, điều đã đưa đến quyết định tối hậu của Đức Chúa Trời là phán xét xã hội đó (Sáng thế Ký 15:16, Phục truyền 9:5, Lê-vi Ký 18:25–28). Mặc dù Tân Ước khen ngợi đức tin của Ra-háp, nhưng chúng ta thấy không có tài liệu nào chấp nhận tất cả mọi hành vi về nàng, cũng như phê chuẩn lời nói dối của nàng.
Hê-bơ-rơ 11:31 khẳng định đức tin của nàng khi chọn đứng cùng phe với những người do thám thay vì chọn bám vào một nền văn hóa đồi bại. Giacơ 2:25 khen ngợi lời nàng đề nghị cho hai thám tử Y-sơ-ra-ên trọ lại và chỉ cho họ một lối an toàn để trở về. Giữa một nền văn hóa suy đồi, thối nát và lối sống tội lỗi của chính Ra-háp, Đức Chúa Trời, trong ân điển của Ngài, đã nhìn thấy một tia đức tin mà qua đó Ngài có thể cứu nàng. Đức Chúa Trời đã xử dụng những gì tốt đẹp trong Ra-háp—sự bày tỏ đức tin trong Ngài và sự nàng lựa chọn để thuộc về dân Ngài—nhưng không bao giờ khen ngợi mọi điều nàng đã làm. Đức Chúa Trời đánh giá cao Ra-háp vì sự can đảm phi thường và đức tin mạnh mẽ của nàng, vì là tác nhân của sự cứu rỗi, và vì đã chọn Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Sau khi chứng kiến những gì đã xảy ra, nàng tuyên bố “vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ông là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia, và ở dưới đất thấp nầy” (Giô-suê 2:11). Được nghe một người đàn bà Ca-na-an công nhận rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời duy nhất, đặc biệt là lời ấy được tuyên bố trên một mái nhà, nơi mà nàng, theo ngoại giáo, dâng những lời cầu nguyện cho đủ các vị thần thánh họ tin trên trời, thì quả thật điều đó đầy ý nghĩa.
Lời tuyên bố của Ra-háp rằng chỉ có một Đức Chúa Trời đáng được thờ phượng, trước đó đã được thấy trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4, Phục truyền 4:39; Phục truyền 5:8. Lời nói của Ra-háp bày tỏ một sự lựa chọn có chủ đích, hết lòng, thừa nhận rằng Chúa của dân Y-sơ-ra-ên là vị thần chính thật duy nhất. Lời ấy chứng tỏ nàng hiểu được mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền tối cao của Đức Chúa Trời và sự phán xét mà Giê-ri-cô phải gánh chịu.
Sự lựa chọn đạo đức của Ra-háp công nhận rằng, dưới sự phán xét của Đức Giê-hô-va, chỉ có hai điều có thể xảy ra: tiếp tục nổi loạn chống lại Ngài và bị tiêu diệt, hoặc chọn đầu phục trong đức tin. Bằng cách chọn Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Ra-háp đã trở thành một tấm gương cho thấy vận mạng của tất cả cư dân Giê-ri-cô đáng lẽ được thay đổi, nếu họ đã trông cậy Chúa của Y-sơ-ra-ên để được thương xót.
Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về lòng trung thành tối thượng của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời?
Đọc Giô-suê 2:12–21 và Xuất Ê-díp-tô Ký 12:13, 22, 23. Các câu trong Xuất Ê-díp-tô Ký giúp bạn hiểu sự thỏa thuận giữa các thám tử và Ra-háp ra sao?
Thỏa thuận của Ra-háp rất rõ ràng: mạng đền mạng và sự nhân từ đền sự nhân từ. Chesed “Lòng nhân từ yêu thương” (Giô-suê 2:12), có ý nghĩa phong phú. Nó chủ yếu diễn tả sự trung tín theo giao ước, nhưng cũng mang ý niệm về sự thành tín, lòng thương xót, sự nhân từ.
Những lời của Ra-háp cũng gợi chúng ta nhớ đến Phục truyền 7:12, nơi chính Đức Giê-hô-va đã thề sẽ giữ chesed của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên. “Nếu ngươi nghe các luật lệ nầy, và gìn giữ làm theo, thì đối cùng ngươi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ giữ lời giao ước và sự thương xót [chesed] mà Ngài đã thề cùng tổ phụ ngươi” (Phục truyền 7:12).
Điều thú vị là cùng một chương đó (Phục truyền Luật lệ Ký 7) quy định việc tiêu diệt hoàn toàn (cherem) dân Ca-na-an. Thế nhưng, ở đây lại có Raháp—một người Ca-na-an thuộc đối tượng bị tiêu diệt — nhưng qua đức tin mới hình thành của mình, bà đã nắm lấy những lời hứa được ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Kết quả là bà được cứu.
Qua cuộc đàm thoại giữa các thám tử với Ra-háp, chúng ta liên tưởng đến chuyện Vượt Qua khi dân Y-sơ-ra-ên Xuất hành khỏi Ê-díp-tô. Vào thời điểm đó, để được bảo vệ, dân sự phải ở trong nhà và đánh dấu các cột cửa và ngạch cửa nhà mình bằng máu của con chiên hiến tế.
“Huyết bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ dùng làm dấu hiệu; khi ta hành hại xứ Ê-díp-tô, thấy huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có tai nạn huỷ diệt các ngươi”
(Xuất Ê-díp-tô Ký 12:13; cũng xem Xuất Ê-díp-tô Ký 12:22, 23).
“Dân sự phải chứng minh đức tin của mình bằng sự vâng phục. Vì vậy, tất cả những ai hy vọng được cứu bởi công đức của huyết Đấng Christ nên ý thức rằng, chính họ cũng có phần nào đó trong việc bảo đảm sự cứu rỗi của mình. Trong khi chỉ có Đấng Christ mới có thể chuộc chúng ta khỏi hình phạt của sự vi phạm, chúng ta phải từ bỏ tội lỗi để tìm đến sự vâng lời. Con người được cứu bởi đức tin, không phải bởi việc làm; tuy nhiên đức tin của họ phải được thể hiện qua việc làm của mình.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 279.
Trong trường hợp đó, huyết là dấu hiệu đã cứu họ khỏi bị Chúa huỷ diệt. Cũng như Đức Chúa Trời đã cứu mạng dân Y-sơ-ra-ên trong tai họa cuối cùng ở Ai Cập, người Y-sơ-ra-ên cũng phải cứu Ra-háp và gia đình nàng khi sự hủy diệt xảy ra trên Giê-ri-cô.
Chúng ta có thể tìm thấy sứ điệp phúc âm hùng hồn nào qua hai câu chuyện này? Và có thể rút ra bài học phúc âm nào từ chúng?
Đọc Giô-suê 9:1–20. Câu chuyện về Ra-háp và câu chuyện về người Gaba-ôn giống và khác nhau ra sao? Tại sao những điều đó lại có ý nghĩa?
Chương sách bắt đầu với chi tiết rằng năm vị vua người Ca-na-an cai trị trên những thành nhỏ đã quyết định lập một liên minh chống lại người Y-sơ-ra-ên. Ngược lại, cư dân tại Ga-ba-ôn thì quyết định lập giao ước với Y-sơ-ra-ên.
Để lừa người Y-sơ-ra-ên lập giao ước với họ, người Ga-ba-ôn dùng mưu giả bộ làm những sứ giả từ một quốc gia xa lạ. Theo Phục truyền 20:10–18, Đức Chúa Trời đã phân biệt rất rõ ràng giữa dân Ca-na-an và những người sống bên ngoài Đất Hứa.
Từ được dịch là “mưu kế ” hoặc “xảo quyệt” có thể được dùng với ý nghĩa tích cực, biểu thị sự thận trọng và khôn ngoan (Châm ngôn 1:4; Châm ngôn 8:5, 12), hoặc tiêu cực, ám chỉ ý định phạm tội (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:14, 1 Sa-mu-ên 23:22, Thi thiên 83:3). Trong trường hợp của dân Ga-ba-ôn, đằng sau hành động bất chánh của họ là ý định tự bảo vệ mình hơn là huỷ hoại.
Lời phát biểu của dân Ga-ba-ôn rất tương tự như lời của Ra-háp. Cả hai đều thừa nhận quyền năng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và cả hai đều thừa nhận rằng thành công của Y-sơ-ra-ên không chỉ đơn thuần là chiến công của con người. Trái với những người Ca-na-an khác, họ không nổi loạn chống lại kế hoạch của Đức Giê-hô-va ban đất cho dân Y-sơ-ra-ên, và họ thừa nhận rằng chính Chúa đang đuổi những dân tộc này ra khỏi ngay trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. Tin tức về sự giải cứu khỏi Ai Cập và chiến thắng trước Si-hôn và Óc, thúc đẩy cả Ra-háp và người Ga-bê-ôn tìm kiếm một liên minh với dân Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, thay vì hoàn toàn thừa nhận việc họ sẵn lòng đầu phục Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, như Ra-háp đã làm, người Ga-ba-ôn lại dùng đến một mưu kế dối trá.
Luật Môi-se có những điều khoản dạy về sự tham khảo ý muốn Đức Chúa Trời trong những trường hợp như thế này (Dân số Ký 27:16–21). Giô- suê đáng lẽ phải cầu hỏi ý muốn của Đức Chúa Trời và tránh được sự lừa dối của người Ga-ba-ôn.
Nhiệm vụ cơ bản của một nhà lãnh đạo thần quyền, và của bất kỳ nhà lãnh đạo Cơ đốc nào, là tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời (1 Sử ký 28:9; 2 Sử ký 15:2; 2 Sử ký 18:4; 2 Sử ký 20:4). Bởi bỏ qua điều này, người Y-sơ-ra-ên bị buộc hoặc phải vi phạm các điều kiện cơ bản trong việc chinh phục vùng đất, hoặc phá vỡ lời thề họ đã nhân danh Chúa mà tuyên thệ, cả hai đều có tính ràng buộc như nhau.
Bạn có thường thấy mình bị dằn vặt giữa hai giá trị Kinh Thánh dường như mâu thuẫn nhau?
Đọc Giô-suê 9:21–27. Giải pháp của Giô-suê đã kết hợp công lý với ân điển như thế nào?
Ngay cả khi dân Y-sơ-ra-ên muốn tấn công người Ga-ba-ôn, họ cũng không được phép làm vậy vì mắc lời thề do những trưởng lão hội chúng đã tuyên thệ. Các quan trưởng Y-sơ-ra-ên đã hành động theo nguyên tắc rằng, lời thề, miễn là nó không dính dấp đến hành vi sai quấy hoặc ý định phạm tội (Các Quan Xét 11:29–40), thì nó là ràng buộc, dẫu đưa đến tổn thương cá nhân.
Trong Cựu Ước, việc thận trọng trước khi thề nguyện và việc giữ lời thề được coi là đức tính của người ngoan đạo (Thi thiên 15:4; Thi thiên 24:4; Truyền đạo 5:2, 6). Vì lời thề được cam kết nhân danh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, nên các nhà lãnh đạo không thể thay đổi nó.
Với lời thề trang trọng do các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên cam kết, vận mệnh của Y-sơ-ra-ên gắn liền chặt chẽ với vận mệnh của người Ga-ba-ôn. Thật vậy, bởi được chỉ định làm thợ đốn củi và người gánh nước cho nhà Chúa (Giô-suê 9:23), người Ga-ba-ôn đã trở thành một phần không thể thiếu trong cộng đồng thờ phượng của Y-sơ-ra-ên. Câu trả lời của Giô-suê, trái ngược với phán quyết của các quan trưởng rằng dân Ga-ba-ôn phải đốn củi xách nước “cho cả hội chúng” (Giô-suê 9:21), đã biến lời nguyền rủa thành một phước lành tiềm tàng cho người Ga-ba-ôn (so sánh với 2 Sa-mu-ên 6:11).
Lịch sử tiếp theo của Ga-ba-ôn làm chứng cho những đặc quyền tôn giáo cao cả mà thành phố này được hưởng, cũng như lòng trung thành của họ đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Lời thề của Y-sơ-ra-ên vẫn được nguyên vẹn qua nhiều thế hệ, vì vậy khi người Y-sơ-ra-ên hồi hương sau cuộc lưu đày ở Ba-by-lôn, người Ga-ba-ôn nằm trong số những người giúp xây dựng lại Giê-ru-sa-lem (Nê-hê-mi 7:25). Hành động của họ sẽ có những hậu quả tích cực vĩnh cửu, nhưng chỉ là nhờ ân điển của Đức Chúa Trời.
Điều gì có thể xảy ra nếu người Ga-ba-ôn tiết lộ danh tính của họ và cầu xin lòng thương xót như Ra-háp đã làm? Chúng ta không biết, nhưng có thể lắm nếu các quan trưởng họ tham vấn ý muốn của Chúa, biết đâu nó có thể đưa đến việc người Ga-ba-ôn được miễn khỏi sự hủy diệt. Mục đích tối thượng của Đức Chúa Trời không phải là trừng phạt tội nhân, mà muốn thấy họ ăn năn và ban cho họ lòng thương xót của Ngài (so sánh với Ê-xê- chi-ên 18:23 và 33:11). Mưu mẹo của người Ga-ba-ôn phải được xem như là lời kêu cầu đến lòng thương xót của Đức Chúa Trời, đến bản chất nhân từ và công bằng của Ngài. Chính sự từ chối ăn năn và sự thách thức của người Ca-na-an đối với mục đích của Chúa, đã đưa đến quyết định hủy diệt họ (Sáng thế Ký 15:16). Đức Chúa Trời tôn trọng sự công nhận quyền tối cao của Ngài nơi người Ga-ba-ôn, cũng như việc họ mong muốn hòa bình thay vì nổi loạn, và sự họ sẵn lòng từ bỏ việc thờ thần tượng và chỉ thờ phượng một Đức Chúa Trời duy nhất.
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Crossing the Jordan,” tr. 482, 483, trong Patriarchs and Prophets.
Sau câu chuyện về Ra-háp và các thám tử, phần còn lại của Cựu Ước không nói gì về nàng cho đến khi nàng xuất hiện trở lại trong gia phả của Đức Chúa Giê-su. Gia phả ghi rằng nàng đã trở thành vợ của Sanh-môn, thuộc chi phái Giu-đa, tổ tiên của Bô-ô, và là mẹ chồng của một người đàn bà đáng chú ý khác được đề cập trong cùng gia phả, Ru-tơ (Ma-thi-ơ 1:5; so sánh với Ru-tơ 4:13, 21). Nhờ đức tin của mình trong Đức Chúa Trời, nàng kỵ nữ thành Giê-ri-cô, một đời bị kết án hủy diệt hoàn toàn, đã trở thành một móc nối quan trọng trong dòng dõi hoàng gia của Đa-vít và là tổ mẫu của Đấng Mê-si. Đây là điều Chúa có thể hoàn thành qua đức tin, ngay cả khi đức tin đó chỉ nhỏ bằng một hạt cải (Ma-thi-ơ 17:20, Lu-ca 17:6).
“Và sự cải đạo của nàng [Ra-háp] không phải là trường hợp riêng rẻ về lòng thương xót của Chúa đối với những người thờ thần tượng nay công nhận thẩm quyền thiêng liêng của Ngài. Giữa vùng đất Ca-na-an có một nhóm người—người Ga-ba-ôn—đã từ bỏ chủ nghĩa ngoại giáo của họ và kết hiệp với Y-sơ-ra-ên, cùng chia sẻ những phước lành của giao ước.
“Không có sự phân biệt nào về quốc tịch, chủng tộc hay đẳng cấp được Đức Chúa Trời công nhận. Ngài là Đấng Tạo Hóa của toàn thể nhân loại. Tất cả mọi người đều cùng thuộc một gia đình khi được tạo dựng, và tất cả là một qua sự cứu chuộc. Đấng Christ đã đến để phá hủy mọi bức tường ngăn cách, để mở toang mọi khu vực của khuôn viên đền thờ, để mọi linh hồn có thể tự do đến với Chúa. Tình yêu của Ngài rộng lớn, sâu xa, đầy ắp đến nỗi thấu suốt mọi nơi. Tình yêu ấy kéo những người đã bị Sa-tan lừa dối ra khỏi ảnh hưởng của hắn, và đặt họ vào tầm với đến ngai của Chúa, ngai được bao quanh bởi cầu vồng của lời hứa. Trong Đấng Christ không có người Do Thái hay người Hy Lạp, nô lệ hay tự do.”—Ellen G. White, Prophets and Kings, tr. 369, 370.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
Bài Học 1, 27 Tháng 9 – 3 Tháng 10
KINH THÁNH NGHIÊN CỨU: Phục truyền Luật lệ Ký 18:15–22; Giô-suê 1; Hê-bơ-rơ 6:17, 18; Ê-phê-sô 6:10–18; Thi thiên 1:1–3; Rô-ma 3:31.
CÂU GỐC: ‘“Chỉ hãy vững lòng bền chí, và cẩn thận làm theo hết thảy luật pháp mà Môi-se, tôi tớ ta, đã truyền cho ngươi; chớ xây qua bên hữu hoặc bên tả, để hễ ngươi đi đâu cũng đều được thịnh vượng”’ (Giô-suê 1:7).
Đọc Phục truyền Luật lệ Ký 18:15–22 và Giô-suê 1:1–9. Sách Giô-suê bắt đầu bởi sự nhắc lại lời hứa liên quan đến những gì sẽ xảy ra sau khi Môi-se qua đời. Tại sao đó là điều quan trọng?
Tuy Môi-se đã qua đời và Đức Chúa Trời bổ nhiệm một nhà lãnh đạo mới, Giô-suê, nhưng cả hai vẫn có những điểm tương đồng. Cả hai đều được Chúa bảo rằng họ sẽ dẫn dắt dân tộc mình vào vùng đất đã hứa với tổ phụ họ. Như Chúa đã phán với Giô-suê: “Phàm nơi nào bàn chân các ngươi đạp đến, thì ta ban cho các ngươi, y như ta đã phán cùng Môi-se” (Giô-suê 1:3). Giô-suê sẽ hoàn tất công việc được giao cho Môi-se lúc ban đầu. Ông thực sự là một Môi-se mới.
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 33:11; Dân số Ký 14:6, 30, 38; Dân số Ký 27:18; Dân số Ký 32:12; Phục truyền Luật lệ Ký 1:38; Phục truyền Luật lệ Ký 31:23; và Phục truyền Luật lệ Ký 34:9. Những câu Kinh Thánh này cho chúng ta biết gì về Giô-suê?
Ở thời điểm này, lời hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ “lập lên” một tiên tri giống như Môi-se (Phục truyền 18:15) chỉ là một điều khả dĩ chứ không phải là một thực tế đã hoàn tất. Những lời mở đầu của sách Giô-suê nhắc nhở người đọc về lời hứa này, và đồng thời tạo ra một kỳ vọng muốn thấy lời hứa đó được ứng nghiệm.
Mặc dù đã chết, Môi-se vẫn chiếm vị trí nổi bật trong chương đầu tiên. Tên của ông được nhắc đến mười lần, còn Giô-suê chỉ có bốn lần. Môi-se được gọi là “tôi tớ của Đức Giê-hô-va” trong khi Giô-suê được gọi là “tôi tớ của Môi-se” (Giô-suê 1:1). Phải mất cả một đời trung thành phục vụ và vâng lời, Giô-suê mới nhận được danh hiệu “tôi tớ của Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 24:29).
Tuy chương đầu của sách Giô-suê ghi lại sự chuyển đổi giữa hai nhà lãnh đạo vĩ đại của Y-sơ-ra-ên, nhân vật quan trọng nhất vẫn chính là Đức Giê- hô-va, Đấng mở đầu quyển sách và sự dẫn dắt của Ngài xuyên suốt toàn sách. Không thể nào có nghi vấn về việc ai là nhà lãnh đạo thực sự của Y-sơ- ra-ên.
Qua mọi thời đại, Đức Chúa Trời đã kêu gọi cả nam lẫn nữ, làm người lãnh đạo dân Ngài. Tại sao việc ghi nhớ ai là nhà lãnh đạo thực sự, vô hình của hội thánh là điều thiết yếu?
Đọc Giô-suê 1. Chúng ta có thể học được gì về cấu trúc của sách với chương mở đầu này?
Chương đầu của Giô-suê là phần giới thiệu cho toàn bộ sách. Chương này bao gồm bốn bài phát ngôn tương ứng với bốn phần chính của sách: vượt qua sông (Giô-suê 1:2–9); chinh phục (Giô-suê 1:10, 11); phân chia (Giô-suê 1:12–15); và phục sự bằng cách vâng theo luật pháp (Giô-suê 1:16–18).
Sách Giô-suê ghi lại các chủ động đến từ Đức Chúa Trời. Trong mỗi chủ động, Chúa giao cho Giô-suê một nhiệm vụ cụ thể liên quan đến việc chinh phục Ca-na-an, và mỗi chủ động đều được ghi nhận trong sách sau khi nhiệm vụ được hoàn tất mỹ mãn.
Những lời hứa của Đức Chúa Trời liên quan đến việc chiếm đóng vùng đất này cuối cùng đã được ứng nghiệm. Từ đó trở đi, trách nhiệm giữ đất nằm trong tay người Y-sơ-ra-ên và điều đó chỉ có thể hoàn tất bởi đức tin chân thật và sự vâng phục đến từ đức tin đó.
Các chủ động đến từ Đức Chúa Trời, được diễn tả bằng ba động từ— “vượt qua”, “chinh phục” và “phân chia”—nhận được câu trả lời thích hợp qua sự vâng phục của dân sự, bắt nguồn từ chủ động cuối cùng: phục sự.
Một lần nữa, sách Giô-suê có bốn phần chính, mỗi phần có đặc tính cụ thể diễn tả sự:
(1) Vượt qua (Giô-suê 1:1–5:12)
(2) Chinh phục (Giô-suê 5:13–12:24)
(3) Phân chia (Giô-suê 13:1–21:45)
(4) Phục sự (Giô-suê 22:1–24:33)
Do đó, cấu trúc của sách nói lên thông điệp chính: Các chủ động của Đức Chúa Trời được hoàn tất không phải cách tự động. Thay vào đó, chúng đòi hỏi sự đáp ứng trung thành của dân sự Ngài. Nghĩa là, với tất cả những gì Chúa đã làm cho chúng ta—kể cả những gì chúng ta không thể tự làm— chúng ta được kêu gọi hãy làm những gì chúng ta có thể làm cho chính mình: có nghĩa là chúng ta phải vâng theo những gì Chúa ra lệnh chúng ta làm. Điều ấy đã luôn như vậy trong suốt lịch sử thiêng liêng và cho đến ngày nay. Ví dụ, sự miêu tả dân sự Đức Chúa Trời vào thời kỳ cuối cùng trong Khải huyền 14:12 truyền đạt cùng một ý tưởng: niềm tin vào những gì Chúa đã làm cho chúng ta sẽ dẫn đến sự vâng lời.
Hãy nghĩ về một số lời hứa của Chúa quý giá nhất đối với bạn. Chúng đòi hỏi bạn phải đáp lại ra sao để chúng trở thành hiện thực?
Trong Giô-suê 1:2, 3, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng Ngài sẽ ban đất cho họ. Mặt khác, Ngài phán rằng Ngài đã ban rồi. Điều đó có nghĩa gì?
Đất là món quà từ Đức Giê-hô-va, Đấng sở hữu thực sự. Trong Giô-suê 1:2, 3, động từ “ban cho” được dùng qua hai dạng, phản ảnh hai khía cạnh quan trọng của việc thừa hưởng đất đai. Dạng đầu tiên thể hiện phương sách ban cho đất đai. Chỉ có vùng đất bên kia sông Giô-đanh là nơi Y-sơ-ra-ên chiếm đóng. Hầu hết Đất Hứa vẫn chưa được chiếm.
Trong Giô-suê 1:3, động từ “ban cho” được dùng ở thì hoàn thành, tạo ấn tượng rằng đất đai đã được ban cho họ. Khi Đức Chúa Trời là chủ từ của những hành động như vậy, dạng này được gọi là “lời tiên tri hoàn thành,” có nghĩa là những gì Ngài hứa trong Lời của Ngài là một sự thật chắc chắn có thể tin cậy như một thực tế hiện tại.
Các đại danh từ trong câu 3, “của các ngươi” và “các ngươi,” là số nhiều, vì vậy lời hứa không chỉ được ban cho Giô-suê, mà còn cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. Việc nhắc đến lời hứa ban cho Môi-se truyền đạt sự liên tục của sứ mạng Đức Chúa Trời.
Ngoài ra, từ kol, “tất cả,” “mọi,” được lặp lại nhiều lần trong chương đầu tiên. Sự hiện diện xuyên suốt của từ này thể hiện tính toàn bộ và trọn vẹn, điều cốt yếu để đạt được mục tiêu đặt ra trước Giô-suê. Phải có sự liên kết hoàn hảo giữa Đức Chúa Trời, Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên để đảm bảo thành công trong cuộc chinh phục Đất Hứa sắp tới.
Đọc Giô-suê 1:4–6 và Hê-bơ-rơ 6:17, 18. Vào thời điểm đó, Đất Hứa chỉ là một lời hứa. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời gọi đó là một cơ nghiệp. Trở thành người thừa kế những lời hứa của Đức Chúa Trời có nghĩa là gì?
Không có gì huyền bí về những lời hứa của Đức Chúa Trời. Tự chúng không có quyền năng để đảm bảo sự ứng nghiệm. Sự đảm bảo rằng chúng sẽ thật sự xảy ra nằm ở sự hiện diện của Đức Chúa Trời, Đấng phán rằng: “Ta sẽ ở cùng ngươi”. Thật vậy, sự hiện diện của Chúa là yếu tố thiết yếu cho sự tồn tại của Y-sơ-ra-ên. Nếu không có sự hiện diện của Ngài, họ sẽ chỉ là một trong nhiều quốc gia, không có sự kêu gọi, không danh tính, không có sứ mệnh đặc biệt nào (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:12–16). Sự hiện diện của Đức Giê- hô-va là tất cả những gì Giô-suê cần để thành công.
Chẳng có gì thay đổi trong hiện tại, đó là lý do tại sao chúng ta có lời hứa của Đức Chúa Giê-su trong Ma-thi-ơ 28:20.
Đọc Giô-suê 1:7–9. Tại sao Đức Chúa Trời cần nhấn mạnh hai lần với Giô-suê rằng ông phải mạnh mẽ và can đảm?
Nhiệm vụ giao phó cho Giô-suê xem ra có nhiều thử thách nặng nề. Các bức tường của các thành phố Ca-na-an rất kiên cố, khó có thể bị tấn công, và dân cư của vùng đất này được huấn luyện để chiến đấu. Ngược lại, dân Y-sơ-ra-ên, những người du mục đơn giản, không có ngay cả những cỗ máy chiến tranh thô thiển nhất để tấn công các bức tường kiên cố. Lịch sử cho chúng ta biết rằng ngay cả Ai Cập, siêu cường quốc thời bấy giờ, cũng không thể xâm nhập được Ca-na-an.
Tuy nhiên, lời kêu gọi phải mạnh mẽ và can đảm ở đây, không chỉ liên quan đến tinh thần chiến đấu hay chiến lược. Can đảm và sức mạnh là điều cần thiết để trung tín với Torah (5 sách đầu tiên của Môi-se) và các đòi hỏi cụ thể của nó, những điều định nghĩa giao ước của Y-sơ-ra-ên với Đức Giê- hô-va.
Đọc Ê-phê-sô 6:10–18. Mặc dù ngày nay chúng ta không bắt buộc phải tham chiến quân sự, nhưng chúng ta có thể áp dụng những lời khích lệ mà Giô-suê nhận được cho cuộc đấu tranh thuộc linh hằng ngày của chúng ta như thế nào?
Ngày nay, để hoàn thành sứ mệnh mà Đấng Christ giao phó, các Cơ Đốc nhân cũng phải đối mặt với những thách thức tương tự như Giô-suê; nghĩa là họ phải chiến đấu chống lại xu hướng tội lỗi của chính mình, chống lại các chủ quyền, thế lực, kẻ thống trị bóng tối của thời đại này, và chống lại các đạo quân gian ác. Giống như Giô-suê, họ cũng có lời hứa bảo đảm về sự hiện diện của Đấng Christ: “Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20). Như sự hiện diện hỗ trợ của Đức Chúa Trời đã đủ để xua tan nỗi sợ hãi của Giô-suê thuở xưa, thì điều ấy cũng đủ để xua tan những nghi ngờ và lo lắng của chúng ta ngày nay.
Chúng ta có một thách thức đó là, phải biết Đức Chúa Trời rõ ràng đủ để tin cậy vào Ngài, và những lời hứa của Ngài dành cho chúng ta. Và đó là lý do tại sao, hơn bất cứ điều gì khác, chúng ta cần mối quan hệ cá nhân với Ngài.
Câu hỏi quan trọng cho chúng ta hôm nay không khác gì câu hỏi mà Giô-suê phải đối mặt. Làm sao chúng ta có thể trung thành với những gì Lời Chúa phán dạy ngay cả khi điều đó không được ưa chuộng hoặc bất tiện để thi hành?
Đọc Giô-suê 1:7–9 cùng với Sáng thế Ký 24:40, Ê-sai 53:10 và Thi thiên 1:1–3. Dựa trên những câu Kinh Thánh này, thịnh vượng và thành công có nghĩa là gì?
Từ tsalakh trong tiếng Do-thái, “thịnh vượng” (Giô-suê 1:8. Bảng dịch 2011), ám chỉ sự hoàn tất cách mãn nguyện những gì đã được dự tính, hay một hoàn cảnh thuận lợi.
Từ sakal, “khôn ngoan” (Giô-suê 1:8), có thể được dịch là “thịnh vượng” hoặc “thành công.” Nhưng nó cũng có thể có nghĩa là “cẩn thận,” hoặc “hành động khôn ngoan.” Điều này thường xuất hiện trong sách Gióp, Châm ngôn và Thi thiên, trong đó khái niệm thành công gắn chặt với hành động khôn ngoan bằng cách kính sợ Đức Chúa Trời và vâng theo Lời Ngài.
Theo hiểu biết này, thành công không nhất thiết được định nghĩa như sự giàu sang về vật chất, mặc dù không loại trừ điều đó. Thành công phải được xem như một trạng thái hòa hợp với những giá trị và nguyên tắc thuộc linh—những gì làm nền tảng cho thế giới mà Đức Chúa Trời đã tạo ra và được bày tỏ trong luật pháp của Ngài.
Thật vậy, sự tin cậy vào lời hứa của Chúa, đặc biệt là lời hứa về sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin; và sự vâng giữ luật pháp của Ngài, là không đối lập với nhau. Chúng đại diện cho hai mặt của cùng một đồng tiền.
Đọc Rô-ma 3:31. Câu này nói gì về mối quan hệ giữa luật pháp và đức tin?
Tách đức tin nơi sự cứu chuộc và sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su thay cho chúng ta ra khỏi sự vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, là sự phân tách sai lầm và nguy hiểm. Luật pháp và ân điển luôn đi đôi với nhau. Chỉ có sự hiểu biết hời hợt về vai trò của luật pháp mới có thể dẫn đến việc coi “luật pháp” và “ân điển” là hai điều đối lập.
Những người viết Cựu Ước rất coi trọng luật pháp và xem đó là nguồn vui thích (Thi thiên 1:2; Thi thiên 119:70, 77, 174). Khi được xem xét và xử dụng đúng đắn, luật pháp sẽ dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về tội lỗi của chính mình (Rô-ma 7:7) và sự cần thiết của sự công bình nơi Đấng Christ (Ga-la-ti 3:24).
Dầu chúng ta nhờ ân điển của Đức Chúa Trời luôn cố gắng tuân theo luật pháp Ngài, nhưng kinh nghiệm riêng của mỗi người đã bày tỏ nhu cầu chúng ta cần đến sự công bình che chở của Đấng Christ như thế nào?
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Đọc Ellen G. White, “Vượt sông Giô-đanh,” tr. 481, 482, trong Patriarchs and Prophets; “Vào Đất Hứa,” tr. 175, trong The Story of Redemption.
“Trong những lời hứa và lời cảnh báo của Ngài, Đức Chúa Giê-su muốn nói đến tôi. Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, để tôi tin Con ấy, không bị hư mất, nhưng được sự sống đời đời. Những kinh nghiệm được kể lại trong lời của Đức Chúa Trời sẽ là những kinh nghiệm của tôi. Lời cầu nguyện và lời hứa, lời răn và lời cảnh báo, là của tôi. . . . Khi đức tin tiếp nhận và hấp thụ các nguyên tắc của lẽ thật, chúng trở thành một phần của bản thể và động lực của cuộc sống. Lời Chúa, khi được tiếp nhận vào tâm hồn, sẽ định hình những suy nghĩ và đi vào sự phát triển cá tính.”—Ellen G. White, The Desire of Ages, tr. 390, 391
“Không có quan điểm nào cần được suy gẫm nghiêm túc hơn, lặp lại thường xuyên hơn hoặc thiết lập vững chắc trong tâm trí của mọi người, hơn là ý tưởng rằng con người sa ngã không thể nào xứng đáng với bất cứ điều gì bởi những việc làm tốt nhất của chính mình. Sự cứu rỗi chỉ đến qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ mà thôi.”—Ellen G. White, Faith and Works, tr. 19.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: